BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NÔNG ĐỨC ĐẠT
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÊN
HÀNH VI ĐẦU TƯ DOANH NGHIỆP: NGHIÊN CỨU
TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NÔNG ĐỨC ĐẠT
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÊN HÀNH VI ĐẦU TƯ DOANH
NGHIỆP: NGHIÊN CỨU TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân hàng
Mã số:
60340201
Đặt vấn đề nghiên cứu......................................................................................2
1.2.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu .......................................................................5
1.3.
Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu ................................................................6
1.4.
Nội dung nghiên cứu ........................................................................................9
1.5.
Kết quả và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu ........................................................9
2. NỀN TẢNG LÝ THUYẾT ...................................................................................11
2.1.
Các lý thuyết về đầu tư...................................................................................11
2.1.1. Lý thuyết đầu tư tân cổ điển...........................................................................12
2.1.2. Nguyên lý đầu tư gia tốc ................................................................................13
2.1.3. Lý thuyết đầu tư Tobin’s Q và mô hình gia tốc doanh thu ............................14
2.2.
Lý thuyết về chính sách tiền tệ.......................................................................17
iii.
Biến trễ của đầu tư .........................................................................................37
iv.
Biến trễ của doanh thu ...................................................................................38
v.
Dòng tiền nội bộ .............................................................................................39
vi.
Biến chính sách tiền tệ ...................................................................................39
3.3
Dữ liệu nghiên cứu .........................................................................................45
3.4
Xây dựng mô hình ước lượng ........................................................................47
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................................................................51
4.1
Phân tích thống kê mô tả ................................................................................52
4.2
KẾT LUẬN ....................................................................................................70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1. KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ CỦA
CÔNG TY, CẤU TRÚC TÀI CHÍNH VÀ SỰ THAY ĐỔI CỦA CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu/ Viết tắt
Giải thích ý nghĩa
AR
Tự hồi quy
CPI
Chỉ số giá tiêu dùng
GDP
Tổng sản lượng quốc nội
GMM
Phương pháp ước lượng mômen tổng quát
Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình………………...Trang 53
Bảng 4.2.1.1: Kết quả ma trận tự tương quan………………...…………….Trang 55
Bảng 4.2.1.2: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai –
Mô hình 1……………………………………………………Trang 56
Bảng 4.3.1.3: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai –
Mô hình 2…………………………………………………….Trang 56
Bảng 4.2.2: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi mô hình...…………….Trang 57
Bảng 4.2.3: Kết quả kiểm tra tự tương quan mô hình……………………..Trang 58
Bảng 4.3.1.1: Kết quả hồi quy mô hình……..……………………………....Trang 59
Bảng 4.3.1.2: Kết quả hồi quy mô hình………………………………..……Trang 62
Bảng 4.3.2.1: Kết quả hồi quy mô hình……………………..………………Trang 65
Bảng 4.3.2.2: Kết quả hồi quy mô hình……………………..………………Trang 67
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1: Lãi suất cơ bản qua các năm……………………………………..Trang 46
1
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Bài nghiên cứu xem xét sự ảnh hưởng của sự thay đổi chính sách tiền tệ, thông qua
cấu trúc tài chính, lên hành vi đầu tư của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2005 – 2014. Trên cơ sở mô hình đầu tư
động và sai số tự điều chỉnh, kết quả ước lượng GMM một bước đối với mẫu dữ
liệu của các công ty niêm yết cung cấp một số bằng chứng quan trọng.
