VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NGUYỆT ANH
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH MAY MẶC CỦA
VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP VÀ
TIẾN BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số
: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THẮNG
HÀ NỘI, 2017
HÀ NỘI - năm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH MAY
MẶC ................................................................................................................ 16
1.1. Một số khái niệm cơ bản.................................................................... 16
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển ngành dệt may ............................ 20
1.3. Tiêu chí đánh giá sự phát triển của ngành may mặc ...................... 25
1.4. Vai trò của ngành may mặc đối với sự phát triển của một số nước
Dệt may
DN
Doanh nghiệp
DT
Doanh thu
DNNVV
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
HN
Hội nhập
KNXK
Kim ngạch xuất khẩu
KNXNK
Kim ngạch xuất-nhập khẩu
Sản Xuất
TPP
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình
Dương
TT
Thị trường
TTTG
Thị trường thế giới
Vinatex
Tập đoàn Dệt may Việt Nam
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Số lượng doanh nghiệp DM giai đoạn 2010-2014 ......................... 46
Bảng 2.2. Tổng số nguồn vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp dệt
may tính đến 31/12 hàng năm ......................................................... 47
Bảng 2.3. Lực lượng lao động ngành dệt may…………………………........50
Bảng 2.4. Tỷ lệ lao động theo giới tính, theo trình độ chuyên môn và theo tính
(SP) dệt may Việt Nam không ngừng PT về số lượng, cơ cấu chủng loại và
giá trị KNXK, trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực và chiếm giữ vị trí quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân. Những thành công của ngành DM (đặc biệt
là việc thống lĩnh thị trường (TT) nội địa và mở rộng ra thị trường thế giới
(TTTG)) đã đánh dấu bước khởi đầu tốt đẹp trong sự nghiệp đổi mới, HN và
PT kinh tế ở Việt Nam.
Trong toàn ngành DM, ngành may mặc (MM) là ngành quan trọng
nhất, phụ trách những công đoạn cuối cùng trong chu trình sản xuất (SX) của
ngành DM, như: sáng tạo mẫu mã, thiết kế, SX thành phẩm, phân phối SP,
v.v. MM còn là ngành có thể phù hợp với tất cả loại quy mô doanh nghiệp
(lớn, vừa, nhỏ, cá thể) vừa là ngành có cơ hội lớn nhất trong việc tạo ra giá trị
gia tăng lớn của toàn ngành, đồng thời là ngành có khả năng ứng dụng KHCN
hiện đại song vẫn tạo ra được nhiều việc làm cho xã hội. PT ngành MM sẽ là
động lực PT ngành DM, đến lượt nó, ngành DM sẽ là động lực thúc đẩy sự
1
PT của tất cả các ngành công nghiệp phụ trợ và toàn nền kinh tế. Trong lịch
sử, có nhiều quốc gia đã PT ngành DM cho sự cất cánh của mình, như: Nhật
Bản, Đài Loan, Thái Lan v.v. Đối với Việt Nam, việc phát triển DM như một
động lực cho sự cất cánh cũng là một khả năng cần được xem xét.
Hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh HN, tiếp tục coi HN như động lực
quan trọng cho PT. Việt Nam đã và đang tham gia đàm phán và đã ký kết
nhiều hiệp định tự do thương mại thế hệ mới. Bên cạnh đó, xu hướng phát
triển ngành DM trên thế giới cũng như những quy định mới về thương mại SP
may mặc (đặc biệt là việc xóa bỏ chế độ hạn ngạch bởi WTO, các nhà bán lẻ
và các nhà mua hàng được tự do nhập vải và SP may với bất cứ số lượng nào,
từ bất cứ quốc gia nào) cũng sẽ có tác động hai mặt tới ngành MM Việt Nam.
