Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại tỉnh phú yên (Tóm tắt trích đoạn) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC

LÊ MINH QUANG

NGHIÊN CỨU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG
NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH PHÚ YÊN

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Biến đổi khí hậu
Mã số: Chƣơng trình đào tạo thí điểm

Hà Nội - 2016
Luận văn đƣợc hoàn thành tại
Khoa Sau đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Trần Hồng Thái
Phản biện:
1. PGS.TS Nguyễn Văn Viết, Ủy viên phản biện 1
2. TS. Đào Thế Anh, Ủy viên phản biện 2

Luận văn sẽ đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ tại
Khoa Sau đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội
1


Vào hồi 10 giờ 00 ngày 22 tháng 11 năm 2016

Có thể tìm đọc luận văn tại:
- Trung tâm thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Khoa Sau đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội.

về nhiệt độ (0,5 - 0,7oC), nước biển dâng (20 cm) với trung bình 8-10 cơn bão/năm sẽ tác động
trực tiếp tới hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung và cơ cấu nông nghiệp của từng địa
phương nói riêng (Bộ TNMT, 2012). Do đó, quá trình phân tích những tác động của biến đổi khí
hậu sẽ trở thành căn cứ tiến hành thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp một cách
hợp lý. Điều này trở nên hết sức cần thiết cho mục tiêu giảm nhẹ và thích ứng với ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu của địa phương.
Trong số những địa phương thường xuyên gánh chịu ảnh hưởng của thiên tai, Phú Yên là
khu vực xây dựng mục tiêu ưu tiên đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đảm bảo
chất lượng, hiệu quả và bền vững. Với tốc độ duy trì ở mức trung bình, Phú Yên định hướng phát
triển kinh tế tới 2020, tầm nhìn 2030 theo các trọng tâm: (i) điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo vùng
lãnh thổ; (ii) điều chỉnh cơ cấu theo thành phần kinh tế; (iii) điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngành theo
hướng phát triển tuần tự, kết hợp để tăng trưởng mang tính đột phá (UBND tỉnh Phú Yên, 2014).
Tuy nhiên, mục tiêu này hiện nay cần được điều chỉnh sao cho phù hợp với điều kiện tự nhiên và
bối cảnh biến đổi khí hậu của khu vực. Đây sẽ là cơ sở để các nhà quản lý lập kế hoạch phát triển
nông nghiệp bền vững; thích ứng với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong tương lai.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn này, tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại tỉnh Phú Yên” được lựa
chọn và triển khai.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ
a) Mục tiêu


Xác lập cơ sở khoa học về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp trong bối cảnh
biến đổi khí hậu, từ đó đề xuất phương án quy hoạch và tổ chức lãnh thổ tại tỉnh Phú Yên.
b) Nhiệm vụ
- Tổng quan các tài liệu nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước;
- Thu thập các tài liệu, số liệu của biến đổi khí hậu, thay đổi cơ cấu kinh tế nói chung và
cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp nói riêng;
- Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thực trạng sử dụng đất trong mối
quan hệ với cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp tại tỉnh Phú Yên;

- Niên giám thống kê tỉnh Phú Yên về sử dụng đất, chế độ nhiệt ẩm toàn tỉnh, sự chuyển
dịch cơ cấu lao động của tỉnh,...


CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬNTRONG ĐÁNH GIÁ
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1. Tổng quan nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp trong bối
cảnh biến đổi khí hậu
1.1.1. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
a. Quốc tế
Hướng nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế bắt đầu được thực hiện từ khoảng
giữa thế kỷ XX. Năm 1935, Fisher đã phân chia kinh tế thành ba khu vực riêng biệt là: (i) sơ cấp
(nông nghiệp); (ii) cấp II (công nghiệp); và cấp III (dịch vụ). Bằng những đánh giá thực nghiệm,
nghiên cứu đã chứng minh sự thay đổi số lượng việc làm đang diễn ra theo hướng chuyển từ khu
vực sơ cấp sang cấp II và một phần nhỏ sang cấp III. Đây là một trong những nghiên cứu nền
tảng đầu tiên, là cơ sở cho quá trình hoạch định chính sách phát triển cho kinh tế Úc giai đoạn
đó, và trở thành tiền đề cho nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế sau này (Fisher, 1935). Tới
năm 1940, Clark cũng đưa ra nhận định rằng năng suất lao động trong các khu vực là nguyên
nhân chính dẫn đến sự chuyển dịch từ khu vực năng suất thấp (sơ cấp) sang các khu vực năng
suất cao hơn (cấp II, cấp III). Quá trình phân tích những ảnh hưởng của trình độ lao động đối với
hoạt động sản xuất cho thấy vai trò của con người trong xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế là hết
sức quan trọng (Clark, 1940). Năm 1988, khái niệm đầu tiên về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
H. Chenery và T.N. Srinivasan được đưa ra: “là các thay đổi về cơ cấu kinh tế và thể chế cần
thiết cho sự tăng trưởng liên tục của tổng sản phẩm quốc dân (GDP), bao gồm sự tích luỹ của
vốn vật chất và con người, thay đổi nhu cầu, sản xuất, lưu thông và việc làm”. Cùng với đó, các
quá trình kinh tế xã hội kèm theo (đô thị hoá, biến động dân số, thay đổi thu nhập...) cũng tác
động tới xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Khái niệm này xoay quanh sự thay đổi về cấu trúc
(structural) hoặc bản chất sự thay đổi (change/transformation) của hoạt động kinh tế. Từ những
khái niêm này, nghiên cứu trở thành cơ sở quan trọng trong phân tích chuyển dịch về kinh tế

Trong những năm gần đây, khi nền kinh tế thế giới bước sang một giai đoạn phát triển
mới, nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và quá trình chuyển dịch đối với
ngành nông nghiệp lại càng được quan tâm. Chỉ trong giai đoạn 2014-2016, nhiều công trình
nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này được công bố rộng rãi trên các tạp chí chuyên ngành.
Điển hình là nghiên cứu của John A. Long và cộng sự (2014) về quá trình thay đổi phương thức
canh tác sản xuất nông nghiệp khu vực Montana, Hoa Kỳ. Quá trình đánh giá được thực hiện
thông qua hệ thống các chỉ số biến đổi trong sản xuất nông nghiệp và dữ liệu về: giải pháp quản
lý nông nghiệp bền vững, tiềm năng kinh tế, tập quán canh tác trong điều kiện khô hạn,... Từ
những kết quả phân tích, quá trình canh tác và những thay đổi theo hướng mở rộng diện tích
canh tác ngũ cốc thay thế đất bỏ hoang trong giai đoạn 2001 - 2012 được xác định cụ thể. Xu
hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng của khu vực đều phù hợp với đặc tính lãnh thổ của địa
phương (điều kiện tự nhiên, đặc điểm canh tác...), thể hiện một cách đầy đủ xu hướng chuyển
dịch nội ngành nông nghiệp tại mỗi địa phương (J.A. Long et al., 2014). Năm 2016, Tom
Laversa và Festus Boamah tiến hành so sánh các tác động của vốn đầu tư nông nghiệp tới chính
sách quản lý nhà nước tại Ethiopia và Ghana. Từ những phân tích xu hướng đầu tư vào nông
nghiệp, mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và chính sách nhà nước tại hai quốc gia đã tạo
nên sự chênh lệch đáng kể. Nhờ chính sách đầu tư thuận lợi, Ethiopia có nguồn vốn đầu tư và
sản xuất khá lớn; quá trình chuyển dịch giúp tăng năng suất và chất lượng sản phẩm nông
nghiệp. Trong khi, tại Ghana, chính sách chưa tối ưu hóa sản xuất nông nghiệp kéo theo nguồn
vốn đầu tư duy trì ở mức thấp, không tận dụng một cách hiệu quả. Như vậy, vai trò của hoạt
động quản lý và đầu tư có vai trò quan trọng tới quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
(T. Laversa & F. Boamah, 2016). Ngoài những nghiên cứu phân tích về cơ cấu kinh tế nông
nghiệp hiện tại và quá khứ, một số tác phẩm tập trung tới hướng dự báo xu thế chuyển dịch trong
tương lai. Martinho và Domingues (2015) đã đưa ra những dự báo về kinh tế nông nghiệp thế kỷ
XXI (The Agricultural Economics of the 21st Century). Nghiên cứu đề cập tới những hướng phát
triển mới về sự phát triển bền vững trong tương lai của hoạt động nông nghiệp. Ngoài ra, tầm
quan trọng của sản xuất nông nghiệp “... giữ vai trò nền tảng cho sự phát triển bền vững trong
tương lai”. Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp phải tập trung phân tích những vấn đề tính chất
khu vực, trình độ lao động, quy mô sản xuất mang tính tập trung, nhu cầu tiêu dùng, thị trường,...
đặc biệt là tính bền vững của môi trường. Kết quả nghiên cứu trở thành cơ sở cho quá trình

