Tiểu luận quá trình tổ chức thực hiện chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay - Pdf 42

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến động.
Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng không nhỏ
đến tình hình kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới trong đó có vấn
đề tiền lương. Và Việt Nam cũng không nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng đó.
Lịch sử phát triển nhân loại cho thấy không có một quốc gia nào khi thực
hiện các chính sách phát triển kinh tế mà lại không quan tâm đén vấn đề tiền
lương của người lao động. Tiền lương có vai trò quan trọng trong việc duy
trì và bảo đảm sự phát triển kinh tế một cách bền vững của các quốc gia.
Lý luận về tiền lương đã được các nhà kinh tế nghiên cứu từ rất lâu
bát đầu là W.Petty. Ông là người đầu tiên trong lich sử đặt nền móng cho lý
thuyết “ Luật sắt về tiền lương”.
Lý luận về tiền lương của Mác là sự tiếp tục phát triển lý luận về tiền
lương của các nhà kinh tế cổ điển trước đó. Mác đã vạch rõ bản chất của tiền
lương dưới chủ nghĩa tư bản đã bị che đậy – tiền lương là giá cả của lao
động. Những luận điểm về tiền lương của mác vẫn còn giá trị đến ngày nay.
Việt nam là một trong những quốc gia có nền kinh tế đang trên đà
phát triển với một nguồn nhân lực dồi dào là lợi thế lớn để phát triển kinh
tế.Trong những năm qua công cuộc đổi mới kinh tế ở nước ta đã đạt được
những thành tựu to lớn, đồng thời Đảng Và nhà nước ta còn rất quan tâm
đến các vấn đề xã hội. Tư tưởng chỉ đạo các chủ trương chính sách xã hội là
chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người với tư cách vừa là động
lực vừa là mục tiêu của cách mạng, trong đó có việc làm, công bằng xã hội,
nâng cao dân trí, lành mạnh hóa xã hội, chăm sóc sức khỏe và bồi dưỡng


2


nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tiểu luận đi sâu làm rõ lý luận và thực tiễn chính sách tiền lương ở
Việt Nam hiện nay thực trạng của quá trình tổ chức thực hiện chính sách
tiền lương ở Việt nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và khái quát quan niệm chung về tổ chức thực hiện
chính sách công, quá trình tổ chức thực hiện chính sách tiền lương ở Việt
Nam hiện nay.
- Làm rõ bối cảnh ra đời chính sách, đối tượng, mục tiêu của chính
sách tiền lương ở Việt nam hiện nay, thực trạng của quá trình tổ chức thực
hiện chính sách tiền lương ở Việt Nam hiện nay
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu quá trình tổ chức thực hiện chính
sách tiền lương ở Viên Nam hiên nay.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài không đi nghiên cứu toàn bộ lý thuyết hay chính sách tiền
lương ở các nước trên thế giới cũng như không đi nghiên cứu tình hình kinh


4

tế - xã hội ở Việt Nam mà chỉ nghiên cứu quá trình tổ chức thực hiện chính
sách tiền lương ở Việt Nam hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác- Lênin cụ thể là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Phương pháp riêng: Đề tài vận dụng tổng hợp các phương pháp hệ

xã hội và của nhân dân. Thực hiện chính sách là quá trình giải quyết những
nhu cầu đó, đem lại những biến đổi trên các lĩnh vực của đời sống xã hội,
nhằm phục vụ đời sống xã hội của nhân dân. Đó là chuỗi các hành động và
biện pháp cụ thể để thi hành một quyết định chính sách đã được thông qua
nói cách khác đây là quá trình kết hợp giữa yếu tố con người với các nguồn
lực vật chất nhằm sử dụng các nguồn lực này một cách có hiêụ quả theo
những mục tiêu đề ra. Vì vậy:


6

Thực hiện chính sách là giai đoạn biến các ý đồ chính sách thành
những kết quả thực tế thông qua hoạt đọng có tổ chức của cơ quan trong bộ
máy nhà nước, nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra.
1.1.2. Vị trí của giai đoạn thực hiện chính sách trong quy trình
chính sách công
Chính sách đưa ra là để giải quyết các vấn đề bức xúc trong cuộc sống
và việc thực hiện chính sách để hướng tới các mục tiêu. Do đó khi chính
sách được hoạch định tốt mà không đưa ra hoạt động trong thực tiễn thì
cũng không có ý nghĩa thực thi. Vì vậy thực hiện chính sách có ý nghĩa
quyết định đối với việc thành công hay thất bại của một chính sách.
Đây là giai đoạn có tầm quan trọng nó bao gồm cả công việc thuộc về
hoạch định và đánh giá chính sách bởi vì khi một chính sách từ khi hoạch
định đến khi tổ chức thực hiện trong thực tế nó sẽ có sự biến đổi để cho phù
hợp với từng đối tượng, từng điều kiện hoàn cảnh của địa phương, hơn nữa
trong quá trinh triển khai chính sách sẽ có nhiều vấn đề phát sinh mà chủ thể
hoạch định chính sách không thể biết trước được do đó sẽ dẫn đến việc sửa
đổi mục tiêu nội dung của chính sách thông qua đó thông tin đưa ra trong
quá trình triển khai chính sách sẽ được đánh giá và triển khai các bước sau
đó một cách cụ thể hơn.


NAM HIỆN NAY

1.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Việt Nam
Từ ngàn năm nay, Việt Nam là một nước nông nghiệp. Trước năm 1986,
Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế kế hoạch tương tự nền kinh tế của
các nước xã hội chủ nghĩa. Chính sách Đổi Mới năm 1986 thiết lập mô hình
kinh tế mà Việt Nam gọi là "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa". Các thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế then
chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước. Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam
đã có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế
trung bình khoảng 9% hàng năm từ 1993 đến 1997, đặc biệt là sau khi Hoa
Kỳ dỡ bỏ cấm vận với Việt Nam năm 1994. Tăng trưởng GDP 8,5% vào
năm 1997 đã giảm xuống 4% vào năm 1998 do ảnh hưởng của sự kiện
khủng hoảng kinh tế Á châu năm 1997, và tăng lên đến 4,8% năm 1999.


8

Tăng trưởng GDP tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 2000-2002 trong
khi tình hình kinh tế thế giới đang trì trệ. Hiện nay, giới lãnh đạo Việt Nam
tiếp tục các nỗ lực tự do hóa nền kinh tế và thi hành các chính sách cải cách,
xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết để đổi mới kinh tế và tạo ra các ngành công
nghiệp xuất khẩu có tính cạnh tranh hơn.
Mặc dù có tốc độ phát triển kinh tế cao trong một thời gian dài nhưng do
tình trạng tham nhũng không được cải thiện và luôn bị xếp hạng ở mức độ
cao của thế giới[27][28] cộng với các khó khăn về vốn, đào tạo lao động, đất
đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng gây ra cho việc kinh doanh với hàng
chục ngàn thủ tục từ 20 năm trước đang tồn tại và không phù hợp với nền
kinh tế thị trường nên với con số cam kết đầu tư trực tiếp của nước ngoài

Một là tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền lương phù hợp với thực tiễn
Việt Nam, chống bao cấp, giảm bớt bình quân, thực hiện tốt hơn nguyên tắc
phân phối theo lao động và theo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Từng bước tách rõ giữa hành chính với
hoạt động sự nghiệp dịch vụ công, nâng thêm mức lương trung bình và các
mức lương thấp; khuyến khích công chức phát triển chuyên môn, nghiệp vụ,
kiểm soát thu nhập ngoài lương để tiền lương trở thành thu nhập chính và cơ
bản đủ sống cho cán bộ, công chức; hình thành cơ chế sử dụng tất cả các
nguồn lực tài chính trong từng cơ quan, đơn vị và từng cấp ngân sách để trả
lương.