Do đó, các nước có chi phí nhân công thấp sẽ may gia công với các nguyên
đi sâu nghiên cứu về thực trạng vốn nhân lực của các doanh nghiệp (DN) may
mặc Việt Nam, làm rõ những ưu điểm, nhược điểm của vốn nhân lực cũng như
quá trình PT vốn nhân lực cho các DN may. Trên cơ sở đó, luận án đã xây
dựng các tiêu chí mới để đánh giá chất lượng vốn nhân lực của các DN may,
đồng thời tiến hành đánh giá chất lượng vốn nhân lực thực tế của các DN may
theo các tiêu chí thể hiện chất lượng vốn nhân lực và đề xuất các giải pháp
nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các DN may.
Nâng cao chất lượng vốn nhân lực của các DN may sẽ giúp các DN tạo
dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh trong thời kỳ toàn cầu hoá, nâng cao hiệu
quả SX kinh doanh và đóng góp tích cực cho sự PT bền vững của các DN
may. Qua quá trình phân tích, luận án đã đi tới các kết luận chủ yếu sau: (1)
Luận án đã PT khái niệm về chất lượng vốn nhân lực để làm cơ sở nghiên cứu
chất lượng vốn nhân lực như sau: chất lượng vốn nhân lực là mức độ mà một
tập hợp các đặc tính của vốn nhân lực tạo cho vốn nhân lực khả năng thoả
mãn những nhu cầu được nêu ra hoặc tiềm ẩn; (2) Luận án đề xuất 7 tiêu chí
3
mới để đánh giá chất lượng vốn nhân lực của các DN may, đó là các tiêu chí :
Đầu tư tài chính cho giáo dục, số năm đi học, số năm kinh nghiệm, thu nhập
bình quân, tốc độ tăng thu nhập, năng suất lao động (NSLD) và tỷ lệ biến
động lao động; (3) Luận án xác định rõ 6 yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
vốn nhân lực của các DN may là: đào tạo chính quy, quản trị DN, nhu cầu
vốn nhân lực của DN, nhân khẩu học, hoàn cảnh gia đình và CS của Chính
phủ; (4) Luận án đã đánh giá chất lượng vốn nhân lực của các DN may Việt
Nam theo 7 tiêu chí đề xuất ở trên và kết quả cho thấy chất lượng vốn nhân
lực của các DN may rất thấp; (5) Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 chiến lược
đầu tư vào vốn nhân lực của các DN may, nhưng muốn nâng cao chất lượng
vốn nhân lực, tối ưu nhất là các DN may lớn nên sử dụng chiến lược đầu tư
nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh các DNNVV dệt may của một số quốc
gia trên thế giới, là cơ sở quan trọng để học hỏi kinh nghiệm, cũng như có
được những tham vấn cho các DNNVV dệt may Việt Nam để nâng cao năng
lực cạnh tranh; (2) Việc phân tích tổng quan về ngành DM Việt Nam và thế
giới sẽ giúp đánh giá rõ nét hơn về thực tế ngành DM Việt Nam hiện nay
đang ở vị trí nào trong chuỗi giá trị DM toàn cầu, từ đó đi sâu phân tích, đánh
giá những yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của DNNVV dệt may Việt
Nam, chỉ ra được yếu tố nào đóng vai trò quan trọng, tác động chính đến năng
lực cạnh tranh của DNNVV dệt may Việt Nam; (3) Từ việc phân tích, đánh
giá thực trạng năng lực cạnh tranh các DNNVV dệt may Việt Nam, tác giả đã
nêu được các quan điểm, định hướng phát triển DNNVV dệt may, các quan
điểm riêng về nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV dệt may Việt Nam
giai đoạn tới và đã đề xuất một số nhóm giải pháp mang tính chất đột phá trong
giai đoạn tới, những giải pháp này mang tính chất cấp bách và cần thiết đối với
các DNNVV dệt may.
5
Để PT ngành MM của Việt Nam trong bối cảnh HN và tiến bộ KHCN,
việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN trong ngành là rất quan trọng.
Chính vì vậy, học viên sẽ tiếp tục nghiên cứu, kế thừa và PT kết quả nghiên
cứu của luận án nêu trên.
