Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp ở huyện phú ninh, tỉnh quảng nam - Pdf 34

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GO
VA
IC
NN
CN
DV
GT
TĐPTBQ
TĐPTĐG

: Giá trị sản xuất
: Giá trị tăng thêm
: Chi phí trung gian
: Nông nghiệp
: Công nghiệp
: Dịch vụ
: Giá trị.
: Tốc độ phát triển bình quân
: Tốc độ phát triển định gốc

i


DANH MỤC BIỂU ĐỒ

TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................108

ii



Cùng với sự đổi mới của cả nước, nền kinh tế của huyện Phú Ninh tỉnh
Quảng Nam trong những năm qua mặc dù đã có nhiều chuyển biến, sau khi được
thành lập theo Nghị định số 01/2005/NĐ-CP ngày 05/01/2005 của Chính phủ. Kinh
tế - xã hội đã có sự phát triển khá toàn diện và mạnh mẽ. Từ một huyện với 80% số
người dân sống bằng nghề nông, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn 60% trong cơ cấu
ngành đến nay Phú Ninh có những chuyển biến khá rõ nét. Nhờ sản xuất phát triển,
đời sống nhân dân ở các địa phương từng bước được cải thiện. Kinh tế có bước tăng
trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, lĩnh vực công nghiệp
- thương mai, dịch vụ chiếm 68%; nông nghiệp từ 60% (năm 2005) xuống còn 32%;
tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 14%; lao động phi nông nghiệp đạt 37%, tăng gần
gấp hai lần so với khi mới tách ra khỏi thị xã Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam. Song, nhìn
chung nền kinh tế của huyện Phú Ninh phát triển chưa bền vững, còn mang nặng
nền sản xuất thuần nông, mang tính chất cá thể nhỏ lẻ, tự cung tự cấp. Đời sống
của nhân dân ở huyện còn nhiều khó khăn, còn phụ thuộc chủ yếu vào
nông nghiệp.

1


Để khai thác một cách triệt để các lợi thế của huyện, nhanh chóng thay đổi
bộ mặt nông nghiệp nông thôn, từng bước hình thành và phát triển một nền nông
nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững, hiệu quả
trong thời gian tới, thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp huyện Phú
Ninh là vấn đề quan trọng mang tính cấp thiết. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài:
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp ở huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng
Nam” để làm luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Đây là chủ đề được nghiên cứu khá rộng rãi trong và ngoài nước, dưới góc
độ rộng như nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo cơ cấu
ngành, theo vùng sinh thái và theo thành phần kinh tế, đồng thời xem xét cả chuyển

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành nông nghiệp.
- Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp huyện
Phú Ninh và rút ra được thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của nó.
- Đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển
bền vững hiệu quả.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp bao
gồm: nông (trồng trọt và chăn nuôi), lâm, ngư nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.
+ Về thời gian: Từ năm 2010 đến nay và đưa ra giải pháp đến 2025.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp chung có tính chất phương pháp luận như
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin.
- Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
Phương pháp thu thập thông tin: Số liệu được thu thập từ nhiều nguồn dạng
thứ cấp và sơ cấp. Số liệu thứ cấp được lấy từ sách chuyên ngành, sách tham khảo,
niên giám thống kê, báo cáo khoa học, tạp chí chuyên ngành, luận văn thạc sĩ, tiến
sĩ và các báo cáo của tỉnh của huyện. Số liệu sơ cấp được lấy từ phiếu điều tra, dự
kiến là 50 phiếu cho đối tượng điều tra là cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, cấp huyện, cấp
xã và 100 phiếu cho đối tượng là nhân dân.
Phương pháp thống kê.
Phương pháp so sánh.
6. Kết quả và những đóng góp mới kỳ vọng đạt được của nghiên cứu
Các kết quả chính của đề tài:
Hệ thống hoá được những vấn đề lý luận và thực tiễn; các nhân tố tác động;
kinh nghiệm một số nước trong việc giải quyết vấn đề này và những bài học kinh
nghiệm bổ ích có thể rút ra. Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành



trúc bên trong của nền kinh tế, biểu hiện ở những mối quan hệ kinh tế giữa các bộ
phận và giữa các phân hệ của các bộ phận đó trong hệ thống kinh tế. Những mối
quan hệ kinh tế đó ràng buộc lẫn nhau và được biểu hiện ở những quan hệ về mặt
lượng cũng như quan hệ về mặt chất. C.Mác đã chỉ ra rằng: “Cơ cấu kinh tế là sự
phân chia về chất lượng và tỉ lệ về số lượng của quá trình sản xuất xã hội" [ ,13] .
Khi có sự thay đổi của một số bộ phận và phân hệ nào đó trong hệ thống kinh tế sẽ
làm thay đổi các bộ phận và phân hệ còn lại, hoặc ngược lại. Trong khi phân tích và
đánh giá một cơ cấu kinh tế trên quan điểm hệ thống nhất thiết phải chỉ ra được
định lượng và định tính của các quan hệ kinh tế. Là kết quả của quá trình phân công
lao động xã hội, cơ cấu kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực
lượng sản xuất của nền kinh tế. Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải có các bộ phận, các
phân hệ được kế hợp với nhau một cách hài hoà, sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực, tài nguyên của đất nước, làm cho nền kinh tế phát triển lành mạnh, có nhịp độ
tăng trưởng và phát triển ổn định, nâng cao mức sống của dân cư và tạo điều kiện
thuận lợi cho người lao động làm việc có hiệu quả.
“Cơ cấu kinh tế tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ
hữu cơ tương đối ổn định hợp thành”. [1]Cơ cấu kinh tế của một nước xét trên tổng
thể bao gồm những mối liên hệ tổng thể giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế của
nước đó, bao gồm các yếu tố kinh tế, các lĩnh vực kinh tế (sản xuất, phân phối, trao
đổi, tiêu dùng),các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ …), các khu
vực kinh tế(nông thôn, thành thị), các thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, cá
thể, hộ gia đình). Ở mỗi vùng, mỗi ngành, mỗi thành phần kinh tế lại có cơ cấu
riêng của mình tuỳ thuộc vào những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội cụ thể. Để có
một nền kinh tế phát triển với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định tất yếu phải có một
cơ cấu kinh tế hợp lý. Cơ cấu kinh tế đó phản ánh được các yêu cầu của quy luật
khách quan: Quy luật tự nhiên, quy luật kinh tế xã hội. Trong việc hình thành và
vận động của cơ cấu kinh tế, nhân tố chủ quan của con người cũng có vai trò rất
quan trọng. Việc nhận thức đầy đủ và ngày càng sâu sắc các quy luật khách quan,

Sán xuất nông nghiệp là hoạt động sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi
các cây trồng và vật nuôi hữu ích cho con người.

6


Nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên. Những điều
kiện tự nhiên như đất đai, độ ẩm, nhiệt độ, bức xạ mặt trời, lượng mưa... trực tiếp
ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng con vật nuôi.
Nông nghiệp cũng là ngành có năng suất lao động thấp vì đây là ngành phụ
thuộc rất nhiều vào tự nhiên, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
nông nghiệp cũng rất khó khăn.
Ngoài ra sản xuất nông nghiệp ở nước ta thường gắn liền với phương pháp
canh tác, lề thói, tập quán …. đã có từ hàng ngàn năm nay.
Ở các nước nghèo nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, và thu
hút một bộ phận lao động quan trọng trong xã hội.
Kinh tế nông nghiệp theo ngành gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư
nghiệp. trong từng ngành cụ thể được phân theo sản phẩm như: ngành sản xuất cây
lương thực, thực phẩm, rau quả, cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, trồng
rừng, chăm sóc, chăn nuôi gia súc, gia cầm, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản…
Chuyên môn hóa càng cao, phân công lao động càng sâu thì phân ngành càng chi
tiết, đa dạng. Sự hình thành các ngành sản xuất chuyên môn hóa phụ thuộc vào điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và được thể hiện trong chiến lược phát triển kinh tế xã
hội của từng quốc gia, địa phương trong từng giai đoạn cụ thể. Vì vậy, việc xác định
và phát triển đúng hướng các ngành chuyên môn hóa trong cơ cấu sản xuất nông
nghiệp có ý nghiã quan trọng đối với việc phát triển kinh tế của địa phương và
của từng vùng. Nó sẽ sử dụng một cách hợp lý các điều kiện đặc thù, làm tăng
năng suất lao động từng ngành và lao động xã hội, tiết kiệm vốn đầu tư, tạo ra
khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, chất lượng cao giá rẻ, đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng nội bộ và xuất khẩu.

