Lớp từ vựng chính trị xã hội vay mượn mới trong tiếng nga và các phương thức chuyển dịch sang tiếng việt (tóm tắt trích đoạn) - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI
***

ĐOÀN THỊ BÍCH NGÀ

TỪ VAY MƢỢN MỚI
TRONG LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI CỦA TIẾNG NGA
VÀ CÁC PHƢƠNG THỨC CHUYỂN DỊCH SANG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Nga
Mã số: 62.22.02.02

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Hà Nội – 2017
1


Công trình được hoàn thành tại trường Đại học Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học
1. TS. Lê Văn Nhân
2. PGS. TS. Vũ Ngọc Vinh

Phản biện 1: ................................................
................................................
Phản biện 2: ................................................
................................................
Phản biện 3: ................................................
................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp trường

hiện trong nhiều lĩnh vực lĩnh vực xã hội khác nhau: chính trị, kinh tế, thông tin, đời sống.
Cần nhấn mạnh rằng hoạt động của từ vay mượn trong tiếng Nga cuối thế kỷ XX – đầu
thế kỷ XXI cho thấy từ vay mượn được sử dụng ngày càng nhiều trong lĩnh vực chính trịxã hội. Những biến động chính trị-xã hội, trong đó có sự thay đổi tích cực hệ thống luật
pháp nhà nước Nga tất yếu kéo theo sự biến đổi trong lớp từ vựng chính trị.
Dù có nhiều công trình nghiên cứu từ vay mượn nhưng nhiều khía cạnh của vấn
đề, đặc biệt là đặc điểm chuyển dịch các từ vay mượn từ một ngôn ngữ này sang ngôn
ngữ khác hiện vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Trong thực tế chuyển dịch văn bản từ
tiếng Nga sang tiếng Việt khó khăn nhất là việc hiểu nghĩa và chuyển dịch các từ được
gọi là “từ vay mượn chưa được đồng hóa” gồm dị ngữ và từ ngoại nguyên dạng.
Công trình này là một nghiên cứu về ngôn ngữ và dịch thuật, phân tích ngữ nghĩa
của từ vay mượn trong lĩnh vực chính trị-xã hội của tiếng Nga và tìm ra các đặc điểm
chuyển dịch các đơn vị này sang tiếng Việt.
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu. Từ vay mượn mới trong bất kì một ngôn
ngữ nào luôn đòi hỏi phải có những nghiên cứu mới. Cần nêu bật đặc điểm hoạt động của
các đơn vị này trong giai đoạn mới gắn liền với những thay đổi trong đời sống chính trịxã hội của đất nước.
Đề tài nghiên cứu này rất cấp thiết do từ vay mượn trong tiếng Nga chưa được
nghiên cứu đầy đủ ở khía cạnh chuyển dịch sang các ngôn ngữ khác, do khó khăn khi
chuyển dịch và ít kinh nghiệm dịch từ vay mượn, đặc biệt là các từ chưa được đồng hóa,
khó hiểu. Việc xem xét các phương thức chuyển dịch từ vay mượn có thể mang lại những
kết quả thú vị cho lý thuyết và thực hành dịch.
Khách thể nghiên cứu là lớp từ vựng chính trị-xã hội vay mượn mới trong tiếng
Nga.
4


Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là hoạt động của lớp từ vựng chính trị-xã hội
vay mượn mới trong tiếng Nga và nghiên cứu những tương ứng dịch thuật quy định các
phương thức chuyển dịch lớp từ này sang tiếng Việt.
Điểm mới của đề tài nghiên cứu chính là lựa chọn đối tượng nghiên cứu, thế hiện
ở việc lần đầu tiên luận án nghiên cứu phương thức chuyển dịch sang tiếng Việt các từ

