ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
BÙI VĂN NỞ
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
TRONG CÁC XÃ NÔNG THÔN MỚI
Ở TỈNH VĨNH LONG
Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60310640
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
Trà Vinh, tháng 01 năm 2016
Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN TRI NGUYÊN
Phản biện 1: PGS.TS NGUYỄN XUÂN HƯƠNG
Phản biện 2: TS. NGUYỄN PHÚC NGHIỆP
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc
sĩ Văn hóa học họp tại Trường Đại học Trà Vinh vào ngày 16 tháng
01 năm 2016
mạo” với nhiều nét không pha lẫn. Sống trong xã, mỗi cá thể có
mối quan hệ rằng rịt, nhiều chiều về dòng tộc, họ hàng và các
-2nhóm lợi ích, các tổ chức xã hội. Đó là cơ sở hình thành nên ý
thức cộng đồng trong mỗi người. Đồng thời, cũng được bởi xã
“đùm bọc” nên con người sống biết bổn phận, có trách nhiệm và
luôn lấy tình nghĩa làm trọng.
Nông thôn mới trước hết phải là sự nối tiếp và kế thừa
các giá trị tốt đẹp của nông thôn truyền thống, đặc biệt là đời
sống văn hóa. Trong bộ 19 tiêu chí nông thôn mới thì có hai tiêu
chí thuộc lĩnh vực văn hóa là cơ sở vật chất văn hóa (tiêu chí
06) và văn hóa (tiêu chí 16). Theo như quy định của ngành chức
năng thì việc hội tụ được hai tiêu chí này là điều kiện “cần” và
“đủ” để khẳng định địa phương ấy đạt chuẩn “nông thôn mới”
về văn hóa. Cụ thể: có cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động văn
hóa, người dân biết giúp nhau phát triển kinh tế, xây dựng gia
đình, khóm, ấp văn hóa, các hoạt động văn hóa, văn nghệ truyền
thống gắn với thuần phong mỹ tục được gìn giữ, phát huy, các
di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên được bảo vệ; nếp sống văn
minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội được thực hiện; môi
trường xanh, sạch, ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn xã hội, người dân
được phổ biến và nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương của
Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Tuy nhiên, nếu nhìn trên bình diện của sự đa dạng và
khác biệt thì mỗi xã là một bản thể. Cho nên, mặc dù thực hiện
theo một quy định chung, song mục đích không thể là “sản
xuất” ra hàng loạt những xã nông thôn mới giống nhau như sản
phẩm công nghiệp. Bởi như vậy sẽ không còn là nông thôn,
làng quê Việt Nam truyền thống, thậm chí có thể đánh mất đi
+ Đưa ra quan niệm về tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo xây
dựng đời sống văn hóa nông thôn mới, phân tích nội dung,
phương thức, nguyên tắc.
-4+ Đánh giá đúng thực trạng về xây dựng đời sống văn
hóa nông thôn mới, làm rõ những ưu điểm, thành tựu và những
hạn chế, yếu kém, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra những kinh
nghiệm cần thiết.
+ Nêu và phân tích những yếu tố tác động, đề xuất mục
tiêu, phương hướng và những giải pháp chủ yếu đối với xây
dựng nông thôn mới nói chung, xây dựng đời sống văn hóa nói
riêng đến năm 2020.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc xây dựng đời
sống văn hóa trong các xã nông thôn mới ở tỉnh Vĩnh Long
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu việc xây dựng đời sống văn
hóa trong các xã nông thôn mới ở tỉnh Vĩnh Long từ năm 2008.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mac – LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường
lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, đồng thời sử
dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như: , tổng kết
thực tiễn và phương pháp chuyên gia.
6. Những đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn
6.1. Những đóng góp khoa học của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ thực trạng về đời sống văn
hóa trong các xã nông thôn mới ở tỉnh Vĩnh Long giai đoạn hiện
4- Hệ thống những ứng xử văn hoá
5- Diện mạo những vi môi trường văn hóa (như nếp sống
văn hoá nơi công cộng, cơ quan, đơn vị kiểu mẫu, gia đình văn
hoá,...)
