LỜI MỞ ĐẦU
Thưc hiện việc chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập chung sang cơ
chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà Nước trong gần hai thập kỷ qua
đã mang lại cho nền kinh tế nước nhà những bước khởi sắc mới mẻ, nhiều
thành công trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, như công nghiệp, dịch vụ…
Song điều không thể phủ nhận là sự đóng góp to lớn có tính chất nền tảng cho
sự phát triển của các ngành khác đó là ngành nông nghiệp, một ngành kinh tế
luôn dành được sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước.
Tây Hồ là một Quận mới được thành lập theo nghị định 69/CP ngày
28/10/1995 của Chính Phủ và bắt đầu hoạt động từ tháng 01/ 1996. Là một
Quận nằm ở phía Tây Bắc của Thành phố Hà Nội với vị trí địa lý thuận lợi để
phát triển kinh tế – văn hoá -xã hội.Trong những năm vừa qua mặc dù tốc độ
đô thị hoádiễn ra tương đối nhanh chóng. Nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn
chiếm một tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu kinh tế của Quận. Tuy vậy sản xuất
nông nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế. Cơ sở hạ tầng của Quận vẫn còn trong
tình trạng thiếu và lạc hậu, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh
tế –xã hội trên địa bàn Quận. Nhiều yếu tố tiềm năng vốn có của Quận vẫn
chưa có điều kiện phát huy. Tình hình kinh tế – xã hội của Quận vẫn còn
nhiều bức xúc. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay với gần 80% dân số sinh
sống ở khu vực nông thôn và 70% lao động làm việc trong ngành sản xuất
nông nghiệp. Vấn đề đặt ra cho sản xuất nông nghiệp của Quận là nghiên cứu
chuyển dịch kinh tế một cách hợp lý và có hiệu quả. Mặt khác đất nông
nghiệp của Quận trong vài năm tới sẽ mất đi hàng nghìn ha cho công cuộc
công nghiệp hóa- hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn và đô thị hoá. Do đó sẽ
có hàng vạn lao động mất đi tư liệu sản xuất, không có việc làm. Vì vậy, vấn
đề luận giải có tính hệ thống trong cơ chế thị trường hiện nay đối với ngành
nông nghiệp của Quận nói riêng và của cả Thành phố Hà Nội nói chung là
nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp không chỉ về chiều rộng mà còn cả
về chiều sâu. Chỉ thông qua đó mới có thể tăng thu nhập cho người lao động
góp phần ổn định kinh tế –xã hội, mở rộng hợp tác trong và ngoài nước
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tây Hồ, trung tâm thư viện trường ĐHKTQD đã giúp em hoàn thành chuyên
đề này.
Tuy nhiên do khả năng và thời gian nghiên cứu có hạn nên chuyên đề
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em xin được sự đóng góp ý kiến của
quý thầy cô và các bạn sinh viên để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn.
Chương I
Một số vấn đề chung về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
I/ Một số vấn đề chung về cơ cấu kinh tế
1.Khái niêm chung
Theo quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống thì khi nói
đến cơ cấu của nền kinh tế ý nói đến hệ thống kinh tế với cơ cấu của nó. Nói
như vậy có nghĩa là nếu không có hệ thống thì không thể có cơ cấu, cũng có
nghĩa là hai phạm trù nền kinh tế và cơ cấu kinh tế luôn gắn liền nhau. Cơ
cấu kinh tế là thuộc tính của nền kinh tế- của hệ thống kinh tế- của xã hội, nó
phản ánh tính chất và trình độ phát triển của nền kinh tế. Sự kết cấu này càng
chặt chẽ và ở trình độ cao thì hiệu quả kinh tế đem lại càng lớn
Cơ cấu kinh tế được hợp thành bởi nhiều phần tử của nền kinh tế. Theo
nguyên tắc hệ thống các phân hệ có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại
trong những điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể. Hệ thống các phân tử cơ cấu vận
động và phát triển theo những quy luật trong những thời kỳ nhất định
Các phần tử cơ cấu được chia thành hai nhóm:
- Nhóm thứ nhất: Các phần tử cơ cấu. Đó là những ngành, lĩnh vực có
ý nghĩa chủ lực, mũi nhọn và những lãnh thổ mang ý nghĩa động lực. Khi
phân tích cơ cấu kinh tế người ta xem nó đã được phát huy đầy đủ chưa, nó đã
được đầu tư thỏa đáng chưa? Tác dụng của chúng đến đâu và nếu chúng
không phát triển nh mong muốn thì tại sao lại nh vậy, cản trở chính là gì.