giảng về vấn đề từ vay mượn tại các trường đại học chuyên ngữ.
Tài liệu nghiên cứu là những thông báo, bài phát biểu bằng tiếng Nga và bản dịch
các tác phẩm này sang tiếng Việt; từ điển từ nước ngoài, từ điển tường giải tiếng Nga và
từ điển Nga-Việt. Tài liệu xem xét chính là ngôn ngữ trong các ấn bản báo chí Nga-Việt
hiện nay và các trang web trên Internet..
Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu
như tổng hợp các tài liệu lý thuyết, mô tả đơn vị nghiên cứu theo cấu trúc hệ thống,
phương pháp đối chiếu, tường giải và phân tích từ vựng, phương pháp thống kê và nghiên
cứu theo ngữ cảnh.
Các luận điểm đƣa ra bảo vệ
1. Đặc điểm của quá trình vay mượn từ vựng trong tiếng Nga cuối thế kỉ XX – đầu
thế kỉ XXI là vay mượn nhiều từ gốc Anh, sử dụng nhiều từ ngoại nguyên dạng và cụm từ
phân tích tính.
2. Trong điều kiện chính trị có nhiều biến động và xã hội Nga hướng ra cộng đồng
quốc tế thì lớp từ vựng chính trị xã hội cũng có nhiều thay đổi về ngữ nghĩa: mở rộng
nghĩa, thu hẹp nghĩa và chuyển hướng định danh. Các từ mang nghĩa ẩn dụ chỉ các thực
thể chính trị-xã hội hiện nay được sử dụng nhiều hơn trên các phương tiện thông tin đại
chúng của Nga.
3. Khi xác định phương thức chuyển dịch từ vay mượn trong tiếng Nga, đặc biệt là
các từ chưa được đồng hóa (dị ngữ và từ ngoại nguyên dạng) người dịch cần chú ý đến
đặc điểm của quá trình Việt hóa từ vay mượn và cách sử dụng các từ này trong tiếng Việt,
vốn là ngôn ngữ, khác với tiếng Nga, có xu hướng sử dụng các cụm từ giải nghĩa để mô tả
các khái niệm mà từ nước ngoài biểu thị.

6


4. Một từ vay mượn trong tiếng Nga có thể có nhiều từ tương ứng trong tiếng Việt
(các phương án khác nhau về ngữ nghĩa và văn phong), điều này tạo nên sự lựa chọn đa

tiếng Việt, phân tích phương thức chuyển dịch từ vay mượn đã được đồng hóa trên cơ sở
các văn bản đã dịch và phân tích phương thức chuyển dịch từ vay mượn chưa được đồng
hóa trên cơ sở tìm kiếm đơn vị tương ứng trong hai ngôn ngữ.
Phần Kết luận đưa ra tổng kết và kết quả chính trong nghiên cứu này.
Nội dung chính của luận án
CHƢƠNG I
LỚP TỪ VAY MƢỢN TRONG TIẾNG NGA VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM
HÀNH CHỨC CỦA LỚP TỪ NÀY TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
I. Khái niệm vay mƣợn và lớp từ vay mƣợn trong tài liệu ngôn ngữ
1. Định nghĩa khái niệm “vay mƣợn”
Trong các từ điển tường giải, khái niệm “vay mượn” (заимствование) thuờng
được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, đó là quá trình chuyển các đơn vị ngôn ngữ từ ngôn
ngữ này sang ngôn ngữ khác do các dân tộc bản ngữ có sự giao lưu về mọi mặt; thứ hai,
đó là kết quả của quá trình nói trên, có nghĩa là chính các từ được chuyển từ ngôn ngữ này
sang ngôn ngữ khác. Nguyên nhân vay mượn có thể là nguyên nhân bên ngoài (phi ngôn
ngữ) hoặc nguyên nhân nội tại (ngôn ngữ).
Thuật ngữ “lớp từ vay mượn” được sử dụng đối lập với thuật ngữ “từ thuần Nga”
trong nhiều tài liệu mô tả đầy đủ tiếng Nga phổ thông hiện đại (Shmelev, 1977), (Lekant
và các tác giả khác, 1982), (Dibrova, 2001), (Rozental và các tác giả khác, 2003). Các tác
giả nêu trên chia từ vựng tiếng Nga thành hai loại theo nguồn gốc của từ: từ thuần Nga và
từ vay mượn, đồng thời đưa vào nhóm từ vay mượn tất cả các từ có gốc nước ngoài bao
gồm cả từ đã được đồng hóa và chưa được đồng hóa (dị ngữ và từ ngoại nguyên dạng).
2. Phân loại từ vay mƣợn trong tiếng Nga theo nguồn gốc
2.1. Từ vay mƣợn từ các ngôn ngữ Xla-vơ
- Từ vay mượn từ tiếng Xla-vơ cổ: одежда, надежда, между, воспеть,
изгнание, ниспослать, чрезвычайный, преступить, предсказать...
- Từ vay mượn từ tiếng Ba Lan: каникулы, комедия, пенсия, фамилия...
- Từ vay mượn từ tiếng Ucraina: борщ, детвора, хлопцы, девчата, бублик...
8