10

Hai là cải cách tiền lương và trợ cấp xã hội nhằm thực hiện tốt hơn
công bằng xã hội, tách rõ giữa chính sách tiền lương với chính sách bảo
hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công, từng bước thực hiện nguyên
tắc đóng và thưởng bảo hiểm xã hội, từng bước đảm bảo đời sống của người
có công bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của xã hội.
Về đối tượng:
Chính sách tiền lương là một trong những nội dung quan trọng của
thể chế kinh tế thị trường, để dần hoàn thiện hơn thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thì hơn lúc nào hết chính sách tiền
lương cần phải dần được hoàn thiện. muốn vậy chính sách phải hướng tới
đối tượng một cách rộng rãi, bao quát vì lương là chính là động lực của sự
phát triển.
Đối tượng của chính sách nói một cách bao quát là tất cả những người
cán bộ, công nhân viên chức, người lao động làm việc trong khu vực hành
chính nhà nước, những người trong các doanh nghiệp, trong khu vực dịch vụ
công.

HIỆN NAY

2.1.1. Nguồn lực thực hiện chính sách
Nguồn lực là những là những yếu tố tham gia vào quá trình thực hiên
chính sách, góp phần tạo nên những biến đổi cần thiết. Để bảo đảm thực
hiện chính sách, các nguồn lực của chính sách phải được huy động ở mức
hợp lý và phải đủ lớn đẻ hoạt động. Thông thường, các nguồn lực của chính
sách có thể tạo lập từ hai nguồn chính: Một là, nguồn lực từ các ngân hàng;
hai là, nguồn lực được huy động từ chính đối tượng chịu tác động của chính
sách. Nhìn chung các chính sách đều phải có các nguồn lực cơ bản: thứ
nhất, tổ chức: tổ chức là cơ cấu lập ra nhằm thực hiện một hoặc một số
nhiệm vụ hay chức vụ được hợp thức hóa, tổ chức có thể là cơ quan, một bộ,


13

một cấp chính quyền địa phương, một công ty…Hai là, nhân lực: trong điều
kiện toàn cầu hóa vốn con người quyết định trong lực lượng sản xuất.
Khi đề cập đến yếu tố con người cần thấy được vai trò của người thủ
lĩnh người lãnh đạo trong tổ chức, họ là những cá nhân hoặc tập thể vạch ra
đường lối. Tuy nhiên sự thành công trong chính sách phụ thuộc vào cơ cấu
của tổ chức và cách chọn người lãnh đạo cho tổ chức. Người lãnh đạo cho tổ
chức đòi hỏi phải có trình độ, năng lực phù hợp để làm tốt công việc được
giao. Ba là, kinh phí: đây cũng là một nguồn lực quan trọng có vai trò làm
tiền đề cho chính sách, đảm bảo cho chính sách được thực hiện một cách
hiệu quả. Ngoài ra còn các nguồn lực khác như, vật lực, thông tin, chúng
đóng vai trò không thể thiếu tong quá trình thực hiện chính sách.
Về chính sách tiền lương ở việt nam bao gồm các nguồn lực như
sau:
- Về tổ chức: Đầu tiên phải kể đến Chính phủ là cơ quan hoạch định

nghiệp về tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật công nhân; chức danh, tiêu chuẩn
chuyên môn, nghiệp vụ viên chức; định mức lao động; quy chế trả lương,
tiền thưởng; quy chế nâng bậc, nâng ngạch lương;
- Chấn chỉnh, củng cố bộ máy, viên chức làm công tác lao động, tiền
lương của doanh nghiệp để bảo đảm thực hiện đầy đủ các quy định của pháp
luật lao động
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng có
trách nhiệm:
- Hướng dẫn các doanh nghiệp thuộc quyền quản lý thực hiện các
chính sách, chế độ của Nhà nước về lao động, tiền lương, thu nhập;
- Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các chính sách, chế độ đối với
người lao động trong các doanh nghiệp thuộc quyền quản lý.