Bài nghiên cứu phát hiện rằng trong giai đoạn chính sách tiền tệ thắt chặt, các công
ty không phụ thuộc vào ngân hàng có dòng tiền hoạt động tương quan đồng biến
với đầu tư. Trong các môi trường về chính sách tiền tệ khác nhau, mối quan hệ giữa
sinh lợi. Sau đó, nghiên cứu của Modigliani & Miller (1958) cho thấy rằng đầu tư của
một công ty chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh lợi của các cơ hội đầu tư của nó. Dưới
các giả định về thị trường vốn hoàn hảo, lý thuyết Modigliani & Miller cho thấy rằng
quyết định đầu tư độc lập với các nhân tố tài chính như cấu trúc vốn của doanh nghiệp,
tính thanh khoản của các nguồn tài trợ, và chi trả cổ tức. Tuy nhiên, trong một thị
trường thực tế, không hoàn hảo, nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng đầu tư
công ty là phụ thuộc vào các nguồn vốn tài trợ, chính sách kinh tế vĩ mô, và cả những
nhân tố tác động đến hành vi tự tin đầu tư của cấp quản lý trong doanh nghiệp.
Mối quan hệ giữa đầu tư và tài trợ của doanh nghiệp đã được nghiên cứu sâu rộng tại
các quốc gia phát triển. Mối quan hệ giữa đầu tư và sự sẵn có hay thiếu hụt của các
nguồn tài trợ tại Mỹ được nghiên cứu bởi Modigliani và Zeman (1952), theo đó,
không có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy rằng việc thay đổi từ tài trợ bằng vốn cổ
phần sang tài trợ bằng nợ sẽ làm tăng mức độ đầu tư. Tuy nhiên, việc sử dụng cổ
phiếu vào thời điểm đó đã giúp cho các công ty có thêm nguồn tài trợ cho các quyết
định đầu tư của họ. Bằng chứng về các ràng buộc đối với nguồn tài trợ tài chính từ
bên ngoài được đưa ra đầu tiên bởi Fazzari (1988). Theo đó, bằng chứng thực nghiệm
cho thấy rằng sự sẵn có của nguồn tài trợ vốn từ bên ngoài sẽ có tác động lên các
quyết định đầu tư của doanh nghiệp ngay cả khi mà các doanh nghiệp có xu hướng
sử dụng nguồn quỹ nội bộ của họ cho đầu tư hơn là sử dụng nguồn quỹ từ bên ngoài.
3
Tuy nhiên, một điều khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa là nguồn vốn nội bộ
không nhiều như các doanh nghiệp lớn. Do đó, các doanh nghiệp lớn sẽ có xu hướng
đầu tư sử dụng nguồn vốn nội bộ nhiều hơn và như vậy, quyết định đầu tư sẽ phụ
thuộc ít hơn vào các nguồn tài trợ bên ngoài. Nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
theo đó, có xu hướng phụ thuộc vào các nguồn tài trợ bên ngoài nhiều hơn. Nhóm
các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm phần lớn ở các nước đang phát triển trong đó có
Việt Nam.
đoạn nào chỉ phụ thuộc vào sự tăng trưởng của doanh thu giai đoạn đó phản ảnh qua
khả năng sinh lợi kì vọng.
Ngoài việc đánh giá các cơ hội đầu tư sẵn có, nguồn tài trợ cho đầu tư từ nội bộ hay
từ bên ngoài, việc ra quyết định đầu tư còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau
trong một thị trường bất hoàn hảo bao gồm cả sự can thiệp của chính phủ. Mối liên
hệ giữa chính sách vĩ mô và đầu tư tư nhân được nghiên cứu ban đầu bởi Serven &
Solimano (1992) cho thấy rằng chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và sự ổn định
của nền kinh tế có ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân. Các nền kinh tế bất ổn với những
chính sách thay đổi nhanh chóng, các chính sách khuyến khích đầu tư không lâu dài
sẽ làm cho các nhà đầu tư giảm mức độ đầu tư và chờ đợi cho một cơ hội mới hơn
khi mà nền kinh tế trở nên ổn định. Trong đó, sự đầy đủ của các nguồn vốn bên ngoài
tài trợ cho đầu tư là nhân tố quan trọng tác động đến mối liên kết giữa sự phát triển
tài chính và đầu tư. Rõ ràng, khu vực tư nhân có thể tự chủ hơn nếu có một nguồn tài
trợ cho các dự án tiềm năng và tự tin hơn khi đầu tư vì những thay đổi của chính sách
mang tính tích cực. Những năm gần đây, có nhiều các nghiên cứu về mối liên hệ giữa
cấu trúc tài chính của công ty, hành vi đầu tư của doanh nghiệp và chính sách tiền tệ.
Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung chủ yếu ở khu vực kinh tế phát triển như tại Nhật
Bản (Fuchi và cộng sự, 2005), tại Mỹ (Vijverberg, 2004), tại Anh (Mizen &
Vermeulen,2005; Guariglia, 2008), tại khu vực đồng tiền chung châu Âu (Bond và
cộng sự, 2003; Chatelain và cộng sự, 2003; De Haan và Sterken, 2011), tại Canada
(Aivazian và cộng sự, 2005), tại Tây Ban Nha (Gonzales và Lopez, 2007). Trong khi
các nghiên cứu tại các thị trường mới nổi thì khá giới hạn; và mối quan hệ giữa đầu
tư doanh nghiệp, chính sách tiền tệ thông qua cấu trúc tài chính doanh nghiệp vẫn
chưa được nghiên cứu sâu rộng tại các thị trường này, trong đó có Việt Nam. Hơn
nữa, với các cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra gần đây, sự chú ý đến mối liên hệ này
5
đã được các nhà nghiên cứu và các nhà chính sách quan tâm hơn. Trong đó có nghiên
Bài nghiên cứu cũng kiểm tra tác động của chính sách tiền tệ lên hành vi đầu
tư của công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam liên hệ với đặc điểm về dòng
tiền nội bộ của công ty. Cụ thể, khi chính sách tiền tệ thay đổi, hành vi đầu tư của các
6
công ty sẽ thay đổi như thế nào dựa trên phân tích đặc điểm dòng tiền của các công
ty.
Mục tiêu của bài nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi sau:
1.
Mối liên hệ giữa chính sách tiền tệ và hành vi đầu tư là đồng biến hay nghịch
biến? Khi chính sách tiền tệ thay đổi theo hướng thắt chặt hoặc mở rộng thì hành vi
đầu tư sẽ thay đổi tương ứng như thế nào đối với nhóm các công ty tài trợ thông qua
ngân hàng?
2.
Và khi chính sách tiền tệ thay đổi theo hướng thắt chặt hay mở rộng thì mức
độ đầu tư thay đổi như thế nào trong các điều kiện về dòng tiền tự do khác nhau?
3.
Hàm ý trong hai câu hỏi nêu trên, sự khác biệt về quy mô công ty, một biến
đại diện cho các ràng buộc tài chính có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của công ty
hay không?
1.3.
liệu. Hơn nữa, tổng tài sản là con số đáng tin cậy hơn để đo lường quy mô của công
ty cũng như khả năng tiếp cận với các nguồn tài trợ. Một ngân hàng sẽ cho vay dễ
dàng hơn đối với một công ty có nhiều tài sản, hơn là một công ty có nhiều nhân viên.
Theo đó, Gertler (1994) phát hiện ra rằng các công ty nhỏ sẽ giảm quy mô sản xuất
khi chính sách tiền tệ thắt chặt do việc huy động nguồn lực tài chính bên ngoài trở
nên khó khăn hơn. Glichrist (1998) cũng tìm thấy bằng chứng rằng đầu tư của các
công ty nhỏ sẽ phản ứng mạnh hơn đối với việc thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô,
các chính sách ảnh hưởng đến dòng tiền của các công ty loại này. Tiếp nối quan điểm
này, bài nghiên cứu này sẽ sử dụng tam phân vị để chia mẫu nghiên cứu ra thành các
công ty nhỏ với 25% các công ty có tổng tài sản nhỏ nhất trong mẫu nghiên cứu và
các công ty lớn với 25% các công ty có tổng tài sản cao nhất trong mẫu nghiên cứu.