âm; 2) đồng hóa về chữ viết; 3) đồng hóa về ngữ pháp; 4) đồng hóa về ngữ nghĩa. Dấu
hiệu rõ ràng nhất của từ vay mượn được đồng hóa hoàn toàn là khả năng từ pháp tích cực,
sự tham gia vào các quá trình cấu tạo, đặc biệt là quá trình sản sinh từ vựng.
9


II. Đặc điểm hành chức của từ vay mƣợn trong tiếng Nga cuối thế kỉ XX –
đầu thế kỉ XXI
Luận án phân tích một số đặc điểm hành chức của từ vay mượn trong tiếng Nga
giai đoạn từ những năm 90 của thế kỉ trước đến nay.
1. Tiếng Anh chiếm ƣu thế với tƣ cách là ngôn ngữ cho
Điều kiện chính trị-xã hội ở Nga cuối thế kỉ XX trở nên vô cùng thuận lợi cho việc
giao lưu với các nước khác đặc biệt là Anh và Mỹ, khiến xã hội quan tâm nhiều hơn tới
các nước này, từ vay mượn từ tiếng Anh xuất hiện ngày càng nhiều. Dưới đây là các ví dụ
từ vay mượn từ tiếng Anh/Anh-Mỹ trong tiếng Nga:
-

lĩnh vực chính trị và ngoại giao: спичрайтер,

брифинг, праймериз,

холдинг...;
-

lĩnh vực kinh tế và tài chính: маркетинг, лизинг, ретейл, оффшоры...

-

thực phẩm: фишбургер, барбекю, chocopie, поп-корн...;



Một trong những đặc điểm sử dụng từ ngoại lai trên các phương tiện thông tin đại
chúng hiện nay của Nga là “sử dụng từ ngoại lai một cách vô cớ, thường không nhằm
mục đích định danh hay làm rõ nghĩa của các khái niệm sẵn có, mà nhằm quảng cáo, gây
tác động mạnh đến độc giả hoặc thính giả” (Petrova, Ratsiburskaia, 2011, tr.96). Từ ngoại
nguyên dạng với hình thức “dị biệt” thường được sử dụng trong các tiêu đề báo, không
nhằm mục đích thể hiện những khái niệm mới đối với nước Nga mà nhằm thu hút sự chú
ý của đông đảo độc giả. Những dạng thức này thường xuyên xuất hiện trên các phương
tiện thông tin đại chúng hiện nay của Nga: «Хелп ми, доктор! Как получать
медпомощь в чужих краях» (АиФ, 25-31 июля, 2012), «Man’s formula: отпуск без
осечек» (АиФ, 25-31 июля, 2012), «Пора выйти из офшора» (АиФ, 21-27 декабря,
2011), «Губин-Live. Смерть Жанны Фриске: мы бессильны перед раком?»
(Комсомольская правда, 19 июня 2015 г.)
4. Gia tăng các dạng thức phân tích tính với các yếu tố ngoại lai
Tiếng Nga là một trong những ngôn ngữ tổng hợp tính với đặc trưng là những dạng
thức tổng hợp tính. Tuy nhiên, cùng với quá trình vay mượn các đơn vị ngôn ngữ ở nhiều
cấp độ mà tiếng Nga ngày càng xuất hiện nhiều những dạng thức phân tích tính có nguồn
gốc nước ngoài. Theo mức độ đồng hóa và sự khác biệt về cấu trúc, loại hình của các
thành tố, Gabdreeva N.V. chia ra 3 dạng thức phân tích tính chủ yếu như sau:
-

những dạng thức trong đó cả hai thành tố đều không được đồng hóa: нордстрим, скрин-шот, старт-бай, бейби-ситтер...;