2009). Ngoài ra, tại Nghệ An, mô hình thay đổi cơ cấu giống và điều chỉnh mùa vụ trong sản
xuất lúa tại Nghi Lộc cũng là một giải pháp tốt để giảm nhẹ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu,
Những thay đổi về cơ cấu giống từ dài ngày được chuyển thành ngắn ngày sẽ giúp tránh hạn đầu
vụ và lũ lụt cuối vụ; cũng như kháng được sâu bệnh gây hại cho lúa. Đây là tiền đề để tạo lập cơ
sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nhằm phù hợp với điều kiện tự nhiên và tập tục canh
tác cho từng khu vực. Đây là một trong những giải pháp sẽ được ứng dụng nhiều trong bối cảnh
tác động của BĐKH tới sản xuất nông nghiệp ngày càng diễn biến khó lường như hiện nay (Sở
NNPTNT Nghệ An, 2013). Tới năm 2014, nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố khí hậu tới
bố trí một số loại cây trồng tại huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội được thực hiện. Trong đó,
các kết quả chính đã chỉ ra rằng: (i) điều kiện thời tiết (nhiệt độ và lượng mưa) giai đoạn 10 năm
(2000 - 2010) có diễn biến phức tạp; ảnh hưởng lớn đến diện tích, năng suất và mức độ đa dạng
của các loại cây trồng trên địa bàn huyện; (ii) diện tích và cơ cấu giống lúa có sự thay đổi theo
hướng thay thế các giống lúa dài ngày thích nghi tốt bằng các giống ngắn ngày với chất lượng
cao. Qua nghiên cứu này, cách thức và cơ sở để xác định các yếu tố chủ yếu của BĐKH tác động
lên cây trồng được nhận định thông qua cây lúa (Nguyễn Thị Hương, 2014). Tại Quảng Ngãi,
quá trình đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới nông nghiệp được thể hiện rõ nét tại vùng
núi cao sẽ sâu sắc hơn khu vực đồng bằng. Ngoài ra, do tập quán canh tác tại khu vực miền núi
chủ yếu dựa vào giáng thủy nên những thay đổi về nhiệt độ cũng như lượng mưa sẽ ảnh hưởng
mạnh mẽ tới năng suất của cây trồng. Từ những nhận định trên, sự khác biệt về các tác động của
biến đổi khí hậu tại địa hình khác nhau sẽ là cơ sở để xác định giải pháp tối ưu cho từng đơn vị
lãnh thổ nhất định.
Như vậy, qua thống kê và phân tích trên, BĐKH đã có thể xác định cụ thể từ đầu thập
niên 90 của thế kỉ trước, gây ra nhiều tác động tiêu cực tới hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.
Đặc biệt, hiện tượng nước biển dâng là nguyên nhân chính gây ra tình trạng xâm nhập mặn, đe
dọa hoạt động sản xuất nông nghiệp. Điều này dẫn tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, thể hiện rõ ràng tại các địa phương khu vực ven biển, trong đó có tỉnh Phú Yên. Vì vậy,


nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại
tỉnh Phú Yên là cơ sở để đề xuất các giải pháp thích ứng lâu dài.

tương lai nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng, gắn liền với sự phát triển bền vững.
Điều này được thể hiện rõ nhất qua “Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Phú Yên
theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến


năm 2030”, được UBND tỉnh Phú Yên phê duyệt năm 2015 (UBND tỉnh Phú Yên,
2015a).
Ngoài những nghiên cứu liên quan tới những vấn đề trên quy mô toàn tỉnh Phú
Yên, cũng có một số nghiên cứu đi vào chi tiết vấn đề nghiên cứu. Cụ thể là năm 2012,
nghiên cứu “Ứng dụng GIS xây dựng bản đồ bị tổn thương do nước biển dâng gây ra đối
với diện tích đất trồng lúa ở dải ven biển tỉnh Phú Yên” được công bố. Theo đó, mức độ
ảnh hưởng và xu hướng tác động của nước biển dâng đối với diện tích canh tác lúa nước
tại khu vực ven biển của tỉnh Phú Yên được thể hiện chi tiết thông qua hệ thống thông tin
địa lý. Đồng thời, các giải pháp cụ thể phù hợp với điều kiện thực tiễn tại mỗi khu vực
canh tác lúa nước được đề ra. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy ưu thế của công cụ
GIS trong thể hiện những thay đổi không gian và thời gian(Lê Quang Cảnh và cộng sự,
2012).
Từ những nghiên cứu trên đây, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong bối cảnh
biến đổi khí hậu chưa được quan tâm nghiên cứu. Tuy số lượng các nghiên cứu có liên
quan không phải là ít, song số lượng các nghiên cứu đề cập trực tiếp tới vấn đề còn chưa
nhiều, chưa mang tính cụ thể và chi tiết.
1.2. Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi
khí hậu
1.2.1. Lý thuyết và nội dung chính về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông
nghiệp
a. Lý thuyết về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
Qua quá trình hình thành và phát triển của kinh tế, lý thuyết về sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp ngày càng được hoàn thiện. Trên cơ sở những hoạt động thực tiễn và sự kế
thừa có chọn lọc theo thời gian; lý thuyết lý giải về nguồn gốc và xu hướng chuyển dịch trong
tương lai được nhận định theo nhiều trường phái khác nhau. Mỗi trường phái có một cách tiếp

Bão có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn: là một cách biểu hiện của BĐKH (Nguyễn
Đức Ngữ, 2008). Các hiện tượng cực đoan của thời tiết và thiên tai (nóng, rét hại, bão, lũ lụt, hạn
hán, v.v…) xảy ra với tần suất cao hơn, cường độ và độ khác thường lớn hơn (Huỳnh Thị Lan
Hương, 2014)… Như vậy, đối với khu vực duyên hải Nam Trung Bộ trong đó có tỉnh Phú Yên,
thì biểu hiện cụ thể là hiện tượng nước biển dâng, hạn hán và bão lũ biến đổi thất thường cả về
tần suất và mức độ. BĐKH tác động đến tất cả lĩnh vực đời sống xã hội, mọi vùng lãnh thổ, trong
đó ngành nông nghiệp là ngành chịu tác động lớn nhất; vùng ven biển và miền núi là những vùng
chịu tác động lớn nhất. Như vậy, hoạt động sản xuất nông nghiệp ở khu vực ven biển chịu ảnh
hưởng từ BĐKH theo hướng: Bão, áp thấp nhiệt đới xảy ra nhiều hơn, gây mưa lớn trong thời
gian ngắn. Ngập lụt có thể xảy ra, đặc biệt tại tỉnh Phú Yên - nơi có địa hình có sự chênh lệch
lớn giữa phía Tây và phía Đông (ven biển), địa hình không đồng nhất về độ cao, nước chảy dồn
từ phía Tây về những cánh đồng lúa trũng thấp ở phía Đông ven biển.
Với những biểu hiện chung như trên, BĐKH tác động đến nông nghiệp – lâm nghiệp –
thủy sản theo mức độ với yếu tố cường hóa khác nhau, cụ thể như:
Trong lĩnh vực nông nghiệp, thiệt hại nặng nề do hậu quả của bão và hiện tượng thời tiết
cực đoan xảy ra một cách thường xuyên. Những tác động của BĐKH đối với nông nghiệp tập
trung vào các vấn đề: (i) An ninh lương thực không được đảm bảo do suy giảm năng suất cây
trồng: BĐKH tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng
nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng. Nhiệt độ tăng cao làm thời gian thích nghi của cây trồng
nhiệt đới mở rộng và cây trồng á nhiệt đới thu hẹp lại; ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng, tăng
khả năng sinh bệnh, lây truyền dịch của gia súc, gia cầm; (ii)Thay đổi nguồn nước do nhiều vùng
bị cạn kiệt nguồn nước ngọt nhưng nhiều vùng lại bị ngập lụt, nước biển dâng: Tài nguyên nước
phải chịu thêm nguy cơ suy giảm do hạn hán ngày một tăng ở một số vùng, mùa. Khó khăn này
sẽ ảnh hưởng đến nông nghiệp. Chế độ mưa thay đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọng vào mùa
mưa và hạn hán vào mùa khô, gây khó khăn cho việc cấp nước và tăng mâu thuẫn trong sử dụng
nước; (iii) Ảnh hưởng đến hệ sinh thái như mất cân bằng, suy giảm đa dạng sinh học: BĐKH có
nhiều tác động tiêu cực đối với đa dạng sinh học và hệ sinh thái, làm gia tăng các áp lực vốn đã
tác động tiêu cực đến các hệ sinh thái ( tình trạng ô nhiễm, khai thác quá mức tài nguyên gây suy
giảm, phá hủy nơi cư trú tự nhiên; sự xâm hại của các sinh vật ngoại lai và chuyển đổi mục đích
sử dụng đất...). BĐKH gây suy giảm đa dạng sinh học và các dịch vụ sinh thái tự nhiên, làm