- Để đánh giá tác động của các CS vĩ mô tới ngành DM Việt nam,
NCS. Nguyễn Mạnh Hùng đã thực hiện luận án tiến sỹ với nhan đề “Tác
động của chính sách tài chính, tiền tệ đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp dệt may Việt Nam”. Trong luận án, tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu
tác động chủ yếu của một số CS tài chính-tiền tệ quan trọng (lựa chọn CS
thuế, CS lãi suất tín dụng ngân hàng, CS tỷ giá hối đoái) đến các chỉ tiêu chủ
yếu của tài chính doanh nghiệp DM Việt Nam trong thời kỳ HN kinh tế quốc
chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của các CS tài chính tiền tệ đến
tài chính của DN mình.
Dựa trên những kết luận được rút ra, tác giả đã đề xuất một số kiến
nghị với chính phủ và các bộ, ngành liên quan như sau: (1) Đối với Chính phủ
- cần đề ra lộ trình để thực hiện Chiến lược phát triển ngành công nghiệp DM
Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Về CS thuế, CS lãi
suất, CS tỷ giá hối đoái, đất đai, nhân lực: đề nghị Chính phủ chỉ đạo sự phối
hợp giữa các Bộ: Tài chính, Tài nguyên và Môi trường, Lao động-Thương
Binh-Xã hội, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) để từng bước thực hiện quyết
định trên, tạo điều kiện cho ngành DM phát triển. (2) Đối với Bộ Công
Thương- Là Bộ chủ quản về ngành DM, song song với phát triển TT trong
nước, phải tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, tìm kiếm TT mới, tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp DM ký được nhiều hợp đồng với các TT và bạn hàng, đặc
biệt là xuất khẩu theo hợp đồng FOB. Bộ cần ban hành các tiêu chuẩn kỹ
thuật về nguyên phụ liệu, tiêu chuẩn chất lượng của ngành hàng cho từng bước
phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện cho DM đạt được giá trị gia tăng cao
trong xuất khẩu, góp phần đưa ngành DM Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị
7
ngành DM khu vực và toàn cầu. (3) Đối với Hiệp hội DM Việt Nam - Đây là
một tổ chức phi Chính phủ đã tương đối lớn mạnh ở Việt Nam, là một nơi trao
đổi về nghề nghiệp. Đồng thời, Hiệp hội cũng là nơi hướng dẫn trao đổi cho các
doanh nghiệp DM thành viên về mẫu mã, chất lượng, phong cách kinh doanh,...
cho phù hợp với từng loại TT khác nhau. Hiệp hội cần tăng cường vai trò là cầu
nối giữa các doanh nghiệp DM và Nhà nước, giữa doanh nghiệp DM và các TT
xuất khẩu… Đặc biệt, trong vấn đề xác định các tác động của CS tài chính-tiền
tệ đến tài chính DN dệt may trong từng thời kỳ, nên tổ chức các buổi hội thảo
nghiên cứu khoa học về tác động của CS tài chính - tiền tệ đến tài chính doanh
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu kéo dài, ngành DM thế
giới giảm sâu 12-15%, nhưng ngành DM Việt Nam vẫn duy trì được KNXK
không những không giảm, ngược lại, còn tăng được thị phần vào cả 3 thị
trường chính. Năm 2010, DM Việt Nam đã lọt vào tốp 5 nước xuất khẩu DM
lớn nhất thế giới. Các công ty DM nói chung và các DN trong Vinatex nói
riêng đã có sự đóng góp đáng kể vào sự PT của đất nước. Trên cơ sở tìm hiểu
về các DN may thuộc Vinatex (quá trình hình thành, PT các DN may thuộc
Vinatex, vai trò của các DN may trong Vinatex và với nền kinh tế, đặc điểm
chủ yếu của các DN may thuộc Vinatex), Thực trạng cơ cấu tài chính của các
DN may thuộc Vinatex nhóm tác giả đưa ra những đánh giá chung về cơ cấu
tài chính của các DN may Vinatex trên các mặt kết quả đạt được, hạn chế và
nguyên nhân của những hạn chế này.