- Nhóm thứ hai:Các phần tư phi cơ cấu. Đây là những phần tử Ýt hoặc
không có ý nghĩa quyết định đến cơ cấu của nền kinh tế.
Cơ cấu kinh tế biểu thị cấu trúc bên trong của nền kinh tế với các tỷ lệ
và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành. Nh vậy về mặt biểu thị thì cơ cấu
2.1 Cơ cấu kinh tế theo ngành (xét theo góc độ phân công lao động xã hội theo
ngành)
Là hình thức kết cấu các ngành của nền kinh tế, phản ánh các tương
quan tỷ lệ, vai trò vị trí mỗi ngành của nền kinh tế. Cơ cấu ngành phản ánh
trình độ phân công lao động xã hội theo ngành và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất. Thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc
trưng của Việt Nam còng nh các nước đang phát triển. Do vậy khi xem xét cơ
cấu ngành phải chú ý đến tỷ trọng hay mức đóng góp của các sản phẩm chủ
lực cho nền khinh tế cũng nh của các sản phẩm chứa đựng hàm lượng công
nghệ cao, chất xám cao. Khi phân tích cơ cấu ngành của nền kinh tế người ta
thường phân tích theo ba nhóm ngành chính sau:
- Nhóm ngành nông lâm nghiệp gồm: Các ngành trồng trọt, chăn nuôi,
lâm nghiệp và ngư nghiệp.
- Nhóm ngành công nghiệp và xây dựng gồm: Các ngành công nghiệp
và ngành xây dựng.
- Nhóm ngành dịch vụ gồm: Thương mại, du lịch, vận tải, tài chính
ngân hàng, bưu điện và các ngành dịch vụ khác.
2.2.Cơ cấc kinh tế theo lãnh thổ
Là kết cấu theo lãnh thổ của nền kinh tế, nó là kết quả của phân công
lao động xã hội theo lãnh thổ. Các lãnh thổ với các tiềm năng, thế mạnh khác
nhau cùng phát triển, hỗ trợ lẫn nhau làm cho nền kinh tế phát triển tốt hơn.
Cơ cấu lãnh thổ được xem xét dưới góc độ chủ yếu sau đây:
- Cơ cấu kinh tế lãnh thổ giữa thành thị và nông thôn
- Cơ cấu kinh tế giữa các tiểu vùng
Cơ cấu kinh tế lãnh thổ giữa thành thị và nông thôn phản ánh sự kết cấu
kinh tế theo thành thị và nông thôn. Thành thị là nơi tập chung lao động có
tay nghề kỹ thuật cao, nơi tập chung các tiềm lực kinh tế lớn, giữ vai trò là
đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung. Nông thôn giữ vai trò là hậu phương, nơi
tiêu thụ các sản phẩm của đô thị làm ra và có tác dụng thúc đẩy sự phát triển
của các đô thị.
chuyển dịch sai sẽ đưa tới kết quả xấu, gây tốn kém, trở lại làm trì trệ sự phát
triển và để lại hậu quả tệ hại cho xã hội.