-

những dạng thức trong đó cả hai thành tố đã được đồng hóa và hoạt động như
những từ độc lập: холдинг-центр, запчасть-люкс, визит-эффект, кофебар...;

-


LỚP TỪ VỰNG CHÍNH TRỊ XÃ HỘI VAY MƢỢN MỚI TRONG TIẾNG NGA
I. Những khái niệm chung về lớp từ vựng chính trị-xã hội
1. Lịch sử nghiên cứu lớp từ vựng chính trị-xã hội
Nhìn vào lịch sử nghiên cứu lớp từ vựng chính trị-xã hội trong tiếng Nga thì có thể
chia thành 3 giai đoạn chính.
Giai đoạn thứ nhất vào những năm 20-30 của thế kỉ XX, là thời kì hậu cách mạng
được đánh dấu bằng công trình của một số nhà ngôn ngữ như: A.M. Selishchev (1928),

12


P.IA. Chernykh (1929). Những nhà nghiên cứu này tập trung nghiên cứu những thay đổi
trong tiếng Nga giai đoạn sau Cách mạng tháng Mười năm 1917.
Giai đoạn thứ hai (từ những năm 50 cho đến cuối thế kỉ XX) gắn liền với sự xuất
hiện của chính thuật ngữ “lớp từ vựng chính trị-xã hội” và các công trình phân tích lớp từ
vựng này dưới góc độ văn phong và ngôn ngữ xã hội học. Trong số các nhà ngôn ngữ
nghiên cứu lớp từ này dưới góc độ ngữ nghĩa-lịch sử và văn phong-ngữ nghĩa có V.V.
Vinagradov, IU.S. Sorokin, D.N. Shmeleva, T.B. Kriuchkov, E. Sheigal.
Gần đây có đưa ra thêm một giai đoạn nữa – giai đoạn cuối thế kỉ XX – đầu thế kỉ
XXI. Quá trình cải cách tích cực hệ thống hành chính-pháp luật, kinh tế-xã hội và các hệ
thống khác tại Nga đã kéo theo những thay đổi đáng kể ở nhiều cấp độ trong tiếng Nga,
liên quan trước hết đến lớp từ vựng chính trị-xã hội. Trong tài liệu ngôn ngữ học Nga hiện
nay có các công trình nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa-hành chức và những đặc điểm
chính trong cơ chế phát triển và hình thành nghĩa mới của các đơn vị từ vựng trong lớp từ
vựng chính trị-xã hội giai đoạn hiện nay [Kurasova (2006), Rudenko (2012), Vorobeva
(2008)]
2. Định nghĩa “lớp từ vựng chính trị-xã hội”
Trong các tài liệu ngôn ngữ học có nhiều định nghĩa khác nhau về lớp từ vựng
chính trị-xã hội, những quan điểm này có thể được nhóm thành “cách hiểu rộng” và “cách
hiểu hẹp” về lớp từ vựng chính trị-xã hội. Những nhà nghiên cứu theo “cách hiểu hẹp”

Chủ đề này gồm các đơn vị từ vựng chỉ các đảng, phái, tổ chức, phong trào chính
trị-xã hội, các trào lưu tư tưởng và thành viên của các tổ chức, phong trào này: анархизм
(анархисты), аболиционизм (аболиционизмы)...; nhóm các chủ thể trong quan hệ chính
trị: блок, клика, коалиция, организация...; hoạt động của các tổ chức và cá nhân; hoạt
động, hành động chính trị: демагогия, депортация, диверсия, дискредитация,
репатриация, капитуляция...; thuật ngữ bầu cử: выборы, кооптация...; các loại văn
kiện: меморандум, ультиматум, конвенция, мандат, нота...; thuật ngữ pháp luật sử
dụng trong diễn ngôn chính trị-xã hội: конституция, инкорпорация, преамбула...; sự
vật, hiện tượng trong lĩnh vực quốc phòng, quân đội, quân sự: капитуляция, карабинер,
легион...
3.3. Xã hội
Chủ đề này gồm các từ chỉ các vấn đề và vấn nạn xã hội: кризис, революция,
коррупция, эксплуатация, пиратство, стагнация...; thuật ngữ kinh tế sử dụng trong
14


