Tác động tính thanh khoản của cổ phiếu đến quyết định chi trả cổ tức – nghiên cứu tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán thành phố hồ chí minh - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
---------------

Trần Nguyễn Vân An

TÁC ĐỘNG TÍNH THANH KHOẢN CỦA CỔ PHIẾU
ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHI TRẢ CỔ TỨC – NGHIÊN
CỨU TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
SÀN CHỨNG KHOÁN HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
---------------

Trần Nguyễn Vân An
TÁC ĐỘNG TÍNH THANH KHOẢN CỦA CỔ PHIẾU
ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHI TRẢ CỔ TỨC – NGHIÊN
CỨU TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
SÀN CHỨNG KHOÁN HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ



Phương pháp nghiên cứu ............................................................................3

1.4.2.

Dữ liệu nghiên cứu .....................................................................................3

1.5.

Đóng góp của đề tài ..........................................................................................4

1.6.

Bố cục luận văn .................................................................................................4

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
ĐÂY ............................................................................................................................6
2.1.

Tính thanh khoản của cổ phiếu .........................................................................6

2.2.

Chính sách cổ tức ..............................................................................................7

2.3.

Nghiên cứu thực nghiệm về tương quan giữa tính thanh khoản cổ phiếu và

chính sách cổ tức của doanh nghiệp ............................................................................9

TP. Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 10 năm 2017
Tác giả

Trần Nguyễn Vân An


CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ HỒI QUY .........................................................................26
4.1.

Thống kê mô tả ...............................................................................................26

4.2.

Phân tích tương quan ......................................................................................28

4.3.

Phân tích hồi quy.............................................................................................30

4.3.1.

Phân tích đơn biến (Univariate analysis) .................................................30

4.3.2.

Phân tích hồi quy đa biến .........................................................................31

4.3.3.

Kiểm định tương quan giữa tính thanh khoản cổ phiếu và chính sách cổ


Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

MM

Miller và Modigliani (1961)


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Tên bảng

STT
1

Bảng 3.1: Mô tả tóm tắt các biến

2

Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến

3

Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các biến

4

Bảng 4.3: Kết quả hồi quy theo phương pháp đơn biến

5


2

Chương 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1.

Lý do chọn đề tài

Chính sách cổ tức là một trong 3 chính sách quan trọng của tài chính doanh nghiệp
hiện đại. Trên thế giới và ở Việt Nam, thời gian qua đã có rất nhiều đề tài nghiên
cứu về chính sách cổ tức, về tác động của chính sách cổ tức đến giá trị doanh
nghiệp, về các yếu tố tác động đến chính sách cổ tức…
Nghiên cứu của Miller và Modigliani (1961) là một trong những nghiên cứu nổi bật
về chính sách cổ tức khi thấy rằng trong điều kiện thị trường hoàn hảo, quyết định
chi trả cổ tức không có tác động đến giá trị của doanh nghiệp. Tuy nhiên, vì thị
trường luôn tồn tại các bất hoàn hảo nên nghiên cứu của MM đã vấp phải nhiều
tranh cãi. Mặt khác, Jensen (1986) cho thấy rằng chính sách cổ tức có tác động đến
vấn đề đại diện của doanh nghiệp. Cụ thể, các cổ đông nội bộ có khả năng sử dụng
nguồn tiền của doanh nghiệp để trục lợi cho lợi ích cá nhân, do đó việc chi trả cổ
tức có thể làm giảm bớt vấn đề đại diện khi cổ đông nội bộ sẽ có ít tiền để thực hiện
các động cơ sai trái. Ngoài ra, chính sách cổ tức cũng được xem là một trong những
yếu tố mà nhà đầu tư có thể dựa vào để đánh giá giá trị của doanh nghiệp.
Từ kết quả nổi tiếng chính sách cổ tức là độc lập đối với giá trị doanh nghiệp, sau
đó có nhiều nghiên cứu trên thế giới về các yếu tố tác động đến quyết định chi trả
cổ tức như nghiên cứu của Fama và French (2001), Banerjee et al. (2007), Griffin
(2010), Ahmed (2015)… Trong đó, nghiên cứu về tác động của thanh khoản cổ
phiếu đối với chính sách cổ tức còn là một đề tài chưa được khai thác nhiều. Tuy
nhiên, ngoài nghiên cứu của Jiang et al. (2016), chưa có nghiên cứu nào về mối
tương quan cùng chiều giữa tính thanh khoản cổ phiếu và chính sách cổ tức của
doanh nghiệp, khi tìm hiểu về hiệu ứng thông tin của tính thanh khoản trong việc
làm giảm bất cân xứng thông tin, qua đó giúp các cổ đông nhận được nhiều cổ tức