- Khi xem xét chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xác định trạng thái chuyển
dịch kinh tế tốt hay xấu người ta thường phân tích theo một hệ thống các chỉ
tiêu nh:
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế, quy mô của nền kinh tế
+ Năng suất lao động và mức độ cạnh tranh của sản phẩm
+ Giá trị xuất khẩu và độ mở của nền kinh tế
+Thu ngân sách và tỷ lệ thu ngân sách
+Tỷ lệ thất nghiệp
+ Tỷ lệ hộ đói nghèo
+ Nhóm các chỉ tiêu về tệ nạn xã hội…
Các chỉ tiêu trên càng cao chứng tỏ cơ cấu kinh tế mà ta lựa chọn càng
tốt, hợp lý và ngược lại nếu các chỉ tiêu nêu trên đạt càng thấp thì ta phải điều
chính cách lựa chọn sao cho hợp lý hơn.
Để đánh giá trình độ phát triển của một cơ cấu người ta căn cứ chủ yếu
vào cơ cấu ngành, trong đó ngành phi nông nghiệp có vai trò quyết định.
Trong khối ngành phi nông nghiệp ngành công nghiệp chế biến và ngành dịch
vụ chất lượng cao có ý nghĩa quyết định hơn cả.
2.Sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu
Trong những năm tới tốc độ đô thị hoá của nước ta diễn ra một cách nhanh
chóng, đô thị ngày càng mở rộng, đất đai sản xuất cho nông nghiệp ngày
càng thu hẹp để các khu công nghiệp, chế xuất, khu xây dựng …mở rộng và
phát triển. Việc hình thành các khu đô thị mới sẽ tạo nên một bước chuyển
cấp lớn, nâng cao chất lượng đời sống dân cư nói chung, tạo nên cảnh quan
mới văn minh hơn , hiện đại hơn, làm thay đổi bộ mặt kinh tế của đất nước.
Thực tế cho thấy nước ta vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu, với gần
80% dân số sống ở nông thôn, gần 70% lao động làm trong nông nghiệp. Tuy
nguồn nhân lực dồi dào nhưng chất lượng còn thấp. Đây thực sự là một nguy
cơ lớn khi tốc độ đô thị hoá diễn ra với tốc độ cao.
hướng trước mắt và trong tương lai nhằm phục vụ cho chiến lược phát triển
kinh tế –xã hội của Quận nói riêng và của Thành phố nói chung.
3. Xu hướng và nguyên tắc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
3.1 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình tích luỹ về lượng,
dẫn đến sự biến đổi về chất. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo yêu cầu và
phương hướng tiến bộ hơn mang tính quy luật.
Qua nghiên cứu cho thấy, cơ cấu kinh tế không phải là một mô hình tĩnh
tại, mà nó luôn vận động và phát triển vươn tới sự hoàn thiện hơn, tốt hơn. Cơ
cấu kinh tế chịu tác động của các nhân tố trong nội bộ nền kinh tế và các nhân
tố từ bên ngoài, nên sự vận động của nó rất đa dạng, phức tạp. Song xu hướng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đều mang một tính chất nhất định.
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội
ngày càng sâu sắc, đa dạng, phong phú, đa ngành nghề và chuyển sang nền
sản xuất hàng hóa. Quá trình đó cũng làm cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ
sản xuất nông nghiệp là chính, cùng mối liên kết không bền chặt với các
ngành công nghiệp, sang một nền kinh tế có cơ cấu phát triển đồng đều và
gắn bó chặt chẽ các ngành và lĩnh vực kinh tế với nhau trên cơ sở phân công
lao động xã hội ngày càng sâu sắc hơn.
- Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng
thương mại dịch vụ; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và làng nghề. Đối với
ngành nông nghiệp giảm dần về giá trị tương đối, nhưng vẫn tăng lên về giá
trị tuyệt đối trong tổng giá trị sản xuất của Quận.
Đối với từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế, nội bộ cũng có sự biến đổi
về cơ cấu, về quy mô trình độ công nghệ với chất lượng sản phẩm cao để đạt
hiệu quả kinh tế ngày càng cao. Sự biến đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành và
lĩnh vực kinh tế dẫn đến chuyển dịch lao động và dân cư.
