BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN ĐỨC NHÂN
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH
NÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2015
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN ĐỨC NHÂN
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH
NÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 60.31.01.02
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN LUẬN VĂN: TS NGỌ VĂN DUY
HÀ NỘI - 2015
QĐ – UBND
Tổng sản phẩm quốc nội
GDP
Ủy ban nhân dân
UBND
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
N
1.1
NH N N N HI
Ở TH NH HỐ HỒ CHÍ MINH
Quan niệm về cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế ngành nông
nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
1.2
nông nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh
2.2
34
34
Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thành tựu, hạn chế và
những vấn đề đặt ra trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
nông nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3
QUAN ĐIỂM V
IẢI
HÁ
DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ N
39
ĐẨY NHANH CHUYỂN
NH N N
N HI P Ở
TH NH HỐ HỒ CHÍ MINH THỜI GIAN TỚI
3.1.
1. Lý do chọn đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới là một trong
những nội dung cơ bản của đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta. Việc
đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế ngành nông
nghiệp nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phát huy tiềm năng, thế
mạnh của nền kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập, thu hẹp và tiến tới xoá đói,
giảm nghèo. Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế
quốc dân và là một bộ phận trọng yếu của tái sản xuất xã hội. Phát triển
nông nghiệp luôn giữ một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Đối với nước ta, Đảng và Nhà nước luôn
chú trọng khai thác thế mạnh về nông nghiệp với rất nhiều chương trình trọng
điểm khác nhau.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế,
chính trị và đầu mối giao lưu quốc tế có vị trí quan trọng của vùng kinh tế
trong điểm phía Nam và cả nước. Những năm vừa qua, nhờ có sự quan tâm
của chính quyền Thành phố và Trung ương, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng có những thay đổi và đạt
được nhiều thành tựu quan trọng. Bên cạnh những thành tựu đạt được,
ngành nông nghiệp của Thành phố đang đứng trước những thách thức
mới: Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ làm gia tăng áp lực cạnh tranh nông sản
hàng hóa; đất sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, manh mún và suy
thoái nghiêm; tốc độ phát triển kinh tế nông nghiệp còn thấp, cơ cấu kinh
tế nông nghiệp chuyển dịch chậm, chưa hợp lý. Sự lạc hậu của cơ cấu
kinh tế nói chung và cơ cấu ngành nông nghiệp nói riêng đang là một
trong những cản trở lớn đối với sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh.
4
Do vậy, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Thành
“Những nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
trong thời kỳ công nghiệp hóa ở Việt Nam” của PGS, TS Bùi Tất Thắng, sách
do Nxb Khoa học - xã hội, Hà Nội 1997. Tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu
các nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân Việt Nam. Trong đó đặc biệt
nhấn mạnh đến nhân tố khoa học - công nghệ.
Đề tài, “Nghiên cứu, đánh giá tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã
hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh Thanh Hoá thời kỳ 2001 –
2004” - Đề tài khoa học của Cục thống kê Thanh Hoá năm 2005. Trên cơ sở
số liệu thể hiện mức độ hoàn thành chỉ tiêu kinh tế - xã hội, đề tài tập trung
nghiên cứu làm rõ tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội trên địa bàn
tỉnh Thanh Hoá theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá giai đoạn 2001 2004. Trong đó, tập trung vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, bao gồm cả
sự chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành và chuyển dịch trong nội bộ ngành. Đề
tài tập trung phân tích rõ những ưu điểm, hạn chế của chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của tỉnh. Trên cơ sở đó chỉ ra những nguyên nhân và kiến nghị giải
pháp nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong công nghiệp hoá, hiện đại
hoá khu vực miền núi Thanh Hoá hiện nay”, luận văn thạc sỹ Kinh tế chính
trị của Phạm Hữu Hùng, Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng, năm 2012.
Trên cơ sở luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành khu vực miền núi Thanh Hoá, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành khu vực miền núi Thanh Hoá những năm qua. Chỉ rõ những
nguyên nhân hạn chế và những mâu thuẫn đặt ra trong chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành, tác giả đã đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm
6
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành khu vực miền núi Thanh Hoá.
