Số hóa tài liệu và tổ chức khai thác nguồn tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam - Pdf 42

Header PageKhóa
1 of 126.
luận tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, nhân loại đang bước sang một kỷ nguyên mới kỷ nguyên
của nền kinh tế thông tin và tri thức. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã
tác động mạnh mẽ tới mọi hoạt động của đời sống xã hội trong đó có hoạt
động Thông tin – Thư viện. Đặc biệt, các thư viện trên thế giới đang có xu
hướng tự động hóa nghiệp vụ hoặc chuyển sang các loại hình thư viện điện
tử, thư viện số nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tri thức và thông tin không
ngừng gia tăng nhanh chóng trong xã hội. Giờ đây các tài liệu trong thư viện
không chỉ đơn thuần là các tài liệu truyền thống như sách báo, tạp chí mà còn
bao gồm các loại tài liệu dạng số như: Cơ sở dữ liệu (CSDL) trên mạng, đĩa
CD, DVD…Chính vì vậy mà công tác số hóa tài liệu và tổ chức khai thác
nguồn tài liệu số được các thư viện đặc biệt quan tâm và coi đây là vấn đề
quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả cung cấp thông tin tới người
dùng tin.
Thư viện Quốc gia Việt Nam là Thư viện trung tâm của cả nước, là
thư viện đứng đầu trong hệ thống thư viện công cộng, đi đầu trong công tác
tự động hoá và ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin vào hoạt
động của mình, ngoài việc hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, tăng
cường đào tạo đội ngũ cán bộ thì công tác số hóa tài liệu và tổ chức khai thác
nguồn tài liệu số cũng là một vấn đề đang được Thư viện đặc biệt quan tâm
nhằm nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu tin ngày càng tăng cao và đa dạng.
Nhận thấy được tầm quan trọng đó tôi đã quyết định chọn đề tài: “Số
hóa tài liệu và tổ chức khai thác nguồn tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt
Nam” làm đề tài nghiên cứu của khóa luận nhằm tìm hiểu và bổ sung những

công tác số hóa tài liệu và tổ chức khai thác nguồn tài liệu số tại Thư viện
Quốc gia Việt Nam.
3. Tình hình nghiên cứu theo hƣớng đề tài
Cho đến nay đã có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và tìm hiểu
về Thư viện Quốc gia Việt Nam với các đề tài như:
- “Nghiên cứu hoạt động tra cứu thông tin tại Thư viện Quốc gia Việt
Nam trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước” của Nguyễn
Thị Hoài Thu, khóa luận tốt nghiệp năm 2001.
- “Công tác bảo quản vốn tài liệu ở Thư viện Quốc gia Việt Nam” của
Ngô Thị Hằng Nga, khóa luận tốt nghiệp năm 2004
- “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động lưu chiểu ở
Thư viện Quốc gia Việt Nam” của Nguyễn Thị Hảo, khóa luận tốt nghiệp
năm 2004.
Thông tin – Thư viện
Footer Page K51
2 of 126.


Header PageKhóa
3 of 126.
luận tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

- “Lịch sử phân loại tài liệu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam” của Vũ
Quỳnh Nhung, khóa luận tốt nghiệp năm 2005.
- “Công tác phát triển vốn tài liệu của Thư viện Quốc gia Việt Nam”
của Nguyễn Thị Thu Hiền, khóa luận tốt nghiệp năm 2006.
- “Tìm hiểu công tác tổ chức và phục vụ kho mở tại Thư viện Quốc
gia Việt Nam” của Nguyễn Thị Thảo Hà, khóa luận tốt nghiệp năm 2008.

luận tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành đề tài tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
- Phương pháp trao đổi với cán bộ thư viện và phỏng vấn người dùng
tin.
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu liên quan.
6. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Về lý luận: Khóa luận làm rõ nội hàm các khái niệm liên quan đến
tài liệu số: số hóa tài liệu, thư viện số, tài liệu số,...; Tầm quan trọng của
công tác số hóa tài liệu và tổ chức khai thác nguồn tài liệu số đối với thư
viện.
- Về thực tiễn: Đưa ra một số nhận xét và đề xuất giải pháp phù hợp
nhằm nâng cao hiệu quả công tác số hóa tài liệu và tổ chức khai thác nguồn
tài liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục
từ viết tắt, phụ lục thì bố cục chính của khóa luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Thư viện Quốc gia Việt Nam và những vấn đề chung về tài
liệu số.
Chương 2: Thực trạng số hóa tài liệu và tổ chức khai thác nguồn tài
liệu số tại Thư viện Quốc gia Việt Nam.
Chương 3: Một số nhận xét và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho
công tác số hóa tài liệu và tổ chức khai thác nguồn tài liệu số tại Thư viện
Quốc gia Việt Nam.

lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định đổi tên Thư viện Pie
Patxkie (Pierre Pasquire) thành Quốc gia Thư viện.
Tháng 02/1947 Pháp chiếm lại Hà Nội Thư viện lại được đổi tên thành
Thư viện Trung ương trực thuộc Phủ cao ủy Pháp tại Sài Gòn.
Năm 1953, Thư viện Trung ương sát nhập vào Viện Đại học Hà Nội
và đổi tên là Tổng Thư viện Hà Nội. Giữa năm 1954, trước khi rút chạy khỏi
miền Bắc, thực dân Pháp đã đưa một phần kho sách của Tổng Thư viện vào
Sài Gòn.

Thông tin – Thư viện
Footer Page K51
5 of 126.


Header PageKhóa
6 of 126.
luận tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

Đến tháng 10/1954, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản
Hà Nội, tiếp quản thư viện, trên văn bản mang tên là Thư viện Trung ương từ
Bộ Giáo dục sang Bộ Tuyên truyền (sau là Bộ Văn hóa).
Ngày 29/06/1957, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam cho phép đổi tên
Thư viện thành Thư viện Quốc gia Việt Nam.
Ngày 28/11/1958, Thư viện chính thức mang tên Thư viện Quốc gia
do Bộ trưởng Bộ Văn hóa quyết định.
Năm 1982, TVQGVN được Thư viện Liên hiệp quốc công nhận là
Thư viện tàng trữ tài liệu Liên Hiệp Quốc của khu vực Đông Dương.
Năm 2000, Thư viện Quốc gia chính thức gia nhập Hiệp hội Thư viện

hành trang bị chuyên biệt cho các diện tích và luôn luôn giữ cho cơ sở vật
chất – kỹ thuật ở tình trạng tốt nhất.
Trong mối quan hệ với bạn đọc, cán bộ thư viện là người môi giới
giữa sách và người đọc, là người tổ chức mối quan hệ giữa sách và người
đọc, làm trung gian giữa bạn đọc với bạn đọc, họ không chỉ tuyên truyền giới
thiệu một cách tích cực tài liệu mà còn nghiên cứu nhu cầu đọc, hướng dẫn
đọc phù hợp với nhu cầu, đồng thời tạo ra các dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu
đó. Cán bộ thư viện là người tổ chức, tạo điều kiện tối ưu cho việc phối hợp
thành công mối quan hệ giữa con người với thông tin, làm cho việc khai
thác, sử dụng thông tin có hiệu quả, làm tăng giá trị thông tin.
Như vậy, cán bộ thư viện không chỉ là cầu nối giữa sách và bạn đọc
mà còn là cầu nối tài liệu với tài liệu, tài liệu với cơ sở vật chất – kỹ thuật, cơ
sở vật chất – kỹ thuật với người đọc.
Theo số liệu thống kê về số lượng cán bộ tại TVQGVN năm 2010 có
tới 176 người. Họ là những người cán bộ có trình độ về chuyên môn, nghiệp
vụ, ngoại ngữ, tin học có khả năng đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ phát triển
của Thư viện. Trong 176 cán bộ có: 1 cán bộ trình độ tiến sỹ, gần 20 cán bộ
trình độ thạc sỹ, 70% cán bộ có trình độ đại học.
Số lượng cán bộ cụ thể ở các phòng ban như sau:
- Phòng lưu chiểu: 7 cán bộ
- Phòng bổ sung: 7 cán bộ
- Phòng phân loại – biên mục: 16 cán bộ
- Phòng đọc sách: 26 cán bộ
- Phòng Báo, tạp chí: 19 Cán bộ
- Phòng Thông tin – tư liệu: 8 cán bộ
- Phòng Nghiên cứu khoa học: 5 cán bộ
- Phòng Quan hệ quốc tế: 4 cán bộ

Thông tin – Thư viện
Footer Page K51

nào đó như một thư viện số ảo toàn cầu mà độc giả là toàn thể những người
sử dụng mạng trên hành tinh và các công cụ tìm tin, sự hiện diện của Web
bảo đảm các chức năng thư mục cho thư viện đó. Tuy nhiên sự khác biệt
giữa Thư viện điện tử, Thư viện số với kho thông tin khổng lồ trên Internet
đó là World Wide Web (www) thiếu hẳn những đặc điểm quan trọng của
việc sưu tầm có chọn lọc và tổ chức thông tin chặt chẽ như trong thư viện
điện tử và thư viện số.