các ngành đó được hình thành và ngày càng phát triển cho phép tách sản xuất của
các nhóm sản phẩm và các sản phẩm thành ngành kinh tế cụ thể tương đối độc lập
với nhau nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau.
Ngành nông nghiệp theo nghĩa hẹp bao gồm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi
phục vụ nông nghiệp. Trong trồng trọt lại phân ra: Trồng cây lương thực, cây công
nghiệp, cây ăn quả, cây cảnh …. Ngành chăn nuôi gồm có: chăn nuôi gia súc, gia
cầm, nuôi thuỷ, hải sản…. Những ngành trên được phân ra thành những ngành nhỏ
hơn. Chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình phát triển tạo thành
cơ cấu kinh tế nông nghiệp.

8


Phát triển ngành lâm nghiệp và giải quyết mối quan hệ hợp lý giữa nông
nghiệp với lâm nghiệp, giữa lâm nghiệp với công nghiệp nông thôn là yêu cầu
khách quan của sự phát triển kinh tế nông thôn.
Ngành thuỷ sản là một ngành kinh tế quan trọng cấu thành kinh tế nông
nghiệp ở nước ta. Ngành thuỷ sản bao gồm: nuôi trồng, khai thác, đánh bắt và chế
biến thuỷ hải sản. Đó là một ngành kinh tế có lợi thế để phát triển, góp phần tích
cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp- nông thôn theo hướng
kết hợp nuôi trồng thuỷ đặc sản với nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến
và bảo vệ môi trường sinh thái.
Trong nội bộ ngành nông nghiệp, cơ cấu kinh tế biểu hiện mối quan hệ tỷ lệ
giữa trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ phục vụ nông nghiệp. Đây là mối quan hệ
phản ánh sự phát triển một cách toàn diện nhằm đạt hiệu quả cao của sản xuất kinh
doanh nông nghiệp. Ngoài ra cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp còn biểu
hiện mối quan hệ giữa sản xuất nguyên liệu nông sản và chế biến .
1.1.1.4. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
Xét cả về hình thức và nội dung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp được thể hiện ở
mối quan hệ về lượng và chất của các yếu tố cấu thành kinh tế nông nghiệp. Vì vậy,

nông nghiệp, tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm chăn nuôi. Trong trồng trọt, tăng tỷ
trọng giá trị cây công nghiệp, rau màu, hoa quả. Trong lâm nghiệp, chuyển nhanh từ
khai thác sang thực hiện trồng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng; phủ xanh đất trống, đồi
trọc, chế biến lâm sản. Trong ngư nghiệp, phát triển nuôi trồng gắn với khai thác và
chế biến thủy hải sản.
1.1.2. Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản
xuất hàng hoá và phát triển bền vững.
Trong những năm gần đây ngành nông nghiệp Việt Nam đã phát triển nhanh,
đóng góp gần 1/4 GDP toàn nền kinh tế. Sản xuất lương thực, đặc biệt là lúa gạo
tăng liên tục cả về diện tích gieo trồng và năng suất, đảm bảo an ninh lương thực
quốc gia và đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu
thế giới. Thâm canh trở thành xu hướng chủ đạo với việc áp dụng các thành tựu
khoa học công nghệ mới về giống, quy trình canh tác và chế biến sản phẩm. Chuyên
ngành nông nghiệpthuần đã phát triển theo hướng đa dạng hoá các loại cây trồng,

10


vật nuôi hàng hóa có giá trị và theo nhu cầu của thị trường; Chuyên ngành lâm
nghiệp đã bước đầu ngăn chặn tình trạng suy thoái rừng đã xảy ra trong những năm
gần đây; Chuyên ngành thủy sản đã phát huy lợi thế về nuôi trồng các loài thủy sản
nước ngọt, lợ và mặn trên địa bàn cả nước nên đã tạo ra nhiều loại sản phẩm thủy
sản có giá trị cao, được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng.
Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều thách thức về tính bền vững của phát
triển toàn ngành nông nghiệp như: tăng trưởng nông nghiệp trong thời gian qua chủ
yếu vẫn dựa vào tăng diện tích, tăng vụ và dựa trên tận dụng các yếu tố đầu vào như
lao động, vốn, vật tư và nguồn lực tự nhiên. Trong khi đó, quỹ đất nông nghiệp
giảm mạnh và bị chia nhỏ thành nhiều mảnh để chia cho các hộ gia đình nên đã gây
khó khăn trong áp dụng cơ giới hoá, đưa đến hiệu quả sử dụng thấp; tình trạng lũ
lụt, hạn hạn và dịch bệnh diễn ra phổ biến đã ảnh hưởng xấu đến kết quả sản xuất;

tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, giúp tăng
cường sự hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
+ Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
chính là tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn trên cơ sở giải
quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống, phát triển cơ sở hạ tầng, tạo ra sự
phát triển đồng đều giữa các vùng, giảm bớt khoảng cách giữa đô thị và nông thôn,
giữ vững ổn định, trật tự xã hội và củng cố an ninh quốc phòng quốc gia.
Những vấn đề đặt ra trên đây đã đưa tới sự cần thiết phải tiếp tục chuyển
dịch cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng mới, đó là chú trọng tính hiệu quả, tính
bền vững, từ bỏ cách phát triển theo chiều rộng, chi phí cao, kém hiệu quả và không
bền vững. Đó là nội dung tiếp tục phát triển, chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
trong điều kiện mở rộng thị trường và hội nhập quốc tế đến năm 2020

1.1.3. Nội dung và đặc điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
1.1.3.1. Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông – lâm – thủy sản theo xu hướng giảm dần
tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng lâm nghiệp và ngư nghiệp nhằm khai thác
tốt hơn lợi thế của những tiềm năng đất đai vùng trung du, miền núi, diện tích mặt

12


nước, ao hồ, sông, suối, biển. Đồng thời kết hợp chặt chẽ với nông – lâm – thủy sản
để hỗ trợ nhau cùng phát triển và bảo vệ môi trường sinh thái.
Trong nông nghiệp xu hướng phát triển làm giảm dần độc canh lúa, tăng dần
tỷ trọng cây công nghiệp, rau, quả, cây đặc sản, chăn nuôi để sản xuất ra nhiều nông
sản hàng hóa và xuất khẩu có giá trị cao.
- Chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt và chăn nuôi:
Trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành chủ yếu của nông nghiệp. Trong nền
kinh tế nông nghiệp truyền thống, trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông

- Lâm nghiệp:
Trong lâm nghiệp, chuyển nhanh từ khai thác sang thực hiện trồng, khoanh
nuôi, bảo vệ rừng; phủ xanh đất trống, đồi trọc, chế biến lâm sản. Phát triển lâm
nghiệp toàn diện, bền vững, trong đó chú trọng cả rừng sản xuất, rừng phòng hộ và
rừng đặc dụng; tăng diện tích trồng rừng và độ che phủ rừng trên cơ sở khuyến
khích các thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ để
người dân có thể sống, làm giàu từ trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng; hình thành các tổ
hợp trồng rừng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến lâm sản và phát triển các
vùng rừng chuyên môn hoá bảo đảm đáp ứng ngày càng nhiều hơn nguyên liệu
trong nước cho công nghiệp chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, giấy.
-Ngư nghiệp:
Trong ngư nghiệp, phát triển nuôi trồng gắn với khai thác và chế biến thủy
hải sản.Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản đa dạng theo quy hoạch, phát huy lợi
thế từng vùng gắn với thị trường; coi trọng hình thức nuôi công nghiệp, thâm canh
là chủ yếu đối với thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn; gắn nuôi trồng với chế
biến bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh việc đánh bắt hải sản xa bờ với
ứng dụng công nghệ cao trong các khâu tìm kiếm ngư trường, đánh bắt và hiện đại
hoá các cơ sở chế biến thuỷ sản. Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, cơ sở dịch vụ
phục vụ nuôi trồng, đánh bắt, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản.
1.1.3.2. Đặc điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
Những đặc điểm của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp được biểu hiện
như sau:
-Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn
trong cơ cấu ngành và chúng chỉ có thể có sự chuyển biến mạnh mẽ khi cơ cấu
kinh tế nông nghiệp biến đổi theo hướng có tính quy luật, giảm tương đối và tuyệt

