ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGÔ SỸ TIỆP
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
TRONG QUÁ TRÌNHCÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số: 60.31.01
nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thái Nguyên
11
1.1. Cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp, nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở nước ta
1.2. Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp ở nước ta và các
địa phương trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn
1.3. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp một số tỉnh
trung du và đồng bằng ở Việt Nam
Chương 2
Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp
thời gian qua ở tỉnh thái nguyên
1
1
2
7 3
1
4
0
2.1. Khái quát những đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Nguyên
Thuận lợi và khó khăn
2.2. Hiện trạng cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp thời gian qua ở Thái Nguyên
70
70 87
99
101
106
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
TRONG LUẬN VĂN
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
CNH, HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CDCCKTNCN
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp
KTTT
Kinh tế thị trường
UBND
Uỷ ban nhân dân
QLNN
Quản lý nhà nước
NSNN
Ngân sách nhà nước
LLLĐ
Lực lượng lao động
DN
Doanh nghiệp
51
Bảng 2.5: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp qua các năm từ 2001 - 2005
60
Bảng 2.6: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp thời kỳ 2001 - 2005
62
Bảng 2.7: Giá trị sản xuất công nghiệp và cơ cấu của nó thời kỳ 2001 - 2005. (Phân theo
thành phần kinh tế - theo giá cố định 1994)
65
Lược đồ 1: LLLĐ chia theo giới tính 2001 - 2005
46
Lược đồ 2: Cơ cấu lao động chia theo khu vực thành thị, nông thôn
47
Lược đồ 3: Cơ cấu LLLĐ chia theo trình độ CMKT 2001- 2005
48
Lược đồ 4: Cơ cấu lao động có việc làm chia theo khu vực kinh tế
49
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu GDP/ người, tốc độ tăng trưởng, kinh tế đối ngoại và mức thu
ngân sách từ nay đến 2010 và tầm nhìn 2020
72
Bảng 3.2: Cơ cấu kinh tế tỉnh thái Nguyên qua 2 thời điểm 2010 và 2020
72
Bảng 3.3: Một số chỉ tiêu về phát triển xã hội qua 2 thời điểm 2010 và 2020
73
Bảng 3.4: Một số sản phẩm chính của nhóm ngành công nghiệp chế biến nông - lâm sản -
thực phẩm đến 2010, 2015 và 2020
81
Bảng 3.5: Nhu cầu vốn cho phát triển công nghiệp thời kỳ 2006 - 2010 của Thái Nguyên
88
nghiệp hoá, hiện đại hoá” nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ Kinh tế, chuyên ngành
Kinh tế chính trị, mã số 60.31.01.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có nhiều công trình, nhiều đề tài, nhiều
tác giả nghiên cứu ở những khía cạnh và mức độ khác nhau như:
- Ngô Đình Giao (chủ biên), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994.
- Phạm Khiêm ích - Nguyễn Đình Phan, Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
Việt Nam và các nước khu vực, NXB Thống kê, Hà Nội, 1994.
- Trần Văn Nhưng, Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Luận án tiến sĩ, năm 2001.
- Gần đây cũng đã có một số luận văn thạc sĩ viết về chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, hoặc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp trên địa bàn một số
tỉnh như: Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Đồng Nai
Nhìn chung các đề tài đã nghiên cứu và công bố, phản ánh nhiều mặt của
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước hoặc trên một địa bàn, một địa phương
nhất định. Song cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành công nghiệp ở Tỉnh Thái Nguyên, nhất là nghiên cứu nó như một đề
tài độc lập, mang tính hệ thống như đề tài mà tác giả chọn để nghiên cứu và thực
hiện trong luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích của luận văn:
Trên cơ cở vận dụng lý luận và phân tích thực trạng về chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành công nghiệp, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở Thái Nguyên thời gian tới.
* Nhiệm vụ của luận văn: - Trình bày có hệ thống một số vấn đề lý luận liên quan đến việc chuyển dịch
- Phân tích đưa ra những đánh giá có căn cứ khoa học về thực trạng chuyển
dịch cơ cấu ngành công nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh
Thái Nguyên trong thời gian qua.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản, có tính khả thi nhằm đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở Thái Nguyên thời gian tới.
* Ý nghĩa :
Kết quả của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định
chiến lược phát triển ngành công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Thái Nguyên. Nó cũng có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu giảng dạy ở các
Trường đại học và Cao đẳng có liên quan.