15

Mối quan hệ giữa cơ quan chủ chốt và cơ quan phối hợp của chính
sách tiền lương ở Việt Nam:
Đối với khu vục dịch vụ công nhà nước tập trung đù tư vào phát triển
cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội cơ bản, bảo đảm phát triển giáo dục, đào tạo
dạy nghề là “quốc sách hàng đầu” chăm sóc tốt sức khỏe nhân dân. Nhà
nước quy định các khoản thu lệ phí trên trên cơ sở từng bước tính đúng, tính
đủ phù hợp với từng hình đơn vị cung cấp dich vụ, quy định cơ chế ủy
quyền, đặt hàng hỗ trợ (nếu cần) cho các đơn vị cung cấp dịch vụ nhằm thúc
đẩy các đơn vị cung cấp dịch vụ nhằm thúc đẩy các đơn vị sự nghiệp công
phát triển lành mạnh, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công và tạo
nguồn, trả lương choi người lao động. Đồng thời, nhà nước ban hành chính
sách hỗ trợ đối với người nghèo, đối tượng chính sách xã hội, đồng bào dân
tộc thiểu số khi sử dụng dịch vụ. công chức khu vực hành chính nhà nước

2.3.1. Thành tựu đạt được trong tổ chức thực hiện chính sách
Từ năm 1985 đến nay, nước ta đã ba lần cải cách tiền lương (năm
1985, năm 1993 và năm 2004). Qua mỗi lần cải cách, nhiều nội dung của
chính sách tiền lương đã được hoàn thiện cả về lý luận lẫn thực tiễn. Việc tổ
chức thực hiện chính sách cũng có nhiều thành tựu đáng kể.
- Về việc lựa chọn cơ quan chủ chốt cũng như cơ quan phối hợp thực
hiện tương đối hợp lý, các bước triển khai đúng trình tự, sử dụng nguồn lực
một cách hiệu quả và hợp lý, khai thác và huy động tối đa mọi nguồn lực
cho việc thực hiện chính sách.
- Việc bảo đảm kinh phí thực hiện cải cách tiền lương của các bộ, cơ
quan Trung ương và các địa phương đã theo hướng chủ động tích cực và kịp


17

thời hơn; các cơ quan, đơn vị chi trả tiền lương mới tăng thêm cho người lao
động theo đúng chế độ quy định.
- Về cơ bản các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương đã thực hiện
nghiêm cơ chế dành nguồn thực hiện cải cách tiền lương: thực hiện tiết kiệm
10% dự toán chi thường xuyên (trừ tiền lương và các khoản có tính chất
lương); sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ của các đơn vị
sự nghiệp có thu, riêng ngành y tế là 35% (sau khi trừ chi phí thuốc, máu,
dịch truyền, hóa chất, vật tư tiêu hao); sử dụng 50% tăng thu ngân sách địa
phương để thực hiện cải cách tiền lương. Trên cơ sở đó đã có một số bộ,
ngành, cơ quan Trung ương và địa phương tự đảm bảo được nguồn thực hiện
điều chỉnh tiền lương tối thiểu, ngân sách trung ương không phải bổ sung.
- Việc triển khai cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên
chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước; cơ chế tự
chủ tự chịu trách nhiệm về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên
chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập đã được đẩy mạnh và

mới cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính của khu vực sự nghiệp công lập
phải được thực hiện theo hướng đơn vị sự nghiệp được thu phí (giá) dịch vụ
tính đủ tiền lương và từng bước tính đủ các chi phí khác. Tuy nhiên, đến nay
mới chỉ có Đề án đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục – đào tạo
đã được Quốc hội thông qua; nhưng Đề án này cũng không đạt mục tiêu đã
đề ra, thu học phí vẫn được tính ở mức tương đối thấp chưa theo nguyên tắc
tính đủ tiền lương và từng bước tính đủ các chi phí khác. Đề án đổi mới cơ
chế tài chính, tiền lương đối với các đơn vị sự nghiệp y tế đã được Bộ Chính