1.4. Khái niệm nông thôn mới
1.5. Quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà
nước đối với việc xây dựng đời sống văn hóa ở vùng nông
thôn
1.6. Tổng quan về tỉnh Vĩnh Long
1.6.1. Về điều kiện tự nhiên
1.6.2. Về kinh tế - xã hội
1.6.3. Lịch sử hình thành địa danh hành chính tỉnh Vĩnh
Long
1.6.4. Truyền thống yêu nước và chống ngoại xâm
1.6.5. Vị thế của tỉnh Vĩnh Long trong văn hóa miền Tây
Nam Bộ
Tiểu kết chương 1
-7Khái niệm đời sống văn hóa là khái niệm chỉ quá trình
hoạt động văn hóa thoả mãn các nhu cầu văn hoá, bao gồm hoạt
động văn hoá tự thân và sáng tạo sản phẩm văn hóa nhằm thỏa
mãn các nhu cầu về hưởng thụ thẩm mĩ và giải trí, về xây dựng
môi trường văn hóa và về phát triển và hoàn thiện nhân cách
con người.
Khái niệm đời sống văn hóa (ĐSVH) được thể hiện ở
ba hệ tiêu chí quan trọng sau đây:
+ Hệ tiêu chí về Mức sống : Toàn bộ những chỉ số mức
sinh hoạt vật chất được coi là tiêu chuẩn của xã hội, có thể
được coi là một trong những tiêu chí để đánh giá Văn hóa
CÁC XÃ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI TỈNH
VĨNH L NG
2.1. Đời sống văn hóa trong 22 xã thí điểm xây dựng nông
thôn mới ở tỉnh Vĩnh Long
2.2 . Thực trạng đời sống văn hóa trong các xã nông thôn
mới ở Vĩnh Long
2.2.1. Về giáo dục:
2.2.2. Về Y tế:
2.2.3. Về văn hóa thể thao và an sinh xã hội:
2.2.4. Về nâng cao đời sống, vật chất, tinh thần của nông
dân nông thôn:
2.2.5. Về thu nhập bình quân đầu người và công tác giảm
hộ nghèo:
2.2.6. Công tác bảo vệ môi trường nông thôn được đẩy
mạnh:
2.2.7. Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở nông thôn
vững mạnh, giữ vững quốc phòng an ninh nông thôn:
2.3. Thực trạng đời sống văn hóa trong xây dựng nông thôn
mới cấp huyện ( trường hợp điển hình huyện Bình Tân)
2.4. Thực trạng đời sống văn hóa trong 3 xã tiêu biểu xây dựng
nông thôn mới
2.4.1. Xã Thành Đông, huyện Bình Tân
2.4.2. Xã Trung Hiếu, huyện Vũng Liêm
2.4.3. Xã Mỹ Lộc, huyện Tam Bình
Tiểu kết chương 2
-10Tỉnh Vĩnh Long có 109 xã, phường, thị trấn; có 89
xã quy hoạch xã nông thôn mới (trong đó, có 22 xã được
tỉnh chọn làm điểm). Đến cuối năm 2014 có 12/22 xã đạt
con người và phát triển văn hóa, xã hội còn yếu, trách nhiệm
chưa rõ ràng.
Nhận thức sâu sắc điều đó, Để xây dựng đời sống văn
hóa vùng nông thôn ở tỉnh Vĩnh Long ngoài vai trò của Đảng bộ
tỉnh, ngành văn hóa – thông tin, thì mỗi người dân phải ý thức
được vai trò, trách nhiệm của mình. Các cấp ủy Đảng và các
ngành có liên quan phải tạo điều kiện phát triển đời sống kinh tế
của địa phương, xã, ấp từ đó hình thành cơ sở để phát triển nhu
cầu văn hóa và hoạt động văn hóa ở nông thôn, hoàn thành mục
tiêu xây dựng đời sống văn hóa ở các xã nông thôn mới tỉnh
Vĩnh Long.
-12CHƯƠNG 3
MỘT S VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG
ĐỜI S NG VĂN HÓA TR NG NÔNG THÔN MỚI
TẠI TỈNH VĨNH L NG
3.1. Một số vấn đề đặt ra trong xây dựng đời sống văn hóa
nông thôn mới tại tỉnh Vĩnh Long
3.1.1. Vấn đề văn hóa làng truyền thống trong xây dựng
nông thôn mới
3.1.2. Vấn đề đô thị hóa và hiện đại hóa trong văn hóa
nông thôn hiên nay.
3.2. Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hoá làng truyền
thống trong xây dựng nông thôn mới
3.3. Một số giải pháp xây dựng đời sống văn hóa trong nông
thôn mới tại tỉnh Vĩnh Long
3.3.1. Hoàn thiện và củng cố các tiêu chí đã đạt được
nâng cao mức sống và chất lượng sống cho nông dân
trong nông thôn mới
hóa, 704 khu dân cư văn hóa, 47 xã, phường, thị trấn văn hóa.