7. Tên và kết cấu của luận văn
* Luận văn có tên đề: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp
ở tỉnh Thái Nguyên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá”
* Kết cấu: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
về nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cở sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công
nghiệp trong quá trình CNH, HĐH.
Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp trong quá
trình CNH, HĐH thời gian qua ở TỉnhThái Nguyên.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành công nghiệp trong quá trình CNH, HĐH ở Tỉnh Thái Nguyên thời
gian tới. Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRONG
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Năm 1963 UNIDO (Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc) đã
đưa ra định nghĩa:
Công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế trong đó một bộ phận
năng lực quốc gia ngày càng lớn được huy động để xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều
ngành với công nghiệp hiện đại để chế tạo ra các phương tiện sản xuất, hàng tiêu
dùng, có khả năng đảm bảo một nhịp tăng trưởng cao trong toàn nền kinh tế và đảm
bảo sự tiến bộ kinh tế và xã hội [25, tr.6].
Tóm lại: Tuy có rất nhiều quan niệm khác nhau về công nghiệp hóa nhưng chủ
yếu là hai quan niệm sau:
Một là: Theo nghĩa hẹp, công nghiệp hóa là quá trình phát triển công
nghiệp trong một thời kỳ nhất định, trong đó nền sản xuất xã hội được tổ chức theo
lối công nghiệp dựa trên cơ sở thay thế lao động thủ công bằng máy móc và máy
móc chiếm ưu thế.
Hai là: Theo nghĩa rộng, công nghiệp hóa là quá trình công nghiệp liên tục,
cải tổ thường xuyên cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hiện đại, ngày càng đa
dạng.
Có nhiều quan niệm khác nhau về công nghiệp hóa như vậy là bởi trên thực
tế, công nghiệp hóa là quá trình phức tạp, lâu dài mà việc phân biệt các mốc giới,
định tính, định lượng và về thời gian không phải là điều dễ dàng. Mặt khác, sự biểu
hiện về mô hình của nó gắn với mỗi quốc gia dân tộc do những điều kiện, hoàn
cảnh khác nhau cũng không thể thuần nhất. Dù như vậy, cũng cần hiểu một cách
khái quát nhất: Công nghiệp hóa là quá trình phát triển kinh tế diễn ra lâu dài, bắt
đầu từ khi xuất hiện công nghiệp và đến khi nền kinh tế với công nghiệp phát triển cao cũng chưa phải là điểm kết thúc mà lại có thể là mở đầu cho một cuộc cách
mạng công nghiệp mới.
Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc
hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh lại phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ
chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Đảng ta đã sớm nhận thức được vị
Quan niệm này không những phản ánh được nội dung của quá trình công
nghiệp hóa mà nêu bật được mục tiêu công nghiệp hóa. Công nghiệp hóa chính là
quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế
quốc dân, bao hàm tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động chứ không riêng chỉ
phát triển ở lĩnh vực công nghiệp.
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ
đã tiến lên một nấc thang mới, loài người đang bước vào kinh tế tri thức. Vì vậy,
công nghiệp hóa đòi hỏi phải gắn với quá trình hiện đại hóa, kể cả những nước có
nền kinh tế lạc hậu như nước ta. Không thể tiến hành công nghiệp hóa theo kiểu
"cổ điển" như ở phương Tây thế kỷ XVIII mà công nghiệp hóa phải gắn với việc
tận dụng những thành quả khoa học - kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến của thế
giới. Công nghệ truyền thống gắn với ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên
tiến của thời đại, là giải pháp quyết định đưa nước ta thoát khỏi đói nghèo lạc hậu
và nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế - công nghiệp hóa phải gắn với hiện đại hóa.
Hay nói cách khác, để có quan niệm đúng đắn, đầy đủ về công nghiệp hóa phải đặt
nó trong mối quan hệ với hiện đại hóa. Tất nhiên công nghiệp hóa và hiện đại hóa
là hai khái niệm khác nhau nhưng lại đan xen, tích hợp, lồng ghép và bổ sung cho
nhau. Nếu như công nghiệp hóa là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
phát triển mạnh công nghiệp thì hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn
diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ chỗ
theo những quy trình công nghệ thủ công là chính sang chỗ sử dụng một cách phổ biến
những quy trình công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tạo ra năng suất lao động, hiệu quả và
trình độ văn minh kinh tế xã hội cao [62, tr.63].