nghiệp ra sao trong môi trường bất cân xứng thông tin?
 Mối tương quan giữa thanh khoản cổ phiếu và chính sách cổ tức giữa những
doanh nghiệp có mức xung đột khác nhau giữa cổ đông kiểm soát và cổ đông
thiểu số?
1.4.

Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
1.4.1. Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích về thống kê mô tả, ma trận
tương quan và mô hình hồi quy tuyến tính đa biến theo các phương pháp hồi quy
Tobit (hay còn gọi là mô hình hồi quy kiểm duyệt) và hồi quy Logit.
1.4.2. Dữ liệu nghiên cứu


4

Dữ liệu nghiên cứu được tác giả thu thập từ các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết
trên sàn HOSE trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2016. Sau khi loại bỏ các doanh
nghiệp không có đầy đủ thông tin dữ liệu, kết quả còn lại 299 doanh nghiệp với
1477 quan sát.
Dữ liệu các doanh nghiệp được thu thập từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán,
các báo cáo thường niên của các doanh nghiệp được công bố chính thức, các thông
tin giao dịch cổ phiếu của doanh nghiệp trên trang web vietsock, trên trang web của
công ty và trên trang web của HOSE.
1.5.

Đóng góp của đề tài

Bài luận văn còn nhiều thiếu sót và hạn chế, dẫu vậy, bài luận này cũng có một số

Chương này trình bày kết quả hồi quy dựa trên mô hình nghiên cứu và thảo luận về
tác động của tính thanh khoản cổ phiếu đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp.
 Chương 5: Kết luận
Chương này trình bày kết luận của bài nghiên cứu, hạn chế của bài cũng như hướng
nghiên cứu tiếp theo.


6

Chương 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN
CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1.

Tính thanh khoản của cổ phiếu

Tính thanh khoản là một yếu tố chủ chốt đối với thị trường chứng khoán hoạt động
hiệu quả, vì đây là một yếu tố tác động quan trọng đến các nhà đầu tư, các sàn giao
dịch chứng khoán và các công ty niêm yết. Hơn nữa, tính thanh khoản cũng đem
đến sự ổn định cho cả thị trường tài chính. Vậy, tính thanh khoản là gì? Mặc dù khái
niệm về “tính thanh khoản” có xuất hiện nhiều trong lý thuyết tài chính và dường
như đây là một khái niệm đơn giản, nhưng bất ngờ là có rất ít sự đồng nhất về định
nghĩa tính thanh khoản.
Keynes (1930) là một trong những người đưa ra định nghĩa đầu tiên về tính thanh
khoản. Trong đó, ông cho rằng một tài sản có tính thanh khoản cao hơn nếu tài sản
đó có thể được giao dịch chắn chắn hơn trong một thời gian ngắn mà không chịu bất
kỳ sự thua lỗ nào. Kế thừa từ định nghĩa của Keynes, Wuyts (2007) đã đưa ra khái
niệm về tính thanh khoản như sau: “một thị trường được xem là có tính thanh khoản
cao nếu nhà đầu tư có thể nhanh chóng mua hoặc bán số lượng lớn cổ phiếu mà
không chịu ảnh hưởng của yếu tố giá cả”.
Theo đó, tính thanh khoản cổ phiếu là mức độ cổ phiếu có thể được mua hoặc bán

hiện rõ sự thay đổi giá cổ phiếu của doanh nghiệp trong từng phiên. Sự thay đổi giá
cổ phiếu cho thấy chất lượng hoạt động của doanh nghiệp cũng như đánh giá và nhu
cầu của nhà đầu tư đối với cổ phiếu này, điều này phù hợp với những yếu tố tác
động đến tính thanh khoản tác giả đã đề cập ở trên.
2.2.