Cơ cấu lao động có xu hướng giảm dần lao động giản đơn, tăng dần lao
động chuyên môn kỹ thuật. Do vậy trong những năm tới các cấp, các ngành
cần có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại lực lượng lao động trên địa bàn nhằm
vào năm 2020. Khi đó nước ta cơ bản là nước công nghiệp phát triển. Đây là
định hướng phấn đấu dành cho các ngành kinh tế và các thành phần kinh tế
toàn quốc nói chung và Quận Tây Hồ nói riêng phấn đấu đạt được tỷ lệ nói
trên.
3.2 Nguyên tắc chuyển dịch.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về
quy mô, chất lượng, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững trên cơ sở
phát huy có hiệu quả các lợi thế so sánh.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải phù hợp với sự phát triển của lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, phải đảm bảo được hiệu quả trước mắt và
hiệu quả lâu dài.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể diễn ra một cách tuần tự và cũng có
thể diễn ra một cách đột biến nhảy vọt nhưng vẫn phải đảm bảo đựơc hiệu
quả kinh tế.
4.Các nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Sơ đồ các nhân tố chủ yếu tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
C¸c yÕu tè bªn trong C¸c yÕu tè bªn ngoµi
C¸c nh©n tè chñ yÕu t¸c ®éng ®Õn CDCC kinh tÕ
*. Nhúm thuc iu kin t nhiờn:
Nhúm nhõn t ny bao gm cỏc yu t nh: V trớ a lý, iu kin t
ai, iu kin khớ hu ca cỏc vựng trong a bn Qun. Cỏc nhõn t ny
tỏc ng trc tip n s hỡnh thnh v phỏt trin tng loi cõy trng, vt
nuụi. i vi tng loi cõy trng, vt nuụi khỏc nhau thỡ mc nh hng
cng khỏc nhau. Do vy phi da vo c s ca cỏc phng ỏn phõn vựng
chuyờn canh hỡnh thnh cỏc vựng trng im sn xut hng húa cú hiu
qu kinh t cao, ly hiu qu kinh t xó hi lm thc o ỏnh giỏ.
V trớ a lý: V trớ a lý ca vựng l ni chn ca vựng lónh th ú
trong mi quan h vi cỏc vựng lónh th khỏc. i vi mi vựng lónh th u
cú s phự hp vi tng loi cõy trng, vt nuụi nht nh. Do vy khi xỏc
nh c cu cõy trng, vt nuụi v hng chuyn dch chỳng thỡ phi da vo
tố
khác
đất chủ yếu quyết định đến năng suất cây trồng. Do vậy nắm được đặc điểm
sinh lý. sinh hoá của đất thì con người có thể tác động cải tạo đầu tư phù hợp
với từng loại cây trồng từ đó cho năng suất cao, tăng thu nhập cho người dân
trong Quận .
* Nhóm nhân tố kinh tế –xã hội
Nhóm nhân tố này luôn tác động mạnh mẽ tới sự hình thành và biến đổi
cơ cấu nông nghiệp. Nhìn chung các nhân tố trên đều quan trọng và có mối
quan hệ mật thiết với nhau. Nhưng nhân tố quyết định đến sự phát triển kinh
tế là nhân tố thị trường, bởi nó chỉ tồn tại và vận động thông qua hoạt động
của con người. Trong nền kinh tế thị trường người sản xuất phải sản xuất cái
mà thị trường cần chứ không phải những cái mà nhà sản xuất có. Nếu không
tuân theo những quy luật của thị trường thì người đó sẽ bị đào thải.
- Chính sách kinh tế có ý nghĩa trong sự thúc đẩy hay kìm hãm quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nhờ chính sách đổi mới trong những năm
qua Nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân nên người sản
xuất có khả năng mở rộng quy mô và mạnh dạn đầu tư trang thiết bị vào sản
xuất, đổi mới phương pháp canh tác thu được hiệu quả cao.
Tuy nhiên cũng có những chính sách nhiều khi chưa tạo được điều kiện
thuận lợi dẫn đến kìm hãm sự phát triển sản xuất nông nghiệp.