Sự gắn kết giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang trở thành xu thế tất
yếu của các nước đang phát triển. Nó trở thành khái niệm "kép" trong nhận thức về
mục tiêu phát triển kinh tế của nhiều quốc gia.
Trên tinh thần đó, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
qua các thời kỳ. Xây dựng được một cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ cho phép tạo nên sự
cân đối, hài hoà của nền kinh tế, từ đó sử dụng một cách hiệu quả các nguồn lực, tài
nguyên, của cải vật chất, tinh thần và sức lao động. Điều đó có ý nghĩa quan trọng
trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, từ đó tạo nên sự tiến bộ xã hội.
Thuật ngữ “cơ cấu” có nguồn gốc ban đầu từ chữ La tinh “Strucke”, nó phản
ánh cách xắp xếp các bộ phận của một chỉnh thể. Sau đó, các khái niệm này được
sử dụng mở rộng hơn cho các ngành khoa học khác.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam “cơ cấu kinh tế”: là tổng thể các ngành, lĩnh
vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.
Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống C.Mác tiếp cận
cơ cấu nền kinh tế như là: Toàn bộ các quan hệ giữa những người làm nhiệm vụ
sản xuất với nhau và giữa họ với tự nhiên - tức là những điều kiện trong đó họ tiến
hành sản xuất, toàn bộ những quan hệ đó hợp thành xã hội, xét về mặt cơ cấu của
nó. Như vậy theo C.Mác, cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản
xuất phù hợp với tính chất, trình độ, quá trình phát triển nhất định của lực lượng
sản xuất vật chất của xã hội đó, từ những quan điểm trên của C.Mác ta nhận thấy
rằng:
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ về số lượng và chất lượng tương đối
ổn định giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế với những điều kiện kinh tế - xã
hội nhất định trong khoảng thời gian nhất định. C.Mác khẳng định, khi phân tích cơ cấu kinh tế phải xem xét trên cả hai mặt, số
lượng( quy mô, tỷ trọng, tốc độ) và chất lượng( vị trí, sự tương tác, trình độ công
nghệ ). Đó là biểu hiện của mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, lĩnh vực kinh tế. Do
đó, cơ cấu là: “ một sự phân chia về chất lượng và một tỷ lệ về số lượng của quá
trình sản xuất xã hội” [63; tr103]. Từ nhận định trên ta nhận thấy rằng, cơ cấu kinh
tế có cấu trúc bao gồm: Những yếu tố gắn với lực lượng sản xuất (các quan hệ giữa
họ với tự nhiên, kỹ thuật) và các nội dung của quan hệ sản xuất (các quan hệ kinh
tế giữa người với người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội) hợp thành.
Khi nghiên cứu khái niệm cơ cấu kinh tế, chúng ta xem xét nó ở trạng thái
tĩnh hay trạng thái tĩnh hay trạng thái tương đối ổn định, nhưng khi tiếp cận khái
niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế là nghiên cứu nó ở trạng thái động có tác dụng
làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Như vậy, cùng với việc tổ chức lao động một cách khoa học, kỹ thuật - công
nghệ ngày càng phát triển tất yếu làm cho cơ cấu kinh tế của một xã hội cũng thay
đổi, phát triển đi từ thấp đến cao, từ chưa hợp lý đến hợp lý, hiện đại và hiệu quả
cao theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Với cách đặt vấn đề như vậy, chúng
ta có thể hiểu:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp là quá trình thay đổi cấu trúc, tỷ
trọng, tốc độ và chất lượng các mối quan hệ kinh tế giữa các nhóm ngành, các khu,
cụm điểm công nghiệp và các thành phần kinh tế trong ngành công nghiệp nhằm
đạt tới một cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại và hiệu quả hơn, tạo thế và lực mới cho
tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, trong giai đoạn của công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp.
Quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế chịu sự chi phối của nhiều nhân tố
đa dạng và phức tạp, đó là những nhân tố khách quan và chủ quan sau đây: Một là: Nhân tố về địa lý, tự nhiên (khí hậu, đất đai, tài nguyên…)
Các Mác viết : “ Bất cứ nền sản xuất xã hội nào cũng là việc con người chiếm hữu
lấy những đối tượng của tự nhiên, trong phạm vi một hình thái xã hội nhất định”
[27, tr 282]. Do sản xuất là “ sự chiếm hữu tự nhiên ” nên quá trình chiếm hữu đó
cũng luôn luôn chịu ảnh hưởng của chính những điều kiện tự nhiên. Do đó, ảnh hưởng
của địa lý, tự nhiên tới sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một tất yếu, một
nhân tố không thể thiếu được của một nước, mỗi ngành và mỗi địa phương khi chyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hóa.
Vị trí địa lý của một quốc gia góp phần tạo ra sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu
Dân số, sức lao động, đây được xem là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế nói
chung và nghành công nghiệp nói riêng. Dân số và tốc độ tăng dân số của một nước có
ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng kinh tế cũng như chyển dịch cơ cấu kinh tế của một
nước. Nếu có nguồn lực lao động dồi dào thì sẽ có nguồn nhân lực phục vụ cho sản xuất
nhiều hơn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tuy nhiên nếu tốc độ tăng dân số quá
cao sẽ làm tăng trưởng kinh tế chậm lại. Việc cải thiện chất lượng lao động hay nguồn
nhân lực ( Như: kỹ năng kiến thức mà người lao động tích luỹ được trong quá trình lao
động, học hỏi, giáo dục) là cơ sở quan trọng để phát triển các nghành công nghiệp kỹ
thuật cao, sẽ có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế. Quy mô dân số và thu nhập của
dân cư tăng sẽ tạo ra một thị trường tiêu thụ rộng lớn, đó là cơ sở để phát triển các ngành
công nghiệp chế biến, sản xuất hàng tiêu dùng cho xã hội, làm cho tỷ trọng của ngành
công nghiệp cũng tăng lên. Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, có tay nghề tinh xảo,
người Việt Nam lại cần cù thông minh sẽ nhanh chóng tiếp thu tiến bộ khoa học công
nghệ có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu lao động cho nghành công nghiệp.
Vốn đầu tư cũng là một yếu tố nguồn lực trong quá trình sản xuất, là nhân tố
quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, nhà nước sử dụng vốn ngân sách và huy động
vốn toàn xã hội, trong nước và ngoài nước để đầu tư phát triển sản xuất, sẽ tạo ra sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nghành công nghiệp
nói riêng một cách nhanh chóng. Vốn là chìa khoá cho mọi sự phát triển kinh tế của một quốc gia, nếu không có vốn để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị hiện đại, đổi mới công
nghệ thì sẽ không có tăng trưởng kinh tế. Hiện nay Việt Nam đang trong giai đoạn tiến
hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên rất cần một số lượng vốn lớn, nguồn vốn này
được huy động từ trong và ngoài nước. Nguồn vốn huy động trong nước( nội lực) là
nguồn vốn có tính chất quyết định để đầu tư vào sản xuất, đó chính là từ sự tiết kiệm của
dân cư và nền kinh tế của đất nước, tỷ lệ tiết kiệm và khối lượng tiết kiệm càng lớn thì sẽ
có vốn lớn để đầu tư phát triển kinh tế, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chyển dịch cơ
cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nghành công nghiệp. Nguồn vốn nước ngoài (ngoại lực) là
nguồn vốn quan trọng, bao gồm: vốn viện trợ phát triển chính thức ODA, vốn đầu tư trực
1964, Mỹ phong toả vịnh Bắc bộ ném bom và ngư lôi ở Hải Phòng và Quảng Ninh gây
chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, công nghiệp hoá lúc này bị gián đoạn do chiến tranh hay
chuyển sang làm công nghiệp hoá theo quan điểm phục vụ chiến tranh là chủ yếu.