Chính sách cổ tức

Cùng với quyết định đầu tư và quyết định tài trợ, quyết định chi trả cổ tức là một
trong ba quyết định tài chính quan trọng của một doanh nghiệp. Chính sách cổ tức
xác định mức lợi nhuận mà doanh nghiệp đưa ra phân phối. Lợi nhuận sẽ được
doanh nghiệp giữ lại để tái đầu tư cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hay
được chi trả cho các cổ đông. Lợi nhuận giữ lại thường được xem là nguồn vốn cổ
phần quan trọng hơn phát hành cổ phần mới.


8

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chi trả cổ tức của một doanh nghiệp.
Trong đó, có yếu tố về các hạn chế về pháp lý, các quốc gia đều có luật quy định về
chi trả cổ tức cho các doanh nghiệp nhằm hạn chế sự suy yếu vốn của doanh nghiệp,
hạn chế lợi nhuận ròng và hạn chế khả năng mất thanh toán. Ngoài ra, còn có các
yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức như các điều khoản hạn chế, các ảnh hưởng
của thuế, khả năng vay nợ và tiếp cận thị trường vốn, ổn định thu nhập, triển vọng
tăng trưởng, lạm phát, các ưu tiên của cổ đông, bảo vệ chống loãng giá và các ảnh
hưởng của tính thanh khoản cổ phiếu. Tùy vào đặc điểm và định hướng của doanh
nghiệp, ngành công nghiệp doanh nghiệp đang hoạt động và thị trường, doanh
nghiệp sẽ có những quyết định chi trả cổ tức khác nhau phù hợp với từng điều kiện.
Chính sách cổ tức là một trong những chính sách quan trọng trong tài chính doanh
nghiệp hiện đại. Trong thời gian qua, thế giới cũng như Việt Nam đã có rất nhiều

thích của những cổ đông khác nhau. Cụ thể, nếu doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu cổ
phần của Nhà nước càng cao, doanh nghiệp này thường có tỷ lệ chi trả cổ tức bằng
tiền mặt càng cao. Với những doanh nghiệp có sở hữu tư nhân cao hơn, các nhà
quản lý doanh nghiệp đó thường chi trả cổ tức bằng cổ phiếu hơn bằng tiền mặt.
Tóm lại, đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến chính sách cổ tức và các yếu tố
tác động đến chính sách tài chính quan trọng này. Trong bài luận văn, tác giả nghiên
cứu một yếu tố khác cũng có tác động đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp, đó
là tính thanh khoản cổ phiếu.
2.3.

Nghiên cứu thực nghiệm về tương quan giữa tính thanh khoản cổ phiếu

và chính sách cổ tức của doanh nghiệp
Nghiên cứu nổi tiếng của Miller và Modiglinani (1961) về chính sách cổ tức được
xem là một cơ sở lý thuyết quan trọng về chính sách cổ tức cũng như những yếu tố
tác động đến quyết định chi trả cổ tức, bao gồm thanh khoản cổ phiếu. Với giả định
thị trường không có ma sát, nhà đầu tư có thể đầu tư hoặc bán khoản đầu tư của
mình trong một doanh nghiệp mà không chịu bất kỳ chi phí giao dịch trực tiếp hay
gián tiếp nào. Trong một thị trường không có các ma sát giao dịch, nhà đầu tư với
nhu cầu thanh khoản cao có thể tự tạo ra thu nhập cổ tức mà không phải chịu chi phí
nào bằng cách bán một lượng cổ phiếu thích hợp mà họ đang nắm giữ. Kết quả là,
nhà đầu tư có thể không quan tâm giữa việc nhận được một USD từ cổ tức với việc
bán khoản đầu tư trị giá một USD. Tuy nhiên, trong thực tế, thị trường tài chính


