Trờng trung học cơ sở kim mỹ.
Họ và tên:trịnh thị thêm..
Bài dự thi tìm hiểu
60 năm lịch sử vẻ vang LLVT nhân dân huyện Kim Sơn
Câu 1:
Bớc sang năm 1948, hình thái trên chiến trờng giữa ta và địch ở thế
giằng co, các thành phố lớn và nhiều thị xã bị chiếm đóng, vùng rừng núi và
đồng bằng phía nam khu 3, khu 5 vẫn là vùng do ta kiểm soát, đây chính là
hậu phơng lớn của cuộc kháng chiến.
Dới sự lãnh đạo của huyện uỷ Kim Sơn, phong trào cách mạng ở trong
huyện đã có bqớc chuyển biến mới, ta đã đập tan âm mu của bọn phản động
đội lốt tôn giáo giữu vững chính quyền, cải thiện một bớc đời sống nhân dân,
tăng cờng công tác an ninh quốc phòng, Một sự kiện đáng ghi nhớ, ngày
24/4/1948 tỉnh đội Ninh Bình đã quyết định thành lập huyện đội Kim Sơn, cơ
quan quân sự chuyên trách giúp cấp uỷ Đảng lãnh đạo lực lợng vũ trang địa
phơng. Buổi đầu thành lập Huyện đội chỉ có 06 cán bộ và chiến sỹ gồm: Đồng
chí Nguyễn Miện làm huyện đội trởng, Đ/c Bảo chính trị viên, 01 đ/c thủ kho,
01 đ/c quân khí, 01 đ/c liên lạc, 01 đ/c cán boịo phong trào. Đến tháng 8/1948
tỉnh đội tăng cờng đ/c Hoàng Việt về làm huyện đội trởng, đ/c Nguyễn Miện
chuyển sang làm chính trị viên.
Câu2:
Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ Ninh Bình về nhiệm vụ quân sự năm
1954, huyện uỷ Kim Sơn đã lãnh đạo lực lợng vũ trang tiến sâu vào đánh địch
ở khu I, khu II dồn địch vào thế cô lập, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của
chúng. Tiêu biểu cho thời kì này là các trận du kích xã Trng Nhị diệt 30 tên
địch, du kích Dỡng Điềm tiêu diệt bốt Hồi Thuần bắt sống một đại đội.
Phối hợp với hoạt động quan sự, ta vận động nhân dân phá tan âm mu
dồn làng của địch. Hơn 300 đồng bào ở các trại tập chung khu Qui Hậu và An
C (Thợng Kiêm) nhất tề đốt 12 dãy nhà bỏ về quê sinh sống, kế hoạch gom
dân vào trại tập trung của địch bị thất bại.
Vào ngày 13/3/1954 ta nổ súng tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ diệt
Cũng trong ngày 30/6 bbộ đội chủ lực của tiểu đoàn Yên Ninh (Đại đoàn 30)
cùng du kích và bộ đội đìa phơng truy kích địch đến cùng, quan Pháp ở Phát
Diệm bỏ chạy toán loạn, bộ đội ta tiến vào giải phóng Phát Diệm trớc sự hân
hoan chào đón của hơn 3000 đồng bào lơng giáo Kim Sơn. Sau hơn 6 năm
sống dới sự chiếm đống của giặc Pháp xâm lợc và bọn phản động tay sai, đến
ngày 30/6 Phát Diệm nói riêng và Kim Sơn nói chung hoàn toàn giải phóng.
Câu 3:
Bớc vào kế hoạch 5 năm (1961 - 1965) Tỉnh đội Ninh Bình phát động
phong trào : Xây dựng quan sự tự vệ, quân dự bị tiến nhanh, tiến vững chắc để
trở thành lực lợng hậu bị vững mạnh của lực lợng bộ đội chính quy. Cơ quan
quân sự huyện Kim Sơn tham mu cho cấp uỷ làm tốt cuộc vận động này. Cuộc
vận động đó có sức lôi cuốn mạnh mẽ cán bộ, chiến sĩ vừa tham gia luyện tập
quan sự, vừa hăng hái lao động sản xuất giành danh hiệu Ba nhất ( thành tích
nhiều nhất, đều nhất và giỏi nhất). Thời kì này ở miền Nam, đế quốc Mỹ và bè
lũ tay sai Ngô Đình Diệm tăng cờng việc đào tạo bọn gián điệp, biệt kích xúc
tiến việc phá hoại miền Bắc. Trớc tình hình đó, các lực lợng vũ trang Kim Sơn
nâng cao cảnh giác, có phơng án tác chiến kịp thời nếu bọn biệt kích liều lĩnh
xâm phạm vào vùng trời, vùng biển Kim Sơn.