diễn ngôn chính trị-xã hội: санация, девальвация, монополия, автаркия, маркетинг,
бизнес, аутсайдер, эмбарго, картель..; các phong trào chính trị-tôn giáo, các học
thuyết tôn giáo: масонство, экуменизм, мессиагизм...
4. Các giai đoạn xuất hiện từ vay mƣợn chủ đề chính trị-xã hội trong tiếng
Nga
Giai đoạn thứ nhất khi từ vay mượn vào tiếng Nga là thời Pi-ôt Đại đế; giai đoạn
thứ hai vào cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX khi chủ nghĩa tư bản và các phong trào cách
mạng phát triển; giai đoạn ba bắt đầu từ cuối thế kỉ XX, đánh dấu sự ảnh hưởng lớn của
các từ vay mượn gốc Anh.
Thời Pi-ôt Đai đế lớp từ vựng chính trị-xã hội chủ yếu được bổ sung bằng các từ
vay mượn từ tiếng Đức, tiếng La-tinh và một phần là từ tiếng Pháp, liên quan đến khía
cạnh những mối quan hệ xã hội như: администратор, губернатор, инспектор,
камергер, канцлер, министр, полицеймейстер, президент ...
Tiếng Nga có những biến đổi rất lớn trong thời kì được gọi là “thời kì cách mạng”

hội
Như đã nhấn mạnh, trong những năm gần đây tiếng Nga liên tục vay mượn từ mới,
chủ yếu là từ tiếng Anh để biểu thị những sự vật, hiện tượng hoàn toàn mới trong đời
sống chính trị nước Nga do tổ chức nhà nước và tình hình chính trị có nhiều thay đổi.
Chúng tôi chỉ hạn chế ở một số ví dụ từ ngoại lai chủ đề chính trị-xã hội xuất hiện trong
giai đoạn này đồng thời chỉ ra nguồn gốc của từ: имиджмейкер, пресс-релиз, брифинг,
имплоймент, ньюсмейкер, Сити-менеджер ...
2. Sử dụng lại các từ vay mƣợn “cũ”
Nhiều từ vay mượn trong giai đoạn trước được sử dụng lại trong giai đoạn hiện
nay, những từ này bị biến đổi về nghĩa do những sự biến đổi trong đời sống xã hội. Khái
niệm sử dụng lại được hiểu là quá trình biến đổi nghĩa của từ ngày càng nhiều, trong đó
luận án này xem xét hai quá trình: thu hẹp nghĩa và chuyển hướng định danh từ vay mượn
Thu hẹp cấu trúc ngữ nghĩa của một từ đa nghĩa trong lớp từ vựng chính trị-xã hội
liên quan trực tiếp đến sự chuyển đổi nghĩa tư tưởng của nhiều đơn vị từ vựng, cụ thể là
các từ này mất đi ý nghĩa liên quan đến hệ tư tưởng cộng sản. Chuyển hướng định danh
diễn ra khi từ vay mượn ban đầu chỉ các hiện tượng trong đời sống các nước khác đã thay
đổi nghĩa biểu vật và bắt đầu được sử dụng để chỉ các hiện tượng trong đời sống hiện thực
của Nga. So sánh định nghĩa từ “мэр” trong các từ điển khác nhau: “мэр” – “người đứng
đầu một quận tại các nước khác” (Đại từ điển hàn lâm Nga (БАС), tập 6, trang 1436);
“người đứng đầu chính quyền thành phố” (Từ điển chính trị giản yếu – Краткий словарь
политического языка, 2002, trang 158).
3. Các từ mới về nghĩa chủ đề chính trị xã hội cấu tạo bằng cách chuyển nghĩa
ẩn dụ
Các tài liệu ngôn ngữ học định nghĩa ẩn dụ “là cách chuyển đổi của một sự vật này
sang một sự vật khác trên cơ sở những điểm tương đồng giữa hai sự vật đó” (Rozental và
các tác giả khác, 2003, trang 26). Chúng ta thường gặp hình ảnh ẩn dụ liên quan đến
những sự vật hiện tượng trong đời sống chính trị-xã hội. Theo đề tài nghiên cứu luận án
nêu ra những miền nguồn trong ẩn dụ chính trị với miền đích là khái niệm CHÍNH TRỊ
16