10

luôn tồn tại các ma sát giao dịch. Nhà đầu tư phải chịu phí hoa hồng giao dịch cũng
như phải chịu thiệt về giá để thực hiện giao dịch ngay lập tức hoặc phải đợi cho đến
khi có thể thực hiện giao dịch một cách tối ưu. Những cổ phiếu doanh nghiệp có chi

(1986), với tỷ lệ cổ tức thấp hơn lợi nhuận giữ lại, cổ đông nội bộ có thể sử dụng lợi
nhuận đó để trục lợi cho mục đích cá nhân hoặc để đầu tư vào các dự án không đem
lại lợi nhuận nhằm đạt được lợi ích riêng. Hậu quả là cổ đông nội bộ chuộng việc
giữ lại lợi nhuận hơn là chi trả cổ tức. Dẫu vậy, tất cả các cổ đông nội bộ đều phải
đối mặt với vấn đề phân tích giữa lợi ích và chi phí của việc liệu có nên chi trả cổ
tức hay không. Stiglitz (2000) đã tổng hợp hàng loạt nghiên cứu cùng các bằng
chứng thực nghiệm và nhận thấy rằng thông tin là không hoàn hảo, việc thu thập
thông tin có thể tốn kém, thị trường có những bất cân xứng thông tin và mức độ bất
cân xứng này bị tác động bởi hành vi của các doanh nghiệp và cá nhân. Vì vậy, khi
thông tin không minh bạch rõ ràng, nhằm tìm kiếm lợi ích cho cá nhân, các cổ đông
nội bộ sẽ có động cơ sử dụng quản trị lợi nhuận để che giấu thành quả hoạt động
của doanh nghiệp đối với cổ đông bên ngoài, vì họ có thể dễ dàng chiếm được lợi
ích cho riêng mình mà không bị phát hiện (Leuz et al, 2003).
Li và Zhao (2008) đã tìm hiểu mối tương quan giữa chính sách cổ tức doanh nghiệp
đối với chất lượng của môi trường thông tin. Bằng việc sử dụng mẫu dữ liệu CRSP
– Compusat trong giai đoạn từ 1983-2003 và kiểm soát đặc điểm của các doanh
nghiệp, với các yếu tố khác không thay đổi, các tác giả đã tìm thấy có mối tương
quan ngược chiều giữa chính sách cổ tức và bất cân xứng thông tin. Cụ thể, những
doanh nghiệp có nhiều vấn đề bất cân xứng thông tin hơn thường ít có khả năng chi
trả cổ tức hơn. Việc giao dịch thông tin nhiều hơn giúp tính minh bạch cao hơn
khiến việc trục lợi cá nhân của các cổ đông nội bộ nhiều khả năng bị phát hiện và
vấp phải những rủi ro pháp lý và do đó làm tăng chi phí của việc chiếm dụng lợi
nhuận giữ lại.
Hơn nữa, với sự minh bạch thông tin cao hơn, việc giữ lại thu nhập thặng dư thay vì
phân phối chúng cho các nhà đầu tư bên ngoài sẽ tác động tiêu cực đến uy tín của
cổ đông nội bộ đối với việc thiếu các cam kết hạn chế việc chiếm dụng nhằm đạt lợi
riêng (Gomes, 2000), qua đó góp phần gây ra việc định giá cổ phiếu không hợp lý,
(Gomes, 2000; Kalcheva and Lins, 2007; Karpavicius and Yu, 2015) và việc tiếp
cận khó khăn đến các nguồn tài trợ bên ngoài (Gomes, 1996). Tất cả những điều


thấy rằng quản trị doanh nghiệp và chính sách cổ tức không chỉ có mối tương quan
với nhau mà đó còn là mối quan hệ nhân quả giữa 2 vấn đề trên, đặc biệt là vai trò