Mặc dù cơ cấu kinh tế mang tính khách quan và tính lịch sử xã hội nhưng các tính
chất này lại chịu sự tác động, chi phối của Nhà nước. Khi tác động gián tiếp, nhà nước
bằng cách định hướng chiến lược phát triển kinh tế, khuyến khích mọi lực lượng sản xuất
xã hội nhằm đạt được mục tiêu đề ra, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như nội
bộ cơ cấu kinh tế nghành công nghiệp, bằng lực lượng kinh tế của mình Nhà Nước có thể
sẽ tập trung vốn để đầu tư vào việc phát triển những ngành công nghiệp mũi nhọn, trọng
điểm, có lợi thế cạnh tranh cao, đồng thời Nhà Nước hướng dẫn cho mọi thành phần kinh
tế, các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất theo mục tiêu kinh tế xã hội đề ra. Bên
cạnh đó, Nhà nước điều hành nền kinh tế thông qua các hệ thống luật pháp, các chính
sách kinh tế và các công cụ điều tiết khác như: đối với những ngành sản xuất hoặc những
sản phẩm cần hạn chế phát triển thì nhà nước sẽ đánh thuế cao, ngược lại những ngành
sản xuất hoặc sản phẩm cần phát triển thì Nhà nước sẽ miễn giảm thuế hoặc đánh thuế
thấp để khuyến khích nhà sản xuất, từ đó sẽ đẩy mạnh sản xuất của ngành đó. Đối với
những ngành sản xuất không có lãi hoặc không ai muốn đầu tư sản xuất nhưng sản phẩm
của nó lại rất cần cho xã hội thì Nhà nước tự đầu tư và tự tổ chức sản xuất. Ngoài ra, với sự ổn định về chính trị của đất nước, với đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa
dạng hoá các mối quan hệ quốc tế sẽ tạo ra các lợi thế quan trọng trong việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, là điều kiện để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài an tâm đầu tư vào đất
nước đó.
Như vậy môi trường chính trị - xã hội không ổn định, định hướng chiến lược kinh
tế và môi trường thể chế chính sách của Nhà nước luôn có sự thay đổi sẽ khó có thể
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tình hình thể chế kinh tế thị trường, thị trường và nhu cầu tiêu dùng trên thị
trường của xã hội. Sau 20 năm chuyển đổi nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường
định hướng XHCN cho thấy, thị trường có vai trò là khâu trung gian giữa nhà sản xuất và
dịch chuyển lao động từ nông thôn vào thành thị, cơ cấu sản xuất công nghiệp sẽ tăng lên,
tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu trong ngành công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
của xã hội ngày càng cao và phong phú hơn.
Bốn là: Nhóm nhân tố tác động của tình hình thế giới.
Xu hướng chính trị xã hội của khu vực và thế giới ảnh hưởng tới sự hình thành và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp. Sự biến động về chính trị xã hội của một
nước hay một số nước trên thế giới sẽ tác động mạnh đến các hoạt động ngoại thương,
thu hút vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ của các nước trên thế giới và khu vực. Nên
buộc các nước phải điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế, nhất là cơ cấu ngành công
nghiệp, để đảm bảo cho nền kinh tế nước mình phát triển ổn định. Ví dụ: Cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ nổ ra vào năm 1997 ở Châu Á, bắt đầu từ Thái Lan sau đó lan ra
hầu hết các nền kinh tế trong khu vực đã để lại những hậu quả nghiêm trọng cho các nước
này, hoặc những thay đổi trong hệ thống chính trị ở các nước khu vực ASEAN sẽ là
những nguy cơ tiềm tàng cho quá trình khôi phục và tăng trưởng kinh tế của toàn bộ khu
vực do sự tác động lây lan của nó, từ khủng hoảng chính trị xã hội sẽ chuyển thành khủng
hoảng kinh tế và ngược lại.
Xu thế toàn cầu hoá kinh tế và quốc tế hoá lực lượng sản xuất, ngày nay toàn cầu
hoá kinh tế đã trở thành xu thế khách quan của thế giới hiện đại, nó tác động đến mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội của các nước trên thế giới. Nó bắt nguồn từ sự phát triển
vượt bậc của lực lượng sản xuất trên quy mô quốc tế dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, làm cho tính xã hội hoá của hoạt động sản
xuất tăng lên và sự phân công lao động trở nên sâu sắc hơn, các mối quan hệ giữa các
vùng tác động qua lại tuỳ thuộc lẫn nhau trong nền kinh tế giữa các quốc gia và khu vực
ngày càng sâu rộng và mật thiết với nhau. Toàn cầu hoá là một quá trình phức tạp đầy
mâu thuẫn, nó chứa đựng những mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực, cả thời cơ và thách thức
đối với các quốc gia trên thế giới, nhất là đối với các nước đang phát triển phải chịu nhiều
thách thức gay gắt hơn hết. Cơ hội của toàn cầu hoá chính là tạo ra sự phát triển kinh tế
thông qua việc thu hút đầu tư, chuyển giao khoa học công nghệ, tự do hoá thương mại,