vật, hiện tượng của đời sống chính trị-xã hội: прайвеси, блэк пейпер, грин-кард,
17


бразилификация, газават, герао, шура...; dị ngữ là từ chỉ các dân tộc: игбо, йоруба,
ибибио, тив... và các nhóm khác.
5. Từ ngoại nguyên dạng trong diễn ngôn chính trị-xã hội
Từ ngoại nguyên dạng là các từ trong một ngôn ngữ sử dụng trong môi trường
ngôn ngữ khác. Một số dạng thức giữ nguyên hình thức ngôn ngữ và được viết bằng ngôn
ngữ gốc. Ví dụ như:
- Как уверяет информационная испанская газета El Pais, происходит это из-за
того, что Мадрид «не хочет враждовать ни с Россией, ни с Китаем» (Аргументы
недели, 25.06.2015)
- Впрочем, руководствоваться Realpolitik нужно не только американцам.
Российская власть должна понимать, что никакие форумы не заменят реформы
(Московский комсомолец, 19.06.2015)
Trong văn bản chính trị-xã hội các từ nguyên dạng bằng chữ cái La-tinh hoặc viết
tắt chữ cái đầu thường là tên gọi các loại vũ khí: «Цзянь-11В» (J-11B, «Цзянь-10» (J10)...; tên các tổ chức, cơ quan (thường là dạng viết tắt): USAID; tên các đảng chính trị:
ADEMA –PASJ, URD, CNID, MPR; tên các chương trình phát triển kinh tế xã hội: GEAR
(Growth, Employment and Redistribution), Motor Industry Development Programme
(MIDP).
Tiểu kết chƣơng II
Như vậy lớp từ vựng chính trị-xã hội tiếng Nga phát triển ở các giai đoạn khác
nhau trong bối cảnh đời sống chính trị có nhiều biến động. Trong khuôn khổ luận án này
lớp từ vựng chính trị-xã hội được hiểu là những đơn vị từ vựng có những nghĩa tố như
“nhà nước”, “chính trị” và “xã hội”, biểu thị những thực thể khác nhau trong đời sống
chính trị-xã hội. Luận án không có tham vọng bao quát hết tất cả các đơn vị trong lớp từ
này mà chỉ phân loại các đơn vị theo chủ đề, theo cách phân loại này tập trung nghiên cứu
3 nhóm chủ đề và các phân nhóm nhỏ nhất định.
Chương này tập trung nghiên cứu đặc điểm hành chức của từ vay mượn trong lớp

tôi công nhận rằng dịch giả sẽ gặp khó khăn hơn khi trong văn bản gốc có những từ
không tương đương.
3. Các vấn đề cấp thiết khi chuyển dịch từ vay mƣợn
Khi xem xét từ vay mượn trong tiếng Nga dưới góc độ chuyển dịch sang tiếng Việt
không thể không chú ý đến mức độ Nga hóa các từ này, bởi chính yếu tố này đảm bảo
người dịch hiểu đúng được nội dung văn bản tiếng Nga (văn bản gốc). Tính đến những
khó khăn khi hiểu nghĩa từ vay mượn, đặc biệt là những từ chưa được đồng hóa luận án
quy ước chia các phương thức chuyển dịch thành: phương thức chuyển dịch từ vay mượn
19