Thứ hai, điều kiện về đòn bẩy tài chính sẽ được đo lường bằng tỷ số tổng nợ trên tổng
tài sản. Mẫu các công ty được nghiên cứu cũng được chia làm các mẫu nhỏ gồm: các
công ty có tỷ lệ nợ trên tổng tài sản thấp (LGEAR) là 25% các công ty có tỷ lệ nợ
thấp nhất trong mẫu được chọn và các công ty có tỷ lệ nợ cao (HGEAR) bao gồm
25% các công ty có tỷ lệ nợ trên tổng tài sản cao nhất trong mẫu nghiên cứu. Các
công ty vay càng nhiều nợ thì có nguy cơ đối mặt với chi phí đại diện nhiều hơn, theo
đó, các nhà quản lý có xu hướng thúc đẩy đầu tư khi có tỷ lệ nợ cao vào các dự án rủi
ro cao, phần lợi nhuận thu được sẽ thuộc về công ty và nếu thua lỗ thì các chủ nợ phải
8
chịu tổn thất. Đó là một phần của các trò chơi mà các nhà quản lý có thể sẽ thực hiện
khi công ty lâm vào khó khăn tài chính. Như vậy, bài nghiên cứu cũng sẽ đưa yếu tố
này vào khi xem xét các quyết định đầu tư của công ty bằng cách phân chia mẫu thành
các thành phần có rủi ro thanh khoản khác nhau.
Thứ ba, mẫu nghiên cứu cũng sẽ được phân loại thành các công ty phụ thuộc ngân
hàng và các công ty không phụ thuộc vào ngân hàng bằng cách sử dụng tỷ số nợ ngắn
hạn trên tổng nợ như là một tiêu chí phân loại. Buca và cộng sự (2015) sử dụng tỷ số
Cấu trúc và nội dung của bài nghiên cứu này được chia làm 5 phần:
-
Phần 1: Giới thiệu và tóm tắt vấn đề nghiên cứu;
-
Phần 2: Lý thuyết nền tảng về chính sách tiền tệ, đầu tư công ty và cấu trúc tài
chính;
-
Phần 3: Mô hình, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu;
-
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và phân tích
-
Phần 5: Kết luận
1.5.
Kết quả và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Dựa trên cơ sở các lý thuyết về đầu tư, các lý thuyết và cấu trúc tài chính công ty và
lý thuyết về chính sách tiền tệ, bài nghiên cứu đã cung cấp thêm bằng chứng thực
nghiệm cho mối quan hệ giữa hành vi đầu tư của công ty và chính sách tiền tệ thông
11
2.
NỀN TẢNG LÝ THUYẾT
Nền tảng lý thuyết trình bày về lý thuyết về đầu tư và chính sách tiền tệ trong đó tập
trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đầu tư đã được chứng minh thông qua
các lý thuyết về đầu tư, và cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ. Theo đó, chính sách
tiền tệ điều tiết hoạt động của nền kinh tế và ảnh hưởng đến mức độ đầu tư của công
ty. Sự ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến mức độ đầu tư của công ty thông qua các
yếu tố đã chứng minh phù hợp với mục tiêu nghiên cứu về mối quan hệ giữa đầu tư
và chính sách tiền tệ.
2.1.
Các lý thuyết về đầu tư
Phần này của bài nghiên cứu sẽ làm rõ về các lý thuyết đầu tư từ trước đến nay bao
gồm các lý thuyết về đầu tư như sau: Lý thuyết đầu tư tân cổ điển, nguyên lý đầu tư
gia tốc, lý thuyết đầu tư theo Tobin’s Q. Các lý thuyết này có điểm chung là dựa trên
sự tối ưu hóa quyết định đầu tư của công ty bằng cách đưa ra các phương pháp để
ước lượng, đánh giá dự án đầu tư và tối đa hóa lợi nhuận. Phần này cũng sẽ cung cấp
các thông tin về các phương pháp ước lượng và đánh giá này.