- Về chính sách tín dụng và phát triển chính sách hạ tầng nông nghiệp
nông thôn cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất. Nếu thiếu vốn thì
người dân khó có thể đầu tư thâm canh áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất
dẫn đến sản xuất gặp nhiều khó khăn. Vì vậy Nhà nước phải có nhiều biện
pháp thích hợp, tạo điều kiện cho nông dân vay vốn ưu đãi mở rộng sản xuất.
- Về phát triển chính sách hạ tầng cũng đóng một vai trò quan trọng
trong sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nhất là thuỷ lợi, giao thông…Ngày
nay nhu cầu về nông sản và môi sinh của xã hội ngày càng cao thì càng thúc
đẩy cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng tiến bộ.
Đất nông nghiệp: 1.107,3637 ha. Đất nông nghiệp có vai trò quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế Quận. Đây là quỹ đất dành cho phát triển
nông nghiệp đô thị với những nét đặc trưng của nông nghiệp sạch, nông
nghiệp sinh thái, là tiềm năng cho phát triển “ phố vườn”, phục vụ cho du
lịch, dịch vụ, kết hợp giữa kinh tế du lịch và kinh tế nông nghiệp tạo nên nét
độc đáo, tinh tế mà các Quận khác không có được.
Quận Tây Hồ đang trong quá trình đô thị hoá với tốc độ cao, nhu cầu
sử dụng đất ở mọi lĩnh vực đều rất lớn, đặc biệt là trong việc xây dựng hạ
tầng kỹ thuật đô thị. Đồng thời, cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, các quan hệ sử dụng đất đang diễn ra phức tạp, cơ cấu sử dụng đất đai biến
động liên tục.
Trong tổng số 565,2005 ha đất trồng cây hàng năm của Quận thì có
khoảng 430 ha là vùng đồng bằng và khoảng 130 ha là vùng ngoài bãi. Vùng
bãi này hàng năm vẫn bị ngập nước, địa hình luôn bị thay đổi.
Cùng với đất nông nghiệp, đất ở đô thị cũng có xu hướng giảm. Cùng
với quá trình phát triển kinh tế, người dân Tây Hồ đã chuyển một phần đất
vườn tạp trong diện tích đất ở sang đất làm kinh tế, chủ yếu trồng các loại
đào, quất, hoa, cây cảnh xen lẫn các khu dân cư. Chính điều này đã làm cho
Tây Hồ có dáng dấp “phố vườn” một nét đẹp độc đáo của Quận.
* Về khí hậu nguồn nước, thuỷ văn
Trên địa bàn Quận có sông Hồng, Hồ Tây và một số hồ đầm nhỏ khác.
Có thể nói hồ đầm của Tây Hồ, đặc biệt với Hồ Tây “ lá phổi của Thành phố”
đã tạo nên nhiều cảnh quan đẹp cho Quận, điều hoà khí hậu khu vực, là nguồn
cung cấp nước vô tận cho ngành nông nghiệp.
Trong thời gian gần đây, cùng với quá trình đô thị hoá. Hồ Tây đang
đứng trước một nguy cơ bị phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, môi trường do xây
dựng không theo quy hoạch, không phép và trái phép, tệ nạn xả chất thải
xuống lòng hồ. Nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời thì nguy cơ phá
vỡ cảnh quan môi trường và gây ô nhiễm môi trường sẽ càng tăng, lòng hồ sẽ
dần bị thu hẹp và bị ô nhiễm nặng. Cần phải có chính sách kịp thời của Đảng
* Về cấp nước và thoát nước:
Trên địa bàn Quận có hai nhà máy cấp nước: Nhà máy nước Yên Phụ
với công suất 80.000 m
3
/ngđ và nhà máy nước Ngọc Hà, Cao Đỉnh với công
suất 27.000- 28.000 m
3
/ngđ. Mạng lưới đường ống cấp nước của Quận gồm
có 4 tuyến, song áp lực nước trong mạng lưới này còn yếu. Hệ thống các
đường ống dẫn truyền và phân phối nước chủ yếu được xây dựng từ năm
1985, vật liệu chính là ống gang xám và một phần nhỏ là ống kép, mức rò rỉ
cao, phần lớn không có đồng hồ đo đếm.