Thông tin – Thư viện
Footer Page K51
8 of 126.


Header PageKhóa
9 of 126.
luận tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

Thư viện điện tử cũng có thể hiểu theo nghĩa tổng quát: Là một loại
hình thư viện đã tin học hóa toàn bộ hoặc một số dịch vụ thư viện; Là nơi
người sử dụng có thể tới để tra cứu, sử dụng các dịch vụ thường làm như với
một thư viện truyền thống nhưng đã được tin học hóa. Nguồn lực của Thư
viện điện tử bao gồm cả tài liệu in giấy và tài liệu đã được số hóa.
- Thư viện số (TVS):
Theo Michael Lesk – 1997: “Các thư viện số là các bộ sưu tập thông
tin số hóa được tổ chức. Chúng bao gồm việc cấu trúc và thu thập thông tin
là các công việc mà các thư viện truyền thống vẫn luôn phải làm và các máy
tính có nhiệm vụ trình bày các thông tin đó…Một thư viện số thực sự cũng
tạo ra các nguyên tắc quản lý những yếu tố cấu thành thư viện và các phương

các phương thức truy cập đa dạng, đa chiều.
- Cung cấp truy cập miễn phí (có thể đối với một cộng đồng người
dùng tin xác định)
- Sở hữu và quản lý, kiểm soát được các nguồn tài nguyên thông tin
của mình (cũng có thể phải mua ở bên ngoài)
- Có một tập hợp nguồn tài nguyên thông tin với các đặc điểm sau:
+ Lớn và ổn định.
+ Được tổ chức và quản trị tốt.
+ Có nhiều khổ mẫu và khuôn dạng khác nhau…
- Tài liệu điện tử:
Hiện nay khái niệm về tài liệu điện tử ở Việt nam vẫn còn rất mơ hồ,
chưa có một khái niệm rõ ràng.
Có thể xem tài liệu điện tử là tài liệu được trình bày và lưu trữ trên các
vật mang tin điện tử và có thể truy cập được thông qua hệ thống máy tính
điện tử và mạng máy tính. Các vật mang tin ở đây có thể là băng từ, đĩa từ,
các bộ phận lưu trữ thông tin của máy tính.
Sự ra đời của tài liệu điện tử là kết quả tất yếu của bùng nổ thông tin
và bùng nổ công nghệ.
- Tài liệu số (TLS):
Theo từ điển giải nghĩa của Mindwrap, “Tài liệu số” là những tài liệu
được lưu giữ bằng máy tính. TLS có thể được tạo lập bởi máy tính như việc
xử lý các file văn bản, các bảng biểu hoặc chúng có thể được chuyển đổi
sang dạng số từ những tài liệu dạng khác. TLS cũng được đề cập đến như là
tài liệu điện tử.
Từ định nghĩa trên cho thấy, TLS được xây dựng thông qua hai kênh:
- Kênh 1: Tạo lập tài liệu gốc bằng máy tính thông qua việc xử
lý các file văn bản, hình ảnh, bảng biểu,…

Footer Page K51
10 ofThông

Siêu dữ liệu được xác định là “dữ liệu mô tả các thuộc tính của đối tượng
thông tin và trao cho các thuộc tính này ý nghĩa, khung cảnh và tổ chức. Siêu
dữ liệu còn có thể định nghĩa là dữ liệu có cấu trúc về dữ liệu”. Gail Hodge
định nghĩa siêu dữ liệu là “thông tin có cấu trúc mà nó mô tả, giải thích, định
vị, hoặc làm cho nguồn tin trở nên dễ tìm kiếm, sử dụng và quản lý hơn. Siêu
dữ liệu được hiểu là dữ liệu về dữ liệu hoặc thông tin về thông tin”.