Đầu tư là một hình thức bỏ vốn vào hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội nhằm
thu được mục tiêu mong đợi trong tương lai. Hành vi đầu tư bao gồm việc đánh giá,
dự báo, phân tích và xem xét và quyết định các khả năng hoạt động của vốn nhằm đạt
được mục tiêu. Hành vi đầu tư trong bài nghiên cứu này được thể hiện bằng quyết
định cuối cùng trong chuỗi hành vi đầu tư, ra quyết định đầu tư. Theo đó, chính sách
Lý thuyết đầu tư tân cổ điển được đề xuất bởi Jorgenson trong những năm 1960. Đầu
tiên lý thuyết này được đề xuất năm 1963 và sau đó là các nghiên cứu sâu hơn của
Jorgenson vào năm 1967 và năm 1971. Lý thuyết đầu tư tân cổ điển dựa vào giả định
tối ưu hóa lợi nhuận của công ty. Như đề cập ở trên, quan điểm này là nối tiếp quan
điểm của Fisher (1930). Theo lý thuyết này thì việc tối đa hóa lợi nhuận của công ty
qua các giai đoạn khác nhau sẽ đưa đến một nguồn vốn đầu tư tối ưu. Với một loạt
các giả định sự hoàn hảo của thị trường khi đưa ra lý thuyết này, lý thuyết đầu tư tân
cổ điển đề xuất bởi Jorgenson gặp phải vấn đề khi áp dụng vào thực tiễn. Theo đó, lý
13
thuyết giả định rằng công ty hoạt động trong một môi trường cạnh tranh hoàn hảo,
không có sự không chắc chắn, không có chi phí điều chỉnh, giá của nhân công và vốn
là hoàn toàn có thể lựa chọn, thị trường tài chính hoàn hảo để có thể đi vay hoặc cho
vay với một lãi suất cho trước. Hầu hết các giả định này không thực tiễn. Theo đó, lý
thuyết ước lượng lượng vốn tối ưu từ các khoản lợi tức trong tương lai không đổi theo
sản lượng cho trước. Sau đó, hàm phân phối trễ được sử dụng để tính tỷ lệ quyết định
đầu tư. Như vậy, bản thân lý thuyết không đi vào xác định tỷ lệ đầu tư mà xác định
một lượng vốn tối ưu, và lượng vốn tối ưu cho đầu tư để có thể tối đa hóa giá trị công
ty hơn là xác định quyết định đầu tư hay không đầu tư. Do đó, lý thuyết của Jorgenson
về sau được cho là lý thuyết về vốn cổ phần tối ưu hay vốn đầu tư tối ưu (Hibbs,
2011).
Lý thuyết đầu tư này cũng chưa giải quyết được một vấn đề nổi lên nhiều trong thời
gian gần đây về quản trị công ty, vấn đề đại diện. Việc xác định lượng vốn đầu tư tối
ưu dựa trên giả đinh rằng ban quản lý hành động để tối đa hóa giá trị công ty, giả định
cốt lõi của lý thuyết này. Tuy nhiên, khi các công ty được ở hữu và quản lý bởi những
người khác nhau, vấn đề đại diện dẫn đến việc điều chỉnh hành vi đầu tư của một
công ty về một mục đích khác, thay cho mục đích tối đa hóa giá trị công ty.