14


đối lao động hoạt động trong khu vực nông nghiệp với tư cách là lao động tất yếu,



doanh không ổn định, quá trình đầu tư lúng túng, lưu thông hàng hoá trở ngại, làm
cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển què quặt và phiến diện, gây lãng phí,
tổn thất cho nền kinh tế.
- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính hợp tác và cạnh tranh. Trong việc
lựa chọn một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý, có hiệu quả cao phải xem xét đầy
đủ các yếu tố từ bên ngoài ảnh hưởng đến việc hình thành cơ cấu kinh tế và mối liên
hệ giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài. Sự gắn bó được biểu hiện trong quá trình
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong việc bố trí sản xuất, hoạch định các
chính sách, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, tổ chức quá trình
sản xuất kinh doanh chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông
nghiệp
1.1.4.1. Nhân tố nguồn lực tự nhiên.
Các nguồn lực tự nhiên như nguồn nước, khí hậu.., có ảnh hưởng mạnh tới
hướng phát triển ngành nông lâm thủy sản ở từng vùng, tiểu vùng địa lý. Điều kiện
tự nhiên khác nhau giữa các vùng, tiểu vùng đã tạo ra lợi thế so sánh và sức cạnh
tranh riêng của ngành nông nghiệp ở từng vùng, tiểu vùng và là căn cứ quan trọng
để xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế vùng về ngành nông nghiệp.
Việt Nam là quốc gia có sự đa dạng cao về điều kiện tự nhiên giữa các vùng,
vì vậy đã tạo ra tính đa dạng của các loại sản phẩm nông, lâm, thủy sản. 7 vùng kinh
tế sinh thái từ Bắc xuống Nam là: Trung du Miền núi phía bắc; Đồng bằng Sông
hồng; Bắc trung bộ; Nam trung bộ; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ và Đồng bằng
Sông cửu long có điều kiện tự nhiên về đất đai, khí hậu rất khác nhau nên đã tạo ra
các lợi thế và bất lợi thế ở từng vùng trong phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản,
hình thành nhân tố tự nhiên, ảnh hưởng mạnh tới định hướng phát triển và cơ cấu
sản phẩm của ngành nông nghiệp ở các vùng, tạo nên tính đa dạng về sản phẩm và
sự khác biệt về cơ cấu ngành nông nghiệp theo vùng sinh thái.


giai đoạn 2005 đến 2010 số lượng lao động trong ngành nông nghiệp tăng từ 23,6
triệu người vào năm 2005 lên 24,4 triệu người vào năm 2013, bình quân tăng

17


126,55 nghìn người/năm (0,5%/năm). Tình trạng lao động ngày càng dư thừa so với
diện tích đất nông nghiệp có thể sử dụng vào sản xuất nông nghiệp gây khó khăn
cho việc tăng quy mô diện tích đất sản xuất của mỗi hộ nông dân và tăng nhanh
năng suất lao động. Về năng suất lao động nông nghiệp, bình quân giai đoạn 20112013 năng suất lao động của 1 lao động nông nghiệp đạt 17,8 triệu đồng, cao hơn
1,1 lần so với giai đoạn 2006-2010 (16,2 triệu đồng) và 1,4 lần so với giai đoạn
2000-2005 (12,7 triệu đồng). Tốc độ tăng năng suất lao động nông nghiệp bình
quân ở giai đoạn 2006-2010 đạt 4,7%/năm cao hơn so với giai đoạn 2001-2005
(4,1%/năm). Bình quân giai đoạn 2000-2013 tốc độ tăng năng suất lao động nông
nghiệp đạt 2,9%/năm. Như vậy, việc sử dụng lao động trong nông nghiệp đã có tiến
bộ về năng suất và thu nhập, nhưng chưa đạt như mong muốn. Ngày nay, kinh tế thị
trường đã phát triển đến sự thống nhất khu vực và thế giới, người lao động trong
nông nghiệp muốn là chủ thể sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hóa thì không
thể chỉ dừng lại ở sản xuất hàng hóa giản đơn mà phải là những người có trình độ
kinh doanh hàng hóa phát triển, phải có tri thức làm giàu. Một mặt người lao động
nông nghiệp phải tự vươn lên năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm; phải có sự
trợ giúp đắc lực của giáo dục và đào tạo, dịch vụ khuyến nông, đặc biệt là vai trò
quy hoạch, đầu tư lớn và đồng bộ của Nhà nước. Đặc biệt trình độ dân trí, khả năng
lao động, kỹ năng nghề nghiệp, tính cần cù, thông minh,… là những yếu tố ảnh
hưởng đến việc hình thành và phát triển nền nông nghiệp hàng hóa. Trong thực tế,
trình độ sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp hàng hóa phải cao hơn người sản
xuất trong nền kinh tế tự nhiên, phải từ bỏ tập quán và thói quen sản xuất theo kiểu
tự cung, tự cấp, dám bỏ sức và tiền của vào sản xuất cái gì có khả năng nhất, hiệu
quả nhất.
1.1.4.3. Lợi thế của địa phương trong phát triển nông nghiệp.