*Hiện trạng văn hoá xã hội:
Trong những năm vừa qua cùng với nhịp độ phát triển về kinh tế, các
mặt về đời sống văn hoá xã hội trên địa bàn Quận có nhiều biến đổi tích cực:
- Các hoạt động văn hoá thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao được
tăng cường và duy trì thường xuyên phục vụ cho chính trị của Quận. Công tác
tôn tạo, bảo vệ di tích được Quận quan tâm và đầu tư đúng mức. Thực hiện
tốt việc vận động toàn dân đăng ký xây dựng đời sống văn hoá. Kết quả đến
năm 2005 tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá là 89%.
- Đến nay toàn Quận không còn hộ đói nghèo thuộc diện chính sách.
Quận đã tham gia giải quyết việc làm cho 3220 lượt lao động/1năm. Triển
khai cho các hộ dân vay vốn từ quỹ quốc gia, ngoài ra còn huy động các
nguồn vốn khác như: vốn từ ngân hàng phục vụ người nghèo, vốn từ quỹ hỗ
trợ nhân dân và người dân phát triển sản xuất. Do đó Quận đã góp phần tích
cực trong vấn đề giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao
động.
- Công tác phòng chống các tệ nạn xã hội đã được triển khai với nhiều
biện pháp tích cực nên đã đạt hiệu quả thiết thực. Bên cạnh đó công tác giáo
dục đào tạo đã có bước chuyển biến rõ rệt ở các phường trong Quận.
vừa qua
Tây Hồ là Quận nội thành nhưng diện tích đất nông nghiệp còn khá lớn
(chiếm gần 50% diện tích đất tự nhiên) và sản xuất nông nghệp chủ yếu tập
chung ở 5 phường trước đây là các xã của huyện Từ Liêm. Nhưng diện tích
đất nông nghiệp ngày một giảm do quá trình đô thị hoá, trong những năm sắp
tới so với những ngành kinh tế khác như thương mại - dịch vụ - du lịch công
nghiệp, thì nông nghiệp ngày một thu nhỏ lại, tỷ trọng ngày một giảm, nhưng
hiện nay thì vẫn còn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng giá trị kinh tế của toàn
Quận Tây Hồ.
Sản xuất nông nghiệp được chia làm 2 vùng:
- Vùng trong đồng (trong đê chính sông Hồng): Diện tích đất canh tác
khoảng 430 ha.
- Vùng ngoài bãi (ngoài đê chính sông Hồng): Diện tích đất canh tác
khoảng 130 ha chủ yếu thuộc phường Nhật Tân, Tứ Liên và Quảng An.
* Về trồng trọt:
Bảng 2: Diện tích gieo trồng cây hàng năm
STT Cây trồng DTSX 2002 DTSX 2003 DTSX
2004
1 Lúa 161,1 113,5 49
2 Ngô 134 143 117,4
3 Rau 45,5 44,6 40
4 Lạc 0,2 0,2 0,2
5 Đậu 11 14 12
6 Hoa đào 210,10 189,8 224,6
7 Quất cảnh 18,5 21 31,3
8 Hoa tươi 83,4 98,6 91,5
9 Tổng sè 663,4 624,7 566
Nguồn: Phòng kế hoạch kinh tế
Qua bảng ta thấy:
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm thực hiện năm 2004 đạt 566 ha
các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và các mô hình chuyển đổi cơ cấu
cây trồng, vật nuôi. Trong những năm qua đã đưa vào thử nghiệm và sản xuất
nhiều loại rau, hoa có giá trị kinh tế cao đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người
tiêu dùng trên thị trường như: Cúc Nhật, Đài Loan, Singapo; hoa hồng Pháp,
Trung Quốc, Hà Lan, Thái Lan. Các giống vật nuôi siêu thịt như: Lợn nạc
Yorkshier, Ngan Pháp, Bồ câu Pháp, Gà Kabir, Gà Tam Hoàng, Bò lai Sind
…đã được triển khai nuôi thử mang lại thu nhập kinh tế cao cho các hộ nông
dân, góp phần cải thiện đáng kể cuộc sống cho người dân. Trong những năm
gần đây trên địa bàn Quận đã bắt đầu xuất hiện một số hộ gia đình mạnh dạn
đầu tư làm mô hình nhà, vườn sinh thái để kinh doanh dịch vụ giải trí phục
vụ khách vui chơi và khách du lịch đến tham quan vãn cảnh. Đáng chú ý là từ
sau ngày Quận được thành lập, cơ cấu cây trồng vật nuôi ở Quận Tây Hồ
không còn mang tính chất đơn điệu, khép kín, tự túc mà hiện nay chuyển
sang sản xuất hàng hóa, gắn bó chặt chẽ với thị trường.