Footer Page K51
11 ofThông
126. tin – Thư viện


Header PageKhóa
12 of luận
126. tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

Theo Dempsey và Heery, 1997: “siêu dữ liệu là dữ liệu đi kèm với đối
tượng thông tin và nó cho phép những người sử dụng tiềm năng có thể biết
trước sự tồn tại cũng như đặc điểm của đối tượng thông tin này”.
Nói tóm lại, siêu dữ liệu là thông tin mô tả tài nguyên thông tin.
1.2.2. Vai trò, vị trí của nguồn tài liệu số đối với sự phát triển của
Thƣ viện Quốc gia Việt Nam
- Tài liệu số trong thư viện chính là di sản văn hóa của dân tộc. Bởi
cũng giống như các loại tài liệu truyền thống khác tài liệu số lưu giữ, truyền
bá và bảo quản những giá trị văn hóa truyền thống của nhân loại từ đời này
qua đời khác. Đồng thời nó còn là cơ sở quan trọng để phục vụ bạn đọc;
phục vụ các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…của đất nước.
- Xây dựng và tổ chức khai thác nguồn tài liệu số sẽ tạo khả năng truy

việc giảm hao mòn, rách nát do quá trình tiếp xúc trực tiếp với tài liệu của
người sử dụng. TLS ngăn chặn những rủi ro hủy hoại do thời gian, thiên tai,
khí hậu và tần suất sử dụng.
- Nguồn tài liệu số giúp thư viện mở rộng đối tượng phục vụ: Phạm vi
phục vụ các tài liệu của thư viện không bị bó hẹp trong khuôn viên của thư
viện mà nó vươn tới các vị trí địa lý khác như tại nhà, tại trường, tại nơi làm
việc... Tài liệu số tạo ra môi trường và cơ hội bình đẳng rộng mở cho tất cả
mọi người đều có cơ hội sử dụng nguồn tài liệu học tập bởi nguồn tài liệu số
không bị giới hạn về không gian và thời gian. Loại bỏ khoảng cách tri thức
giữa người giàu và người nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa các quốc
gia.
- Tài liệu số giúp thư viện tăng khả năng đa truy cập cho phép người
dùng có thể tra tìm tài liệu đồng thời theo nhiều dấu hiệu khác nhau. Ví dụ
như tìm theo các yếu tố mô tả thư mục với các toán tử tìm được xây dựng
dựa trên các toán tử Boole, các toán tử thu gon, mở rộng, tìm theo các liên
kết tới các nguồn tham khảo, trích dẫn. Điều này cho phép người dùng tin có
thể mở rộng hay thu hẹp phạm vi tìm kiếm, rút ngắn thời gian và giảm thiểu
nhiễu tin.
- Tuyên truyền, phổ biến các tài liệu của nước ta với thế giới. Tài liệu
số được lưu giữ trên hệ thống máy tính do đó bạn đọc dù ở bất cứ đâu, không
gian và khoảng cách như thế nào thì cũng có thể tiếp cận tới nguồn tài liệu
của thư viện thông qua máy tính kết nối mạng internet hay intranet.
1.3. Nguồn tài liệu số trong cơ cấu vốn tài liệu của Thƣ viện Quốc gia
Việt Nam
Thư viện Quốc gia Việt Nam là một trong những thư viện có nguồn
TLS lớn trong cả nước. Trong đó, bên cạnh nguồn TLS mua từ bên ngoài,

Footer Page K51
13 ofThông
126. tin – Thư viện

6.727

4

Luận án tiến sỹ

13.762

5

Bài trích

50.130

340.000

- CSDL sách của Thư viện Quốc gia: 340.000 biểu ghi (sách tiếng
Việt xuất bản từ 1954 đến nay, sách hệ chữ Latinh thừ 1982 đến nay, sách
tiếng Pháp kho Đông dương.
- CSDL Báo, tạp chí các ngôn ngữ: 6.272 biểu ghi.
- CSDL Báo, tạp chí nghiên cứu các ngôn ngữ nhập về thư viện trước
năm 1954: 1.718 biểu ghi
- CSDL Luận án tiến sỹ: 13.762 biểu ghi.
- CSDL Bài trích từ hơn 60 tạp chí: 50.130 biểu ghi.
1.3.2. Cơ sở dữ liệu toàn văn
Là loại hình CSDL rất được chú ý trên thế giới nhưng mới chỉ xuất
hiện trong hệ thống thư viện công cộng trong những năm gần đây với số
Footer Page K51
14 ofThông
126. tin – Thư viện

hội, lịch sử, giáo dục, khoa học địa lý của Việt Nam trong suốt tiến trình lịch
sử. Do thời gian, khí hậu, sự hạn chế về cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo quản
nên kho sách đang dần bị xuống cấp và hư hại.