Từ những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, cùng với việc
tìm hiểu định hướng PT các DN May và ngành DM Việt Nam đến năm 2020
nhóm tác giả đã đưa ra 8 giải pháp, gồm: (1) điều chỉnh cơ cấu tài chính DN
theo hướng vừa phát huy tác dụng tích cực của đòn bẩy tài chính, vừa đảm
bảo an toàn tài chính cho DN; (2) tái cơ cấu tài chính cần gắn liền với việc tổ
chức lại SXKD nhằm tối đa hoá giá trị DN; (3) đẩ y ma ̣nh tić h lũy, gia tăng
năng lực tự tài trơ ̣; (4) xây dựng chiến lược tài trợ vốn phù hợp với từng DN
9
trong Vinatex để gia tăng các nguồn lực tài chính; (5) thực hiện tốt quản trị
dòng tiền góp phần tái cơ cấu tài chính và cải thiện khả năng thanh toán; (6)
tăng cường công tác quản trị hàng tồn kho và nợ phải thu, nhanh chóng đẩy
mạnh tiêu thụ hàng tồn kho và thu hồi nợ quá hạn trong các DN thuộc Vinatex;
(7) coi trọng công tác quản trị tài chính trong các DN may; (8) nâng cao trình độ
kế hoạch hoá tài chính nhằm chủ động đáp ứng nhu cầu nguồn lực tài chính của
DN góp phần xây dựng cơ cấu tài chính hợp lý.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp để phát triển ngành MM trong bối
cảnh HN và tiến bộ KHCN hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng PT ngành MM Việt Nam
giai đoạn 2010-2014, việc đề xuất CS phát triển ngành MM của Việt Nam
trong bối cảnh HN và tiến bộ KHCN là mục tiêu cuối cùng mà luận văn
hướng tới (nghiên cứu, đề xuất chính sách trên cơ sở thực tiễn).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu về thực trạng PT ngành
MM Việt Nam; nhận diện, phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và
thách thức của ngành MM trong bối cảnh HN và tiến bộ KHCN để đề xuất CS
phát triển ngành MM Việt Nam trong bối cảnh mới.
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu các số liệu ở trên qui mô quốc
gia Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng PT
ngành MM Việt Nam giai đoạn 2010-2014 (giai đoạn trước và sau đó cũng
được đề cập khi thực sự cần thiết) và đề xuất giải pháp PT ngành MM Việt
Nam trong bối cảnh mới.
11
4.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Để đánh giá đúng sự phát triển của ngành MM cần dựa trên những tiêu chí
nào và vì sao?
- Thực trạng ngành MM Việt Nam giai đoạn 2010-2014 là như thế nào?
- Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của ngành MM trong
điều kiện HN và tiến bộ KHCN là gì?
- Việt Nam cần dựa trên quan điểm nào và thực hiện những CS gì để PT
hiện nay
Nhận diện được
những điểm mạnh,
điểm yếu, cơ hội
và thách thức của
ngành MM trong
bối cảnh mới
Đề xuất chính
sách phát triển
ngành MM phù
hợp với điều
kiện và bối cảnh
mới
Trong luận văn, các phương pháp nghiên cứu chính sau sẽ được học
viên sử dụng:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp được sử dụng
trong luận văn này bao gồm các nguồn tư liệu đã được công bố chính thức của
các cơ quan quản lý nhà nước các cấp; các tài liệu, các nghiên cứu do các tổ
12
chức trong và ngoài nước công bố; các công trình khoa học có liên quan do
các học giả công bố chính thức. Dữ liệu được thu thập bao gồm: các thông tin,
số liệu thứ cấp về ngành DM nói chung và ngành MM nói riêng, các báo cáo
của các cuộc Tổng điều tra, các báo cáo chuyên đề do Tổng cục Thống kê
công bố, các báo cáo của các bộ, ngành công bố hàng năm; các báo cáo