được đồng hóa và phương thức chuyển dịch từ vay mượn chưa được đồng hóa (dị ngữ và
từ ngoại nguyên dạng). Luận án xem xét cụ thể những phương thức được sử dụng nhiều
nhất khi chuyển dịch lớp từ vựng chính trị-xã hội vay mượn mới sang tiếng Việt trên cơ
sở phân tích các bản dịch Nga-Việt đã công bố và phân tích đối chiếu các đơn vị tương
ứng trong ngữ nguồn (tiếng Nga) và ngữ đích (tiếng Việt).
II. Các phƣơng thức chuyển dịch sang tiếng Việt từ vay mƣợn trong tiếng Nga
1. Chuyển dịch từ vay mƣợn đƣợc Nga hóa
1.1. Vấn đề hiểu nghĩa từ vay mƣợn chủ đề chính trị-xã hội trong tiếng Nga
Từ vựng chính trị-xã hội tiếng Nga có không ít từ vay mượn từ các ngôn ngữ khác
trong các giai đoạn phát triển của ngôn ngữ này. Phần lớn trong đó là các từ được Nga
hóa hoàn toàn, không coi là từ vay mượn, được đưa vào các từ điển tường giải tiếng Nga
và cấu tạo các từ phái sinh: депутат, диктатор, диссидент, анклав, буржуазия,
бойкот.... Các từ được Nga hóa một phần là những từ vay mượn mới nhất trong tiếng
Nga trong một thập kỉ qua và không phải khi nào cũng được đưa vào từ điển, phần lớn là
từ tiếng Anh: гострайтер, ньюсмейкер, секьюрити.... Cần nhấn mạnh rằng quá trình
Nga hóa những từ vay mượn mới nhất diễn ra nhanh hơn nhiều so với từ vay mượn giai
đoạn trước. Dù mới được Nga hóa một phần nhưng những từ này thâm nhập vào ngôn
ngữ rất nhanh, được đưa vào các từ điển tường giải tiếng Nga và từ điển song ngữ (trong
trường hợp này là từ điển Nga-Việt) giúp dịch giả dễ hiểu nghĩa của từ.

phương án tương ứng khác nhau cả về ngữ nghĩa và văn phong trong tiếng Việt: “bí thư,
thư kí, lục sự”. Một trường hợp thú vị là chuyển dịch từ департамент (отдел
министерства или какого-л. иного правительственного учреждения, центрального
или местного, например, мэрии), từ này có nhiều từ tương ứng trong tiếng Việt như vụ,
nha, cục, sở, bộ.
1.2.1.3. Dịch tương đương các từ vay mượn mang nghĩa ẩn dụ trong diễn ngôn
chính trị
Dịch tương đương các từ vay mượn mang nghĩa ẩn dụ trong diễn ngôn chính trị
thuộc nhóm ẩn dụ được dịch bằng cách giữ nguyên hình ảnh. Điều này là do thành phần
nghĩa của từ trong ngữ gốc và ngữ đích có sự tương đồng. Ví dụ rõ nét nhất là dịch từ
сценарий sang tiếng Việt thành kịch bản. Ví dụ:
21


- Следуя этому сценарию, мы не добьѐмся необходимого прогресса в
повышении качества жизни российских граждан. (Путин. О стратегии развития
России до 2020 года)
→ Theo kịch bản này, chúng ta không thể đạt được sự tiến bộ cần thiết trong việc
nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Nga. (Putin. Về chiến lược phát triển nước
Nga đến năm 2020. Lê Thế Mẫu dịch)
1.2.2. Dịch theo văn cảnh
Nhiều trường hợp dịch giả không thể sử dụng các phương án tương ứng đưa ra
trong từ điển mà phải chọn từ tương đương trong văn cảnh truyền đạt rõ nét nhất ý nghĩa
của từ trong văn cảnh, khác với nghĩa từ điển. Ví dụ:
- «В России в полном объеме должна быть сформирована система
социальной мобильности, социальных лифтов, соответствующая современному
обществу. (Путин. Россия и меняющийся мир»
→ «Ở Nga hiện nay cần phải xây dựng một hệ thống động viên xã hội đầy đủ, các
yếu tố làm tăng trưởng xã hội phù hợp với một xã hội hiện đại (Putin. Nước Nga và thế
giới đang thay đổi. Lê Thế Mẫu dịch).