Footer Page K51
15 ofThông
126. tin – Thư viện


Header PageKhóa
16 of luận
126. tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

Tài liệu Hán Nôm gốc
- Bộ sưu tập số: sách, báo Đông Dương
Sách Đông Dương: Bao gồm sách tiếng Pháp và tiếng Việt xuất bản ở
Đông Dương, viết về Đông Dương và Việt Nam. Đây là hợp đồng giữa Thư
viện Quốc gia và Chính phủ Pháp từ dự án Valease: “Tổ chức và thực hiện
chương trình số hóa tài liệu tiếng Pháp thuộc vốn di sản cổ đã được công
nhận ở Việt Nam và Đông Dương”. Thư viện Quốc gia đã tạo lập Ebook các
tài liệu viết về Việt Nam trước năm 1932. CSDL hiện có 758 tên sách,
89.512 trang, 175 bản đồ, trọn bộ tạp chí: Nam Phong; Tri Tân
- Bộ sưu tập số: Thăng Long – Hà Nội:
Bao gồm:
- Bản đồ cổ Hà Nội và vùng phụ cận
- Sách báo xuất bản sau năm 1954
- Sách báo xuất bản trước năm 1954
- Sách Hán - Nôm cổ

án Tiến sỹ cùng với một số tài liệu của Nhà xuất bản Hà Nội mới phát hành
trong Dự án Hành trình tìm kiếm Di sản văn hiến Thăng Long – Hà Nội, và
của Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Bộ sưu tập này sẽ được cập nhật thường
xuyên nhằm cung cấp thêm tư liệu quý về Thăng Long – Hà Nội nghìn năm
văn hiến.
- Bộ sưu tập số: Sách tiếng Anh về Việt Nam
Thuộc Dự án CONSAL: 92.520 trang (338 cuốn)

Footer Page K51
17 ofThông
126. tin – Thư viện


Header PageKhóa
18 of luận
126. tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

1.3.2.2. Cơ sở dữ liệu toàn văn bổ sung từ bên ngoài

1

2

3

KEESING

PROQUEST

thông tin từ năm 1982 – nay:
+ Wilson Applied Science and Technology Full Text
+ Wilson Art Full Text
+ Wilson Business Full Text
+ Education Full Text
+ Humanities Full Text
+ Social science Full Text
+ Index to legal Periodicals Full Text.
1.4. Đặc điểm nhu cầu tin và ngƣời dùng tin tại Thƣ viện Quốc gia
Việt Nam
1.4.1. Đặc điểm ngƣời dùng tin
Người dùng tin là đối tượng phục vụ của bất kỳ một cơ quan thông tin
– thư viện nào. Người dùng tin là người sử dụng thông tin đồng thời là người
sáng tạo và làm giàu nguồn tin. Thỏa mãn nhu cầu tin cho người dùng tin
cũng đồng nghĩa với việc phát triển nguồn tin của thư viện. Sự thỏa mãn nhu
cầu tin cho người dùng tin chính là cơ sở để đánh giá chất lượng hoạt động
thông tin trong thư viện.
Hiện nay, người dùng tin của Thư viện Quốc gia phát triển nhanh
chóng cả về số lượng và thành phần. Trình độ của người dùng tin có nhiều
cấp độ khác nhau. Đối tượng người dùng tin mà thư viện hướng tới là các
nhà quản lý, lãnh đạo các cấp, các ngành; cán bộ giảng dạy ở các trường đại
học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, các trường phổ thông; cán bộ công
tác tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh; sinh viên
các trường đại học, cao đẳng (Trước đây Thư viện chỉ làm thẻ đọc cho sinh
viên năm thứ 3, 4, nay Thư viện đã mở rộng đối tượng là sinh viên năm thứ