13

của quản trị doanh nghiệp đối với các quyết định chi trả cổ tức. Cụ thể, tỷ lệ chi trả
cổ tức thấp hơn và việc nắm giữ tiền mặt lớn hơn ở những quốc gia có sự bảo vệ
quyền lợi nhà đầu tư kém.
Với một khía cạnh nghiên cứu khác về vấn đề đại diện, He (2012) đã cho thấy rằng
sự cạnh tranh thị trường sản phẩm có thể làm giảm bớt vấn đề đại diện giữa cổ đông
kiểm soát và cổ đông thiểu số. Theo đó, những doanh nghiệp trong nền công nghiệp
có tính cạnh tranh cao thường trả cổ tức nhiều hơn, có khả năng cao sẽ tăng tỷ lệ chi
trả cổ tức và ít có khả năng bỏ qua việc chi trả cổ tức. Sự cạnh tranh của thị trường
có thể là một cơ chế quản trị hiệu quả nhằm khiến các nhà quản lý phải chi trả cổ
tức tiền mặt cho những nhà đầu tư bên ngoài.
Ngoài ra, bằng cách sử dụng một mẫu gồm 755 doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu ở
nước ngoài, Petrasek (2012) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa chi phí đại diện và
chính sách cổ tức và tìm thấy rằng những doanh nghiệp sẽ tăng chi trả cổ tức sau
khi niêm yết trên sàn giao dịch với mức độ minh bạch thông tin cao hơn và có sự
bảo vệ cổ đông tốt hơn. Kết quả nghiên cứu này ủng hộ cho giả thuyết tỷ lệ chi trả
cổ tức cao hơn là kết quả của tính minh bạch và cơ chế bảo vệ quyền lợi cổ đông.
Tóm lại, lợi ích ròng của việc chi trả cổ tức sẽ tăng cùng với tính thanh khoản cổ
phiếu, vốn giúp hạn chế động cơ chiếm dụng nhằm đạt lợi riêng của các cổ đông nội
bộ và khuyến khích các cổ đông này quyết định chi trả cổ tức.
Đóng góp thêm vào lý thuyết về tác động của tính thanh khoản cổ phiếu đến chính
sách cổ tức, bằng cách sử dụng mẫu dữ liệu gồm các doanh nghiệp niêm yết tại
Trung Quốc giai đoạn 2000-2014, Jiang et al. (2016) đã tìm hiểu tác động thông tin
của tính thanh khoản cổ phiếu đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp. Cụ thể, tác
động thông tin của tính thanh khoản giúp làm giảm bất cân xứng thông tin và vấn đề

3.1.

Dữ liệu nghiên cứu

Đề tài sử dụng dữ liệu gồm mẫu quan sát của 299 doanh nghiệp phi tài chính đang
niêm yết tại Sở Giao dịch chứng Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn 2010-2016.
Các số liệu thu thập được từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và dữ liệu giao
dịch cổ phiếu trên trang vietstock.vn.
Từ mẫu ban đầu gồm 312 doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE, tác giả đã tiến
hành loại bỏ những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính, bao gồm các doanh
nghiệp thuộc các ngành Bảo hiểm, Chứng khoán, Ngân hàng.
Bên cạnh đó, vì xem xét dữ liệu các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE qua từng
năm, trong giai đoạn từ 2010-2016, tác giả loại bỏ những quan sát của doanh nghiệp
trong các năm mà doanh nghiệp đó không có đầy đủ số liệu cần thiết để tính các
biến.
Ngoài ra, tác giả cũng loại bỏ những doanh nghiệp có DVE (tỷ lệ cổ tức/lợi nhuận)
âm hoặc DVC (tỷ lệ cổ tức/dòng tiền) âm (ví dụ: trong trường hợp doanh nghiệp có
tiến hành chia cổ tức nhưng lợi nhuận hoặc dòng tiền lại âm).
Như vậy, dữ liệu được tổng hợp thành dữ liệu dạng bảng không cân bằng, tổng số
quan sát của mẫu gồm 1477 quan sát cho 299 doanh nghiệp phi tài chính trong giai
đoạn 7 năm từ 2010-2016.
Bộ dữ liệu ban đầu gồm các khoản mục chính sau đây: tiền mặt, tổng tài sản, tổng
nợ, giá trị thị trường của vốn, tỷ lệ chi trả cổ tức, lợi nhuận, dòng tiền từ hoạt động
kinh doanh, dòng tiền từ hoạt động đầu tư, giá cổ phiếu của doanh nghiệp trong mỗi
phiên giao dịch, giá trị giao dịch trong mỗi phiên giao dịch của doanh nghiệp.