chung; hệ thống các công trình thụy lợi; các yếu tố thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ
sản xuất như đường sá, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, nhà xưởng, kho
bãi,… Các yếu tố này được coi là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, chính là “giá đỡ
vật chất”, là bộ xương sống của sản xuất, là nhân tố trực tiếp làm thay đổi trạng thái
của sản xuất, nâng cao năng xuất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm hàng hóa nông sản.
Phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn liền với cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật hiện đại mà trước hết là công nghệ sinh học, tiến bộ kỹ thuật gen, nuôi cây tế

19


bào. Những thành tựu này, một mặt mở ra khả năng, hướng đi mới, từ ứng dụng và
chuyển giao công nghệ tạo ra những giống cây, con có năng suất, chất lượng cao,
tăng khả năng cạnh tranh; mặt khác đòi hỏi chúng ta phải cân nhắc, lựa chọn, quy
hoạch ứng dựng các công nghệ mới đó một cách hợp lý với điều kiện tự nhiên, đặc
điểm kinh tế - xã hội trong nước.
1.1.4.5. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường
nông sản.
Khả năng cạnh tranh của hàng hóa nông sản có ảnh hưởng mạnh và trực tiếp
đến phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp. Nếu năng lực cạnh tranh
của các sản phẩm nông sản thấp thì nó sẽ làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu
ngành nông nghiệp không thể đạt tới mục tiêu đề ra hoặc đạt ở mức thấp và cơ cấu
ngành vẫn không đem lại hiệu quả, làm kéo dài quá trình này và gây tốn kém, lãng
phí các nguồn lực xã hội. Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về sự khác biệt của điều
kiện tự nhiên. Tuy nhiên, để khai thác lợi thế trên, tránh nguy cơ bị ép giá, ngành
cần hình thành chiến lược sản xuất và phân phối phù hợp với nhu cầu thị trường để
đạt hiệu quả cao nhất. Các đối thủ cạnh tranh chính Việt Nam là Thái Lan,
Indonexia, Ấn Độ, Trung Quốc…
Ảnh hưởng cụ thể của năng lực canh tranh sản phẩn tới chuyển dịch cơ cấu

1.1.4.7. Chính sách nông nghiệp của chính phủ.
Nếu chính sách nông nghiệp đúng đắn, thích hợp nó sẽ phát huy được tính
năng động của các chủ thể sản xuất - kinh doanh, khai thác tốt nhất mọi tiềm năng
thế mạnh của đất nước, đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo
hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa và ngược lại nếu các chính sách nông
nghiệp của Nhà nước không đúng đắn, không thích hợp nó sẽ trở thành yếu tố kìm
hãm sự phát triển nông nghiệp hàng hóa. Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước
thông qua các chính sách để khắc phục những khuyết tật của thị trường, cụ thể như:
chính sách đất đai, chính sách đầu tư và tín dụng, chính sách khoa học - công
nghiệp, chính sách tiêu thụ nông sản… các chính sách này vừa tạo phân công lao
động xã hội, vừa tạo điều kiện môi trường để thúc đẩy sự hình thành và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa.
Thực tiến cho thấy ở nhiều nước trên thế giới, mặc dù điều kiện tự nhiên
không được thuận lợi nhưng nông nghiệp hàng hóa đạt được tốc độ phát triển cao,

21


Trích đoạn Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp huyện Phú Ninh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững, hiệu Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp huyện Phú Ninh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững, hiệu quả Đẩy mạnh quy hoạch ngành nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững hiệu quả Mở rộng và phát triển thị trường. Tích cực ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ trong nông nghiệp.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status