THÁCH THỨC
THUẬN LỢI
KHÓ KHĂN
Phương pháp SWOT là phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ
hội và thách thức trong nghiên cứu này sẽ giúp làm rõ hơn thực trạng ngành
MM Việt Nam hiện nay. Qua đó cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các
CS phù hợp để thực hiện thành công mục tiêu phát triển ngành. Đây là
phương pháp sẽ được sử dụng nhiều ở phần đề xuất các định hướng CS, các
giải pháp để thực hiện Chính sách phát triển ngành MM Việt Nam trong bối
cảnh HN và tiến bộ KHCN. Thông qua việc hệ thống hóa các điểm mạnh,
điểm yếu, các cơ hội, thách thức của ngành MM Việt Nam trong bối cảnh
mới, sẽ cung cấp luận cứ vững chắc cho luận văn để đề xuất các quan điểm,
định hướng chính sách của Đảng và Chính phủ để phát huy các điểm mạnh,
giảm thiểu các điểm yếu; tận dụng các cơ hội, hạn chế các thách thức. Hình
01 mô tả cách thức sử dụng phương pháp SWOT trong phân tích, đánh giá.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn sẽ là một công trình nghiên cứu với trọng tâm hệ thống hóa
được các chủ trương của Đảng, CS pháp luật của Nhà nước về PT ngành DM
nói chung và ngành MM nói riêng từ 2010 đến 2014. Với các số liệu thống kê
của toàn ngành, sự tổng hợp và phân tích chi tiết sẽ tạo được một bức tranh
14
tổng thể của ngành MM Việt Nam, sẽ là nguồn tài liệu hữu ích cho các công
trình nghiên cứu có liên quan sau này cũng như là tư liệu cho việc giảng dạy
các ngành như kinh tế học, CS công v.v.
kiệm cụ thể”. Trong luận văn này, khái niệm “chính sách” được hiểu đúng với
khái niệm “chính sách” được định nghĩa trong Từ điển bách khoa Việt Nam.
Công nghiệp dệt (CND)2: “là ngành công nghiệp nhẹ quan trọng của
nền kinh tế quốc dân, sản xuất hàng dệt; gồm nhiều công đoạn SX: kéo sợi,
dệt, dệt kim, tẩy, nhuộm, in hoa; sử dụng nguyên liệu thiên nhiên như sợi
bông, đay, gai, lanh, lông cừu, tơ tằm và nguyên liệu hóa học như vitco,
polieste, pliamit, acrylic, polipropylen, v.v. CND sản xuất ra vải, sợi để SX
hàng MM; SX các SP dùng trong các ngành công nghiệp khác, trong nông
nghiệp, xây dựng, mỏ, y tế, giao thông vận tải, v.v.
Ở Việt Nam, Nghề kéo sợi dệt vải đã xuất hiện từ thế kỉ 5. Đến triều
Lý (thế kỷ 11), nghề dệt gấm vóc tơ lụa phát triển. Từ thế kỉ 15 trở đi, nghề
dệt thủ công Việt Nam PT và tách rời khỏi nông nghiệp. Đến thế kỉ 17, hàng
dệt tơ lụa có quy mô tương đối lớn và được bán ra nước ngoài. Từ cuối thế kỉ
19 đến giữa thế kỉ 20, xuất hiện một số nhà máy kéo sợi, dệt vải của các công
1
2
Từ điển bách khoa Việt Nam, tập I, Trung tâm Biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội 1995
Từ điển bách khoa Việt Nam, tập I, Trung tâm Biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội 1995
16
ti tư bản Pháp. Ngày nay, CND Việt Nam có nhiều nhà máy có máy dệt hiện
đại kiểu thổi khí, kiểu thoi nhỏ, kiểu kiếm cứng và kiếm mềm, máy kéo sợi
không cọc có trình độ tự động hóa cao”.
Công nghiệp may (CNM)3: “là ngành công nghiệp nhẹ chuyên SX
quần áo, các SP may công nghiệp và tiêu dùng từ các loại vải, vải dệt kim, da
lông thiên nhiên và nhân tạo, các loại nguyên liệu khác. Máy may được sáng
chế vào khoảng nửa sau thế kỉ 18, ban đầu là máy quay tay, sau đó được cơ
thức, thường là thông qua một thỏa thuận thương mại khu vực ưu đãi.