2.1.2. Nguyên lý đầu tư gia tốc
tư mong đơi về mức vốn đầu tư tối ưu là liên tục và hoàn toàn. Giải pháp cho vấn đề
này là thêm vào đó hàm số chi phí điều chỉnh để tối ưu hóa vấn đề (Gould, 1968);
(Lucas, 1967). Vấn đề thứ hai là lý thuyết đầu tư tân cổ điển không được xem xét
trong cả hai lý thuyết này. Và giải pháp cho những vấn đề này được đưa ra bởi
Brainard và Tobin (1968) và Tobin (1969). Theo đó, đầu tư sẽ được thực hiện cho
đến khi giá trị thị trường của tài sản bằng với chi phí thay thế tài sản. Hơn nữa, bằng
cách thêm vào một hàm chi phí điều chỉnh biên vào phương trình lợi nhuận, lý thuyết
đầu tư tân cổ điển trở nên tương đương với lý thuyết Tobin’s Q một cách hợp lý. Lý
thuyết đầu tư Q như được đề xuất bởi Brainard và Tobin (1968) và Tobin (1969) đã
được báo hiệu trước bởi Keynes (1936). Keynes (1936) nhận định rằng thị trường
chứng khoán sẽ cung cấp cho nhà đầu tư và rằng “sẽ không hợp lý khi xây dựng lên
một công ty mới với một chi phí cao hơn việc có thể đi mua lại một công ty đã tồn tại
15
tương đương”. Tóm lại, lý thuyết đầu tư Q bao hàm tất cả các giả định của lý thuyết
đầu tư tân cổ điển và thêm vào một sự hạn chế trong tốc độ điều chỉnh của vốn đầu
tư bằng cách thêm vào một hàm chi phí điều chỉnh.
Lý thuyết đầu tư Q được phát triển tiếp theo bởi Fazzari và cộng sự (1988) bằng cách
sử dụng hệ số Tobin’s Q như một biến đại diện cho cơ hội đầu tư không thể quan sát
được. Hệ số Q sử dụng trong mô hình này được gọi là hệ số Q biên và được tính bằng
giá thị trường của cơ hội đầu tư tăng thêm trên chi phí thay thế của khoản đầu tư mới
này. Nhờ sử dụng giá trị thị trường trong việc đo lường Q và ra quyết định đầu tư dựa
trên Q biên, mô hình này cho phép đo lường trực tiếp giá trị kỳ vọng của lợi nhuận
tương lai. Khác với Q biên, Q cũng có thể được đo lường bằng cách dùng trung bình
lợi nhuận trên vốn đầu tư (giá trị thị trường trên giá trị sổ sách), và được gọi là Q
trung bình. Hayashi (1982) chứng minh rằng Q trung bình có thể bằng với Q biên chỉ
khi có các giả định nghiêm ngặt như: Có sự tách bạch giữa quyết định đầu tư và quyết
định tài trợ; vốn là thuần nhất; hàm sản xuất đồng nhất tuyến tính và chi phí điều
tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định hệ thống
tiền tệ, hỗ trợ sự phát triển kinh tế bền vững, kiểm soát được lạm phát ở mức độ mong
muốn. Chính sách tiền tệ thông thường được quản lý bởi ngân hàng nhà nước thông
qua các công cụ như sau: kiểm soát lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc.
Bài nghiên cứu này tập trung vào cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua
kênh tín dụng, kênh ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư của công ty.
Chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của một công ty thông qua
nhiều hướng khác nhau. Từ thay đổi trong chính sách tiền tệ, kinh tế vĩ mô sẽ thay
đổi theo và việc ra quyết định đầu tư ở góc độ công ty cũng sẽ thay đổi khi lãi suất,
cung tiền hay điều kiện tín dụng thay đổi. Bài nghiên cứu này chỉ ước lượng mức độ
ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến đầu tư của công ty thông qua cấu trúc tài
chính.
Các cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ được phân tích ở mức độ chung sau đây.
Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ
Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ mô tả các đường dẫn khác nhau thể hiện sự thay
đổi trong chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Nói cách khác, cơ chế truyển
tải chính sách tiền tệ là cách mà những thay đổi trong các công cụ của chính sách tiền
tệ ảnh hưởng lên số lượng tiền được đưa vào lưu thông. Mishkin (1995) miêu tả về
các kênh mà chính sách tiền tệ được thi hành, ví dụ như cách lãi suất ảnh hưởng đến
sản lượng và tỷ lệ lao động. Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ được mô tả bằng
các kênh sau đây.
Kênh lãi suất: Theo quan điểm truyền thống của Keynes, sự thay đổi lãi suất
của ngân hàng trung ương tác động đến lượng cầu thực và sản lượng thực tế
của nền kinh tế. Trong ngắn hạn, với kỳ vọng về lạm phát không đổi, sự thay