19

trị thông qua nhưng chưa được thể chế hóa thành các văn bản quy phạm
pháp luật để triển khai thực hiện. Các đề án đối với những lĩnh vực dịch vụ
sự nghiệp công khác như khoa học, văn hóa… vẫn đang trong quá trình xây
dựng và chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Việc chậm triển khai đổi
mới cơ chế tài chính đối với hoạt động sự nghiệp công đã làm giảm đáng kể
khả năng huy động nguồn thu sự nghiệp cho thực hiện cải cách tiền lương,
đồng thời gây áp lực tăng chi từ nguồn NSNN.
- Cân đối NSNN trong vài năm trở lại đây đã trở nên ngày càng khó
khăn bởi các lý do sau:
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế không đạt dự kiến; ảnh hưởng lớn đến
thu cân đối NSNN: Khi xây dựng lộ trình điều chỉnh mức lương tối thiểu dự
kiến tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) 8,5-9%/năm; tuy nhiên năm 2008
tăng trưởng GDP chỉ đạt 6,2%, năm 2009 đạt 5,3%, năm 2010 tăng trưởng
6,78 %, năm 2011 là 5,89%, dự kiến năm 2012 là 5,8%-6%, các năm sau tốc
độ tăng trưởng có thể ở mức cao hơn nhưng phải cần một vài năm mới có
thể lấy lại tốc độ tăng trưởng cao như dự kiến. Do nguồn thu NSNN phụ
thuộc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế nên khi kinh tế khó khăn, thì thu NSNN
không thể tăng nhanh. Bên cạnh đó, hiện nay còn phát sinh thêm nhiều yếu

tăng nhanh, cùng với yêu cầu phải bố trí dự toán để thu hồi vốn ứng trước là
rất căng thẳng, dẫn đến việc dành nguồn cải cách tiền lương khó hơn. Các
nguồn lực từ tiết kiệm chi thường xuyên, sử dụng tăng thu NSNN hàng năm
cũng không có điều kiện tăng nhanh như thời gian đầu. Đã có tình trạng một
số đơn vị sau một vài năm tự đảm bảo nguồn thực hiện điều chỉnh mức
lương tối thiểu, nay đã phải bổ sung từ ngân sách.


21

2.4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu tổ chức thực hiện chính
sách tiền lương ở Việt Nam hiện nay
Tạo nguồn lực đảm bảo thực hiện chính sách tiền lương:
- Đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, đảm bảo tăng trưởng kinh tế, nâng
cao thu nhập xã hội và tăng thu NSNN, dành một phần hợp lý số tăng thu
cho cải cách tiền lương: Mục tiêu của giải pháp này là tạo mọi điều kiện để
sản xuất kinh doanh phát triển, đạt tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm từ 7%
- 8%, trên cơ sở đó bảo đảm nguồn lực động viên tài chính; đảm bảo tỷ lệ
huy động vào NSNN bình quân hàng năm từ 21% đến 23% GDP, trong đó
thuế, phí, lệ phí khoảng 18% đến 19% GDP. Thực hiện được các mục tiêu
này thì tổng thu NSNN hằng năm dự kiến tăng khoảng từ 8,5 đến 10%/năm
trên cơ sở đó dành một tỉ lệ hợp lý từ số tăng NSNN (Trung ương – địa
phương) hàng năm cho cải cách tiền lương.
- Cơ cấu lại chi NSNN và tăng cường quản lý tiết kiệm chi NSNN:
Mục tiêu của giải pháp này là hướng tới việc bố trí chi hợp lý tiết kiệm hơn
để có nguồn cho cải cách tiền lương.
+ Về cơ cấu lại chi NSNN: Tính toán lại nhu cầu chi đầu tư phát triển
từ NSNN, kết hợp với khả năng huy động các nguồn khác để vừa đảm bảo
tổng mức đầu tư toàn xã hội (trên dưới 40% GDP để đảm bảo tăng trưởng
kinh tế) vừa đưa mức đầu tư từ NSNN về mức khoảng 18-20% (nếu tính cả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status