Về chăn nuôi: Nhìn chung chăn nuôi gia sóc, gia cầm trong địa bàn
Quận chư có điều kiện phát triển. Tỷ trọng ngành chăn nuôi trong giá trị sản
xuất nông nghiệp hàng năm đạt thấp ( khoảng 10- 15% ), trong đó là chăn
nuôi gia đình mang tính tự cung, tự cấp theo kiểu chăn nuôi (tận dụng). Chăn
nuôi chưa có sự đầu tư phát triển các mô hình chăn nuôi theo hướng thâm
canh năng suất cao, chất lượng tốt, tạo ra nhiều hàng hoá đáp ứng nhu cầu đời
sống ngày càng cao của xã hội. Nếu xét về mặt lâu dài thì vấn đề phát triển
chăn nuôi sẽ có những hạn chế nhất định do quá trình đô thị hoá gia tăng và
sự đòi hỏi về môi trường sinh thái xanh, sạch, đẹp của một đô thị văn minh
hiện đại.
Về nuôi trồng thuỷ sản:
Diện tích Hồ Tây khoảng 5,5 ha, có ao hồ mặt nước thông thoáng rất
thuận lợi cho ngành thuỷ sản phát triển. Đây cũng là định hướng phát triển
kinh tế –xã hội của Quận trong thời gian tới.
Bảng 3:Giá trị sản xuất nông nghiệp – thuỷ sản
- Do chủ trương đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thuỷ sản theo hướng
sản xuất hàng hóa nên ngành thuỷ sản chiếm tỷ trọng ngày càng cao. Khâu
dịch vụ nông nghiệp được chú trọng phát triển, đa dạng hoá các hình thức
phục vụ tạo điều kiện thúc đẩy trồng trọt và chăn nuôi phát triển. Đây là
hướng chuyển dịch cơ cấu đúng đắn tạo sự phát triển cân đối, hài hoà trong
sản xuất nông nghiệp.
2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Quận Trong những năm
qua
Là một Quận nội thành Hà Nội nhưng diện tích đất nông nghiệp còn
khá lớn (chiếm gần 50% diện tích tự nhiên và sản xuất nông nghiệp chủ yếu
tập chung ở 5 phường( Phú Thượng, Nhật Tân, Xuân la, Tứ Liên, Quảng An).
Tuy nhiên, diện tích đất canh tác hàng năm ngày càng giảm do đó ảnh hưởng
đến quy mô diện tích và sản lượng cuả ngành trồng trọt. Nhưng do các hộ
nông dân tích cực áp dụng giống mới có giá trị kinh tế cao, thay đổi cơ cấu
mùa vụ nên tổng diện tích gieo trồng chỉ giảm ở mức độ thấp. Cơ cấu diện
tích cây trồng đã cho thấy xu hướng chuyển dịch sang sản xuất hàng hóa
chuyên môn hoá cây trồng với các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, phù
hợp với điều kiện đất đai và tập quán canh tác của địa phương. Đó là việc
chuyển đổi diện tích từ trồng lúa và trồng ngô sang gieo trồng các loại hoa
đào và các loại hoa ngắn ngày, quất cảnh có xu hướng tăng và đi vào thâm
canh chiều sâu. Diện tích gieo trồng các loại được tăng lên 307,9 ha (năm
2000) lên 347,4 ha (năm 2004).