“Chuyển ịch cơ cấu nông nghiệp ở Cộng h a
TS Trần Anh Phương, Tạp chí Cộng sản, số 1(1 9), năm 2009. Tác giả cho
rằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là con đường nhanh chóng đưa nước ta ra
khỏi tình trạng lạc hậu, kém phát triển, đồng thời khái quát nội dung chuyển
7
dịch cơ cấu kinh tế, kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế sau hơn 20 năm đổi
mới, chỉ rõ những mâu thuẫn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ đó đề xuất
và kiến nghị năm giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời
kỳ mới.“Cơ cấu ngành kinh tế: mục tiêu, tiến độ và cảnh báo”, của tác giả
Đào Ngọc Lâm, Tạp chí Cộng sản, số 1 năm 2005. Tác giả đã tập trung
nghiên cứu về cơ cấu kinh tế ngành, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thời
kỳ đổi mới. Khái quát tính tất yếu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Trên
cơ sở đó đề xuất những mục tiêu đặt ra trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành và chỉ tiêu cụ thể đối với các ngành kinh tế. “Chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế tỉnh Thái Nguyên theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá”
của tác giả Phan Ngọc Mai Hương, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 5, năm
2006. Tác giả tập trung trình bày về thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế, phân tích những ưu, khuyết điểm của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế của tỉnh Thái Nguyên. Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả đề xuất các
quan điểm có tính chất định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh
Thái Nguyên. “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở Gia
ai” của tác giả Hải Thu, Tạp chí Ngoại thương, số 34 năm 2004. Theo tác
giả, Gia Lai là một tỉnh miền núi, có điều kiện tự nhiên, khí hậu rất thuận lợi
cho việc phát triển nông, lâm nghiệp. Đây cũng là lĩnh vực chiếm tỷ trọng
chủ yếu trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Tác giả khẳng định vai trò của ngành
Nông nghiệp và phát triển nông thôn Gia Lai. Vì vậy, tác giả đã luận giả và
đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Gia Lai, từ
đó đề xuất những định hướng nhằm tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong giai đoạn mới trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
kinh tế ngành nông nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh.
- Về thời gian: Luận văn tập trung phân tích, nghiên cứu, khảo sát số
liệu, tư liệu từ năm 2011 đến nay.
9
5. hương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn s dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch s của chủ nghĩa Mác - Lênin , tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài s dụng các phương pháp trừu tượng hoá khoa học, kết hợp với
một số phương pháp khác như: Thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp và
khảo sát thực tiễn để giải quyết nhiệm vụ đặt ra.
Tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành nông nghiệp của các tác giả trong nước, vận dụng vào điều kiện
cụ thể của thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, dựa vào các Nghị quyết của
Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh qua các kỳ Đại hội, Báo cáo sơ, tổng kết, số
liệu thống kê kinh tế của UBND, Cục Thống kê, Sở Nông nghiệp và phát triển
nông thôn Thành phố đã được công bố từ năm 2005 đến nay.
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của công trình có thể là cơ sở cho việc hoạch định
các chính sách, chủ trương của lãnh đạo, chính quyền và các cơ quan chức
năng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác, góp phần
nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Đồng thời, kết quả
nghiên cứu của luận văn cũng có thể được s dụng làm tài liệu tham khảo cho
việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy bộ môn kinh tế chính trị liên quan đến vấn
đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động xã hội
trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện
kinh tế - xã hội nhất định, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
Khi nghiên cứu quá trình phân công lao động xã hội, trong tác phẩm
“Góp phần phê phán kinh tế chính trị học”, C.Mác viết: Cơ cấu kinh tế xã hội
là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định
của lực lượng sản xuất vật chất. Theo C.Mác đó là: Sự phân chia về chất
lượng và một tỷ lệ về số lượng của những quá trình xã hội. Tính thống nhất
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong khái niệm cơ cấu kinh tế
cũng được C.Mác chỉ ra một lần nữa khi Người khẳng định rằng: Do tổ chức
quá trình lao động và phát triển kỹ thuật một cách mạnh mẽ cho nên làm đảo
12
lộn kết cấu kinh tế của xã hội.