Như vậy, qua những phân tích trên có thể thấy, nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trong bối cảnh biến đổi khí hậu đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới và đã
đạt được nhiều thành tựu. Tuy nhiên, nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trên
quan điểm phát triển bền vững, trong bối cảnh biến đổi khí hậu thì mới chỉ được quan
tâm tại một số quốc gia (tại Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc). Tại Việt Nam nghiên cứu này
mới được thực hiện tại hai tỉnh chịu nhiều ảnh hưởng của BĐKH đó là Nghệ An và
Quảng Ngãi, đã đạt được một số kết quả ban đầu. Phú Yên là tỉnh chịu nhiều tác động từ
BĐKH nên thực hiện nghiên cứu này là sự cần thiết, trên cơ sở những kinh nghiệm và bài
học rút ra từ các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam.


CHƢƠNG 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU
2.1. Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm nghiên cứu được xác lập dựa trên quan điểm của Chương trình mục tiêu quốc
gia ứng phó với BĐKH tại tỉnh Phú Yên (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008).
- Nguyên tắc phát triển bền vững, bảo đảm tính hệ thống, tổng hợp, ngành, liên ngành,
vùng, liên vùng, bình đẳng về giới, xóa đói, giảm nghèo: các phương án đề xuất trong chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp phải được dựa trên cơ sở phân tích tổng hợp các điều kiện
hiện trạng và xu thế thay đổi trong tương lai, phải được đặt trong mối quan hệ với các khu vực
lân cận và các ngành khác.
- Việc nghiên cứu và đề xuất sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp là nhiệm vụ
của toàn hệ thống chính trị, của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, của toàn dân và
nghiên cứu này cần được tiến hành với sự đồng thuận và quyết tâm cao, trên phạm vi toàn tỉnh.
Như vậy, với quan điểm nghiên cứu trên, việc định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp tại tỉnh Phú Yên phải được thực hiện dựa trên sự đồng thuận của chính quyền các cấp và
ý kiến của người dân, trên cơ sở phân tích nguồn lực tự nhiên và kinh tế xã hội tại khu vực
nghiên cứu.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu mà luận văn đề ra, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương
pháp khác nhau nhằm đạt được mục đích nghiên cứu: (i) Phương pháp thu thập, tổng hợp tài

XI. Lượng bốc hơi trung bình biến đổi từ 1.000 - 1.500 mm/năm. Độ ẩm tương đối trung bình
lớn hơn 80%. Tháng có độ ẩm trung bình lớn nhất xuất hiện vào tháng XI là 89%; tháng nhỏ nhất
là tháng V, VI, dao động quanh mức 74%. Do chịu ảnh hưởng của đèo Hải Vân và dãy Trường
Sơn, Phú Yên có đặc trưng là mùa mưa lùi dần về cuối năm. Lượng mưa năm trung bình nhiều
năm ở mức 1.500-3.000 mm/năm, với trung tâm mưa lớn Sông Hinh (X0 = 2.500-3.000 mm/
năm). Lượng mưa tập trung chủ yếu vào 4 tháng mùa mưa (IX-XII) chiếm từ 70 - 80% lượng
mưa cả năm, trong đó tháng XI là tháng có lượng mưa lớn nhất.

Phú Yên là một tỉnh có sự biến đổi lớn về địa hình từ sườn đông sang tây, bao
gồm cả những đặc điểm của vùng núi cao, vùng chuyển tiếp và vùng ven biển. Do đó, số
lượng đơn vị thổ nhưỡng của tỉnh Phú Yên cũng khá đa dạng và phong phú (UBND tỉnh
Phú Yên, 2013).
Tỉnh Phú Yên có khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Đèo Cả với diện tích 7.988 ha (trong đó rừng tự
nhiên là 2.158 ha). Nơi đây có hệ thực vật khá phong phú với 190 loài, trong đó có nhiều loài có
giá trị (trầm hương, trắc dây, gụ mật,…). Hệ động vật




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status