Hộ dân có điện đạt 97%, nước sạch từ nước máy tập trung đạt
60%, hàng năm giải quyết việc làm cho 25.000 lao động, giảm
hộ nghèo 2%. Trật tự an toàn xã hội khá tốt, thực hiện tốt quy
chế dân chủ cơ sở, phát huy được quyền làm chủ của nhân dân.
9 tháng đầu năm 2012, vận động được trên 25,5 tỉ đồng
ủng hộ Quỹ "Vì người nghèo”, hơn 150 tỉ đồng từ các chương
trình an sinh xã hội. Hỗ trợ cất mới trên 1.500 căn nhà cho hộ
nghèo, hỗ trợ về giống, vốn, phương án làm ăn, điều trị bệnh,
học sinh nghèo có điều kiện đến trường…
-14Ban chỉ đạo từ tỉnh đến cơ sở, các cấp ủy Đảng, chính
quyền có sự quan tâm đúng mức. Tỉnh ủy quyết định phân công
tỉnh ủy viên, giám đốc sở, ngành mỗi người trực tiếp hỗ trợ 1
xã; cấp ủy huyện, thị, thành phố phân công cấp ủy trực tiếp chỉ
đạo cơ sở; từng xã, phường, thị trấn thành lập tổ công tác chỉ
đạo ấp, khóm. Chính quyền phối hợp tốt trong triển khai và hỗ
trợ kinh phí. Đặc biệt có sự nỗ lực quyết tâm của Mặt trận, Ban
chỉ đạo các cấp và sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân.
Tuy nhiên so với yêu cầu và chất lượng đặt ra thì
phong trào phát triển chưa đều, chất lượng xây dựng hộ và một
số khu dân cư chưa cao, chưa thật sự đi vào chiều sâu; bộ mặt
văn hóa của một số ít khu dân cư, hộ gia đình chưa thật sự
sáng, xanh, sạch, đẹp.
Ban chỉ đạo các cấp cần đề ra một số giải pháp cụ thể
như:
- Kiện toàn, củng cố lại Ban chỉ đạo các cấp và Ban
vận động ở khu dân cư thật sự đủ mạnh. Cụ thể hóa các nội
dung tiêu chí xây dựng hộ và khu dân cư cho phù hợp.
và hỗ trợ hộ nghèo trong điều trị bệnh, học sinh nghèo có điều
kiện đến trường…
Phải nói rằng, cuộc vận động xây dựng đời sống văn
hóa trong nông thôn mới ở Vĩnh Long có những thuận lợi cơ
bản: Trước tiên là thống nhất được Ban chỉ đạo từ tỉnh đến cơ
sở, các cấp ủy Đảng có sự quan tâm đúng mức, sự hỗ trợ tích
cực của các cấp chính quyền. Để góp phần nâng cao chất lượng
cuộc vận động ở địa bàn dân cư, Tỉnh ủy có quyết định phân
-17công tỉnh ủy viên, giám đốc sở ngành trong tỉnh mỗi người trực
tiếp hỗ trợ 1 xã; cấp ủy huyện, thành phố phân công cấp ủy viên
là trưởng ban ngành trực tiếp chỉ đạo cơ sở và từng xã, phường,
thị trấn thành lập tổ công tác chỉ đạo ấp khóm do thường vụ
hoặc cấp ủy viên làm tổ trưởng. Chính quyền phối hợp tốt trong
triển khai và hỗ trợ kinh phí cho cuộc vận động. Đặc biệt có sự
nỗ lực quyết tâm của Mặt trận và Ban chỉ đạo các cấp, sự phấn
đấu kiên trì vận động của Ban vận động khu dân cư và sự đồng
thuận của các tầng lớp nhân dân. Nhờ đó, cuộc vận động đã
giúp cho Mặt trận và các đoàn thể thật sự đổi mới về nội dung
và phương thức hoạt động, góp phần xây dựng thực lực chính trị
ở cơ sở.
Tuy nhiên so với yêu cầu và chất lượng đặt ra thì
phong trào phát triển chưa đều, chất lượng xây dựng hộ và một
số khu dân cư chưa cao, chưa thật sự đi vào chiều sâu; bộ mặt
văn hóa của một số ít khu dân cư, hộ gia đình chưa thật sự
sáng, xanh, sạch, đẹp, chất lượng còn thấp.
Do đó, sắp tới, Ban chỉ đạo các cấp cần đề ra một số
giải pháp cụ thể như: Sớm kiện toàn, củng cố lại Ban chỉ đạo
các cấp và Ban vận động ở khu dân cư thật sự đủ mạnh để tham