Cho đến nay, ở nước ta có nhiều quan niệm khác nhau về cơ cấu kinh tế
với những cách tiếp cận khác nhau.
Theo từ điển bách khoa Việt Nam: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các
ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp
thành. Như vậy, nói đến cơ cấu kinh tế là nói đến sự phân chia các ngành, các
lĩnh vực, các bộ phận và mối liên hệ giữa chúng trong nền kinh tế.
Theo quan điểm lý thuyết hệ thống thì: Cơ cấu kinh tế là một tổng thể
hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động
qua lại với nhau trong những không gian và thời gian, những điều kiện kinh tế
- xã hội nhất định, được thể hiện cả về mặt định tính lẫn định lượng, cả về số
lượng và chất lượng, phù hợp với mục tiêu được xác định của nền kinh tế.
Cũng có quan niệm: Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều
yếu tố của nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ, những tác
động qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều
kiện kinh tế xã hội cụ thể, chúng vận động và hướng vào những mục tiêu nhất
nó phản ánh mối quan hệ lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của nền kinh
tế. Vì vậy, khi nghiên cứu về cơ cấu kinh tế, chúng ta cần tiếp cận trên cả hai
góc độ đó là vật chất - kỹ thuật và kinh tế - xã hội.
Một à, ưới góc độ vật chất - kỹ thuật thì bao gồm:
Cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực kinh tế: Nó phản ánh số lượng, vị trí, tỷ
trọng các ngành nghề, lĩnh vực bộ phận cấu thành nền kinh tế; trình độ lực lượng
sản xuất hiện có. Trên cơ sở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân
công lao động xã hội sẽ hình thành cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực tương ứng.
Cơ cấu theo quy mô, trình độ kỹ thuật, công nghệ của các loại hình tổ
chức sản xuất: Nó phản ánh chất lượng của các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu
thành nền kinh tế.
14
Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ: Nó phản ánh khả năng kết hợp, khai
thác tài nguyên, tiềm lực kinh tế - xã hội của các vùng, phục vụ cho mục tiêu
phát triển nền kinh tế quốc dân thống nhất.
Hai à, ưới góc độ kinh tế - xã hội, bao gồm:
Cơ cấu thành phần kinh tế: Phản ánh khả năng khai thác, năng lực tổ
chức sản xuất kinh doanh của mọi thành viên trong xã hội. Biểu hiện mối
quan hệ giữa các bộ phận, thành phần kinh tế dựa trên chế độ, hình thức sở
hữu khác nhau. Mặt kinh tế - xã hội của cơ cấu kinh tế thể hiện trình độ phát
triển xã hội, mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình phát
triển; trình độ hoàn thiện quan hệ sản xuất của nền kinh tế.
Khi nghiên cứu cơ cấu kinh tế, bao gồm những đặc trưng chủ yếu sau:
Tính khoa học, điều đó có nghĩa nó phản ánh đúng các quy luật khách
quan, nhất là quy luật kinh tế.
Cơ cấu kinh tế phải bảo đảm mối quan hệ cân đối và đồng bộ giữa các
bộ phận kinh tế nằm trong một tổng thể. Nói cách khác, nó mang tính hệ thống.
Cơ cấu kinh tế luôn luôn vận động, biến đổi vì nó gắn với sự biến đổi,
kết chặt chẽ nhau như một kiểu cấu trúc mà mọi bộ phận cấu thành (các
ngành kinh tế) có thuộc tính riêng, đặc trưng riêng nhưng cùng tồn tại và phát
triển, tuỳ thuộc vào nhau.
Khi nghiên cứu về cơ cấu ngành kinh tế của một quốc gia, người ta
thường phân tích 3 nhóm ngành chính là nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ
(ngành cấp I). Tuỳ theo mục đích, tính chất, mức độ nghiên cứu mà có thể
chia ra các phân ngành (ngành cấp II) như: Trồng trọt, chăn nuôi… trong
nông nghiệp; cơ khí, luyện kim, năng lượng … trong công nghiệp; ngành cấp
III (lúa, màu…) trong trồng trọt .v.v… cơ cấu ngành kinh tế là một bộ phận
cơ bản cấu thành cơ cấu của nền kinh tế quốc dân. Nó là một phạm trù trừu
tượng, có quan hệ phức tạp với các bộ phận kinh tế khác,...