Footer Page K51
19 ofThông
126. tin – Thư viện


1.4.2.1. Nhu cầu tin của cán bộ quản lý, lãnh đạo
Đây là nhóm người dùng tin chiếm số lượng rất ít (khoảng 5%) song
họ lại là nhóm người dùng tin rất quan trọng của Thư viện. Đáp ứng nhu cầu
tin của họ là việc mà thư viện hết sức quan tâm. Bởi lẽ họ là những người
Footer Page K51
20 ofThông
126. tin – Thư viện


Header PageKhóa
21 of luận
126. tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

đưa ra các quyết định mang tính chiến lược và sách lược ở tầm vĩ mô hay vi
mô có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của xã hội; họ có thể là những
người xây dựng, phác thảo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, của
các bộ, các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh. Ngoài công tác quản lý,
một số cán bộ còn trực tiếp tham gia nghiên cứu khoa học. Do đó, nhu cầu
tin của họ rất đa dạng, phong phú và đòi hỏi tính kịp thời, đầy đủ và chính
xác cao. Thông tin phải vừa rộng đồng thời cũng phải mang tính chuyên sâu,
bảo mật và hệ thống.
1.4.2.2. Nhu cầu tin của cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, cán bộ trong các
đơn vị hành chính, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh
Nhóm người dùng tin này chiếm tỷ lệ khá nhiều tại Thư viện (khoảng
27%). Họ có nhu cầu tài liệu khá cao. Thông tin họ cần vừa mang tính tổng
hợp lại vừa mang tính chuyên sâu. Nhóm người dùng tin này có khả năng sử
dụng mọi loại hình tài liệu cả truyền thống lẫn hiện đại. Tài liệu họ cần
thường là những tài liệu quý hiếm; tài liệu xám, tài liệu đã được số hóa; các



Header PageKhóa
23 of luận
126. tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG SỐ HÓA TÀI LIỆU VÀ
TỔ CHỨC KHAI THÁC NGUỒN TÀI LIỆU SỐ
TẠI THƢ VIỆN QUỐC GIA VIỆT NAM
2.1. Hoạt động số hóa tài liệu tại Thƣ viện Quốc gia Việt Nam
Công tác số hóa tài liệu là bước đầu tiên của quá trình xây dựng bộ
sưu tập số. Quá trình này quyết định đến:
- Định dạng của TLS (Dạng text, dạng ảnh và dạng đa phương tiện)
- Chất lượng của TLS nói riêng và bộ sưu tập số nói chung
- Sự đa dạng và mức độ bao quát nguồn thông tin
- Chất lượng TLS trong bộ sưu tập về mặt nội dung
Do nguồn tài nguyên của Thư viện rất phong phú và đa dạng, bao gồm
nhiều loại CSDL khác nhau nên việc tạo lập TLS cũng liên quan đến nhiều
phương thức kỹ thuật. Hiện nay, bên cạnh việc mua các CSDL khác ở bên
ngoài thì thư viện đang sử dụng hình thức tạo lập TLS chủ yếu là số hoá tài
liệu.
Trong phần này tôi xin tập trung vào quy trình số hóa tài liệu tại
TVQGVN được tiến hành thông qua 9 bước sau đây:
2.1.1. Khuôn khổ pháp lý
Thư viện Quốc gia Việt Nam là Thư viện trung tâm của cả nước với
chức năng và nhiệm vụ được quy định theo Pháp lệnh thư viện được ủy ban
thường vụ Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 28/12/2000 và được Chủ tịch

hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết; trong trường
hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ 50
sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.”
- Đối với tài liệu còn luật bản quyền
Theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005: Điều 25: Các trường hợp sử
dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận
bút, thù lao cụ thể:
1, Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng
dạy cá nhân;

Footer Page K51
24 ofThông
126. tin – Thư viện


Header PageKhóa
25 of luận
126. tốt nghiệp

Lê Thị Thúy

2, Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên
cứu
Như vậy, việc số hoá tài liệu cho TVS/ TVĐT là không vi phạm bản
quyền nếu:
- Tài liệu nằm ngoài bản quyền: Tài liệu xuất bản bởi chính phủ: văn
bản pháp quy, số liệu thống kê, tài liệu thuộc lĩnh vực tư pháp (theo Luật sở
hữu trí tuệ Việt Nam; chương 1, mục 1, điều 15: Các đối tượng không thuộc
phạm vi bảo hộ quyền tác giả: “Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin; văn bản
quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status