3.2.

Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Mô hình nghiên cứu

: Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản

-

Cash

: Tiền mặt doanh nghiệp đang nắm giữ

-

Lev

: Tỷ lệ đòn bẩy

-

Top1

: Cổ đông lớn nhất

-

Independence

: Giám sát độc lập

Ngoài ra, tác giả còn xem xét mức độ ảnh hưởng của tính thanh khoản cổ phiếu đến
chính sách cổ tức của doanh nghiệp trong trường hợp có các doanh nghiệp có mức
độ bất cân xứng thông tin khác nhau, cũng như trong truờng hợp doanh nghiệp xảy
ra xung đột giữa cổ đông kiểm soát và cổ đông thiểu số, tức doanh nghiệp có tồn tại

lớn hơn 0, tức doanh nghiệp có thực hiện chi trả cổ tức trong một năm bất kỳ, và
DVP sẽ bằng 0 trong trường hợp ngược lại, tức doanh nghiệp không thực hiện chi
trả cổ tức trong năm đó.
Biến độc lập
Liquidity –Thanh khoản cổ phiếu
Tác giả đo lường tính thanh khoản cổ phiếu bằng cách sử dụng tỷ số phi thanh
khoản của Amihud (2002). Lý thuyết thị trường vi mô đã đề xuất một số các
phương pháp đo lường tính thanh khoản, các lý thuyết ngụ ý rằng tác động của tính
thanh khoản đến chính sách cổ tức chủ yếu liên quan tác động và thông tin giá cả,
vốn được thể hiện rõ ràng qua phương pháp đo lường Amihud (2002) (Amihud,
2002; Goyenko et al., 2009). Amihud (2002) nghiên cứu về đề xuất lợi nhuận kỳ
vọng tài sản sẽ tăng trong môi trường phi thanh khoản, qua đó, theo thời gian, tính
phi thanh khoản của thị trường dự kiến tác động tích cực đến lợi nhuận thặng dư
của cổ phiếu. Phương pháp đo lường tính phi thanh khoản trong nghiên cứu của
Amihud là ILLIQ, tức tỷ lệ của giá trị tuyệt đối lợi nhuận hàng ngày cổ phiếu chia
cho giá trị giao dịch mỗi ngày, bình quân qua thời kỳ. Các dữ liệu cần thiết để đo


18

lường tính phi thanh khoản đều có thể dễ dàng thu thập được từ dữ liệu giao dịch cổ
phiếu hàng ngày trong thời gian dài ở hầu hết các thị trường chứng khoán. Phương
pháp đo lường này được diễn tả là phản ứng của giá cổ phiếu hàng ngày đối với giá
trị giao dịch của cổ phiếu. Mặc dù có nhiều phương pháp đo lường tính phi thanh
khoản tốt hơn trong lý thuyết thị trường vi mô, ILLIQ lại có thể dễ dàng thu thập
được cơ sở dữ liệu hàng ngày về lợi nhuận cổ phiếu và giá trị giao dịch. Chính điều
này làm ILLIQ có sẵn ở hầu hết các thị trường chứng khoán và có thể xây dựng một
chuỗi thời gian của tính phi thanh khoản trong một khoảng thời gian dài, vốn rất cần
thiết đối với nghiên cứu về tác động của tính phi thanh khoản qua thời gian.
Trong bài luận văn, tác giả tính Amihud là bình quân tỷ lệ lợi nhuận hàng ngày của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status