1.1.2. Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất lâu đời nhất của nhân loại trong
hệ thống ngành kinh tế quốc dân, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển
16
xã hội loài người, là tổng hợp các ngành sản xuất của cải vật chất mà còn
người phải dựa vào các quá trình, quy luật sinh học (đối tượng sản xuất là
những cơ thể sống) để thỏa mãn các nhu cầu của mình. Nó là ngành sản xuất
khởi đầu của quá trình sản xuất vật chất của xã hội loài người.
Nói cách khác nông nghiệp là một hệ thống phức hợp của đời sống kinh
tế - xã hội gắn bó chặt chẽ với kinh tế nông thôn và nông dân, là một bộ phận
cấu thành của nền kinh tế; việc sản xuất ra các sản phẩm không chỉ gắn liền
với quá trình kinh tế mà cũng gắn liền với quá trình tự nhiên của tái sản xuất;
nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: Trồng
trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp,
thủy sản.
Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu
theo tỷ lệ về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế
trong nội bộ các ngành. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành làm cho cơ cấu cũ,
lạc hậu, không phù hợp thành cơ cấu mới hoàn thiện và phù hợp hơn. Như
vậy, thực chất chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là sự điều chỉnh mối quan hệ,
tỷ trọng giữa các ngành cho phù hợp với các mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác
định cho từng thời kỳ phát triển.
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp:
Ngành là tổng thể các đơn vị kinh tế thực hiện một loạt chức năng trong
hệ thống phân công lao động xã hội. Ngành phản ánh một loạt hoạt động nhất
định của con người trong quá trình sản xuất xã hội, nó được phân biệt theo
tính chất và đặc điểm của quá trình công nghệ, đặc tính của sản phẩm sản xuất
ra và chức năng của nó trong quá trình tái sản xuất.
Vì vậy, có thể hiểu: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp à
quá trình àm thay đổi các quan hệ số ượng, vị trí, tỷ trọng và mối quan hệ
tương tác c a các ngành kinh tế trong nông nghiệp phù hợp với sự tiến bộ
18
c a khoa học, công nghệ, nhu cầu thị trường nh m sử dụng có hiệu quả mọi
yếu tố nguồn lực c a đất nước.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp nó thể hiện ở việc
đa đạng hóa, tập trung hóa các ngành sản xuất của nông nghiệp một cách toàn
diện để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng lên của xã cả về chất lượng
và số lượng, phát triển các ngành s
dụng nguyên liệu đầu vào từ nông
nghiệp, tăng năng suất lao động trong nông nghiệp, tăng thu nhập của người
nông dân.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp có những đặc điểm cơ
bản sau:
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp phụ thuộc hết
sức chặt chẽ vào điều kiện kinh tế - xã hội, những điều kiện tự nhiên nhất
định cũng như sự thay đổi của nó.
Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp được hình thành và vận động trên cơ
sở điều kiện tự nhiên và mức độ lợi dụng, khai thác cải thiện điều kiện tự
nhiên (độ ẩm, ánh sáng, lượng mưa… tức là những nguồn lực của đầu vào
được cung cấp bởi tạo hoá) nhằm khai thác tối ưu và cải thiện điều kiện tự
nhiên để có lợi cho con người nhất. Việc xác lập và biến đổi chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành nông nghiệp như thế nào là phụ thuộc vào các điều kiện
kinh tế - xã hội, những điều kiện và hoàn cảnh tự nhiên nhất định chứ không
phụ thuộc vào ý kiến chủ quan. Con người chỉ có thể nhận thức để tác động
thúc đẩy hoặc hạn chế vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp này
theo hướng ngày càng có hiệu quả cao theo mục tiêu đã xác định. Vì vậy, tuỳ
theo điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội cụ thể cơ cấu kinh tế ngành nông
nghiệp phản ánh sự tác động của các quy luật phát triển khách quan, bởi nó
hình thành do sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động chi
20
phối. Nó phản ánh quy luật chung của quá trình phát triển kinh tế xã hội
nhưng ở mỗi vùng, địa phương lại có một cơ cấu khác nhau, do đó ta thấy cơ
cấu kinh tế ngành nông nghiệp mang tính “vùng, khu vực” rõ rệt. Xuất phát từ
việc tôn trọng đặc điểm cơ bản này để xây dựng cơ cấu kinh tế ngành nông
nghiệp, nhất thiết không thể theo một khuôn mẫu chung mà phải có tính linh
hoạt, mềm dẻo, phù hợp với không gian và thời gian thì mới đảm bảo được
hiệu quả kinh tế.
Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp không bó hẹp
trong một không gian lãnh thổ, mà luôn gắn liền với quá trình phân công lao
động và hợp tác với bên ngoài.
Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp tồn tại và phát triển phụ thuộc vào
hiện đại hoá đất nước nói chung và của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
đang đặt ra cho Thành phố những cơ hội và thách thức mới. Sự xuất hiện các
ngành nghề mới trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, sự thay đổi về tỷ
trọng giữa các ngành đang trở thành xu hướng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành nông nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở quan niệm
chung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp đã trình bày ở trên,
vận dụng vào thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh có thể hiểu:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp ở thành phố Hồ Chí
Minh à hoạt động ch động c a các cấp, các ngành, các thành phần kinh tế
nh m thay đổi số ượng, vị trí, tỷ trọng và mối quan hệ tương tác c a các
ngành kinh tế trong nông nghiệp phù hợp với xu thế chung c a sự phát triển.
Quan niệm trên đây cho thấy:
Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp ở thành phố
Hồ Chí Minh là tạo ra một hệ thống các tiểu ngành, nghề mới trong ngành
nông nghiệp phù hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng trong
Thành phố, chuyển từ sản xuất nông nghiệp manh mún, sức cạnh tranh thấp
22
sang nền nông nghiệp đô thị, hiện đại, hiệu quả, bền vững và hợp lý cơ cấu
giữa các ngành trong nông nghiệp. Từ đó để xây dựng một nền nông nghiệp đô
thị hiện đại, bền vững, có hàm lượng chất xám cao, công nghệ hiện đại, được
đầu tư toàn diện và đồng bộ, mang lại năng xuất, chất lượng, hiệu quả và khả
năng cạnh tranh cao, phù hợp đặc thù nông nghiệp của một đô thị lớn.
Chủ thể của quá trình này: Đảng bộ và chính quyền thành phố Hồ Chí
Minh là chủ thể trực tiếp lãnh đạo, định hướng; xây dựng kế hoạch, cơ chế,
chính sách, xác định phương thức cho phù hợp đồng thời là người cùng trực
tiếp tham gia vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn.
Đối tượng: Người nông dân vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh, là
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp ở thành phố Hồ Chí
Minh là chuyển từ sản xuất nông nghiệp manh mún, sức cạnh tranh thấp sang
nền nông nghiệp đô thị, hiện đại, hiệu quả, bền vững và hợp lý cơ cấu giữa
các ngành trong nông nghiệp. Cụ thể trên các nội dung sau:
Thứ nhất, chuyển ịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp ở thành phố
Hồ Chí Minh à bảo đảm quan hệ chuyển dịch giữa nông nghiệp với âm
nghiệp, ngư nghiệp.
Nông nghiệp một bộ phận cấu thành của nền kinh tế đóng góp trực tiếp
vào tăng trưởng kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh (GDP). Nông nghiệp vẫn
là nguồn việc làm và thu nhập chính của cư dân nông thôn của thành phố Hồ
Chí Minh, là nhân tố kinh tế chi phối các hoạt động sản xuất, đời sống, việc
làm, văn hoá - xã hội của nhân dân nông thôn ngoại thành. Cơ cấu ngành
trong nông nghiệp là nội dung chủ yếu của chiến lược phát triển các ngành
của nông nghiệp và là hạt nhân của cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Việc xác lập
cơ cấu ngành hợp lí, thích ứng với từng giai đoạn phát triển có ý nghĩa cực kì
quan trọng đối với sự phát triển của mỗi ngành.