Trong một số trường hợp có đưa ra các ví dụ lấy từ các văn bản đã được chuyển dịch từ
tiếng Nga sang tiếng Việt.
Khi phân tích phương án tương ứng của tiếng Việt cho các đơn vị dị ngữ trong
tiếng Nga chúng tôi thấy có những trường hợp tiêu biểu sau:
- Trường hợp 1: từ tương ứng trong tiếng Việt có dạng thức ―từ tiếng Anh dùng nguyên
dạng‖
Экзотизмы
Соответствия
в русском языке
во вьетнамском языке
Их цели – упрочение исламского режима (Ayatollah Ali Sistani (một trong những tăng
и
принципа«велайат-е-факих», lữ dòng Shiite có tiếng nói nhất ở Iraq) đã
совершенствование
иранской phản đối nguyên tắc velayat-e-faqih (quy định
экономической модели в рамках 20- của giới tăng lữ)...
летнего плана развития экономики...
(http://vnn.vietnamnet.vn/thegioi/binhluan/
(Азия и Африка сегодня, 11-2012)
2009/08/861664/)
Phương án chuyển dịch sang tiếng Việt được đề xuất:
sử dụng từ tiếng Anh

23


Có nhiều trường hợp từ tiếng Anh được sử dụng cùng từ tiếng Việt giải thích phần
nào nội dung của dị ngữ. Ví dụ, từ шариат có các phương án tương ứng trong tiếng Việt
là luật Hồi giáo Sharia, luật Sharia или giáo luật Sharia.
- Trường hợp 2: từ tương ứng trong tiếng Việt là cụm từ miêu tả

tương ứng trong tiếng Việt (có thể là từ tiếng Anh hoặc cụm từ miêu tả trong tiếng Việt).
Bên cạnh đó những dạng thức này thường xuất hiện trong cùng một văn bản tiếng Việt,
trong đó một dạng thức được dùng trong ngoặc đơn để giải nghĩa dị ngữ. Cùng so sánh:
Лойя-джирга - Hội đồng Trưởng lão (Loya Jirga), Loya Jirga (Đại hội Các bộ tộc của
Afghanistan), Đại hội đồng các bộ tộc Afghanistan (còn gọi là Loya Jirga).
2.3. Chuyển dịch từ ngoại nguyên dạng trong tiếng Nga
2.3.1. Hiểu nghĩa từ ngoại nguyên dạng
Thông thường việc hiểu từ ngoại nguyên dạng phụ thuộc nhiều vào yếu tố có hay
không những thông tin giải thích trong văn cảnh. Không khó để hiểu từ ngoại nguyên
dạng chỉ những thực thể nổi tiếng toàn thế giới (các tổ chức, tạp chí, công ty...); từ ngoại
nguyên dạng sử dụng trong ngoặc đơn sau các từ tiếng Nga nhằm giới thiệu các dạng thức
này trong ngôn ngữ gốc (Атлантического совета (Atlantic Council)); từ ngoại
nguyên dạng mà trước đó có các từ chỉ chủng loại (журнал Таймс); từ ngoại nguyên
dạng có phần giải thích bằng tiếng Nga sau đó (terra nullius – «ничьей земли»).
2.3.2. Vấn đề chuyển dịch từ ngoại nguyên dạng
Chuyển dịch sang tiếng Việt từ nước ngoại nguyên dạng trong các văn bản tiếng
Nga – đó là cách giải quyết vấn đề: “Có thể đưa các dạng thức đó vào văn bản dịch hay
không?”. Ví dụ tập hợp được cho phép đưa ra những trường hợp khả thi khi chuyển dịch
các đơn vị này như sau:
- Trường hợp 1: đưa vào văn bản dịch (tiếng Việt) dạng thức của ngôn ngữ gốc
Có thể đưa vào văn bản dịch (tiếng Việt) dạng thức của ngôn ngữ gốc, những dạng
thức thường được sử dụng trong tiếng Việt như: tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pháp. Ví dụ:
- Часть публикаций в последних двух лет была сделана в рамках проекта
Carnegie

Corporation of New

York,

посвящѐнного анализу российских


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status