Rạng sáng ngày 02/7/1961, một chiếc máy bay C47 trở bọn biệt kích xâm
nhập vào vùng biển Kim Sơn đã bị lực lợng vũ trang nổ súng bắn cháy đâm
xuống bãi biển Cồn Thoi, lệnh báo động khẩn cấp, lực lợng dân quân tự vệ 4
xã ven biển, tự vệ nông trờng Bình Minh đã cùng bộ đội biên phòng có mặt tại
chỗ máy bay rơi, bắt sống 3 tên, phát hiện nhiều tên bị chết, thu nhiều tài liệu,
điện đài, vũ khí, phơng tiện hoạt động gián điệp của địch, 3 tên bị bắt sống tại
chỗ là:
Phan Thanh Vân Trung uý trởng phi cơ.
Đinh Nh Khoa Trung sĩ nhất.
Phạm Văn Đăng Thợng sĩ nhất thợ máy
Triển khai chiến đấu kịp thời, nhanh chóng của LLVT Kim Sơn qua vụ
máy bay C47 đã nói lên tinh thần cảnh giác cao, là lời cảnh báo nghiêm khắc
giặc ngoại xâm và bè lũ tay sai lợi dụng tôn giáo để xâm lợc nớc ta.
Trong suốt quả trình chỉ đạo chiến tranh đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận
động giải thích để nhân dân biết đợc đờng lối kháng chiến kiên quyết của
Đảng, có đối sách cụ thể để từng lúc, từng nơi phân biệt giữa nông dân có đạo
với ngời bị giặc Pháp lợi dụng, giữa linh mục và bọn đội lốt thày tu. Chính vì
vậy đã vận động đông đảo bà con công giáo tham gia kháng chiếnn, nhiều gia
đình là cơ sở kháng chiến ngay thời kì khó khăn nhất. Nhiều đồng chí cán bộ,
chiến sỹ lực lợng vũ trang huyện là ngời công giáo trở thành những cán bộ u tú
làm nòng cốt trong đồng bào công giáo trong 2 cuộc kháng chiến và xây dựng
quê hơng sau ngày giải phóng.
3. Phát triển và nâng caop hiệu lực của chiến tranh nhân dân là kết quả
của sự lãnh đạo của Đảng. Suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Kim
Sơn là huyện bị địch tạm chiếm kẻ thù đã hiện nguyên hình sự tàn bạo, giã
nam từ giết ngời cớp của đến đốt phá làng mạc, biến nhà thờ thành bốt giặc.
Vì thế 9 năm kháng chiến ở huyện là 9 năm gian khổ, hy sinh chiến đấu với kẻ
thù mạnh hơn mình nhiều lần. Chiến tranh nhân dân ở huyện nhà thể hiện tính
đa rạng kết hợp vũ trang với chính trị, khính tế với binh vận và địch vận, kết
hợp đấu tranh du kích vvới tác chiến tập chung, từ thấp đến cao, từ đánh lẻ
đến đánh lớn, từ diệt vài tên địch đến diệt từng đại đội địch, từ đội du kích đến
khu du kích.
4. Xây dựng bộ đội địa phơng đáp ứng nhiệm vụ chiến đấu làm nòng
cốt cho phong trào du kích xã, thực tế trong cuộc kháng chiến 9 năm chống
thực dân Pháp xâm lợc chỉ rõ. Đại đội 195 bộ đội địa phơng Kim Sơn là nòng
cốt, là chỗ dựa cho hoạt động du kích. Hoạt động tác chiến của đơn vị 195 rất
linh hoạt, cơ động.
5. Xây dựng trận địa phòng dân, xây dựng hậu phơng kháng chiến, vừa
kháng chiến vừa xây dựng hậu phơng là qui luật giành thắng lợi trong chiến
tranh cách mạng và đấu tranh giải phóng dân tộc.
Câu 5.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc mỹ,quân và dân