Tùy theo trình độ sâu, nông, có thể chia ra HN sâu và HN nông. HN
sâu là sự kết hợp các hệ thống CS quốc gia của hai hay nhiều nước mà theo
truyền thống các hệ thống CS đó hoàn toàn thuộc thẩm quyền của chính phủ
quốc gia. Hệ thống CS này bao gồm CS cạnh tranh, tiêu chuẩn kĩ thuật, trợ
cấp, CS tài chính – tiền tệ, các quy chế và giám sát các tổ chức tài chính, các
vấn đề môi trường, việc mua sắm của chính phủ và một số CS khác. Cộng
đồng Châu Âu (EC) là khu vực tiến xa nhất trong quá trình HN sâu; gần đây,
Cộng đồng Châu Âu đã thông qua việc thành lập một TT thống nhất và thực
hiện các biện pháp đề ra trong hiệp ước Maxtơrich. Ngoài ra, NAFTA cũng là
một ví dụ về HN sâu hiện nay. Trái lại, hình thức HN nông thể hiện trong các
hình thức HN từ khu vực thương mại tự do. Trong hình thức HN nông, mỗi
nước thành viên vẫn tự do duy trì các CS khác của nước mình; tuy vậy, HN
nông cũng có tác dụng thúc đẩy quá trình hợp tác hài hòa, cân đối chính
sách”. Trong luận văn này, khái niệm “hội nhập” được hiểu đúng với khái
niệm “hội nhập” được định nghĩa trong Từ điển bách khoa Việt Nam.
Phát triển 5: “là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi
đang diễn ra trong thế giới. PT là một thuộc tính phổ biến của vật chất. Mọi
sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái bất biến, mà
trải qua một loạt các trạng thái từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong. Phạm trù
PT thể hiện một tính chất chung của tất cả những biến đổi ấy. Điều đó có ý
nghĩa là bất kỳ một sự vật, một hiện tượng, một hệ thống nào, cũng như cả thế
giới nói chung không đơn giản chỉ có biến đổi, mà luôn luôn chuyển sang
những trạng thái mới, tức là những trạng thái trước đây chưa từng có và
5
Từ điển bách khoa Việt Nam, tập III, Trung tâm Biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội 2003
18
19
công nghệ” được hiểu đúng với khái niệm “Tiến bộ khoa học - kỹ thuật” được
định nghĩa trong Từ điển bách khoa Việt Nam.
Dựa vào các khái niệm nêu trên, luận văn thạc sỹ với nhan đề “Chính
sách phát triển ngành may mặc của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và tiến
bộ khoa học công nghệ” sẽ căn cứ vào: (1) đường lối, nhiệm vụ chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt nam từ nay đến 2020, tầm nhìn 2030; (2)
thực trạng ngành MM Việt Nam trong thời điểm hiện tại trong bối cảnh Việt
Nam HN ngày càng sâu, rộng với thế giới và tiến bộ KHCN diễn ra mạnh mẽ
để đề xuất quan điểm, mục tiêu, giải pháp để ngành MM từng bước thay đổi
về lượng tới sự biến đổi về chất – đó là sự PT ngành MM Việt Nam.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển ngành dệt may
Theo báo Khoa học (2005)7, DM là một trong những hoạt động có từ
xưa nhất của con người. Sau thời kỳ ăn lông ở lỗ, lấy da thú che thân, từ khi
biết canh tác, loài người đã bắt chước thiên nhiên, đan lát các thứ cỏ cây làm
thành nguyên liệu. Theo các nhà khảo cổ thì sợi lanh (flax) là nguyên liệu dệt
may đầu tiên của con người. Sau đó sợi len xuất hiện ở vùng Lưỡng Hà
(Mésopotamia) và sợi bông (cotton) ở ven sông Indus (Ấn Độ).
Trong thời kỳ cổ đại, nghề dệt may phụ thuộc chủ yếu vào tự nhiên và
tập quán của các dân tộc: các dân tộc sống bằng nghề chăn nuôi hay du mục
thường dùng len (Lưỡng Hà, Trung Đông và Trung Á), còn vải lanh thì lại
phổ biến ở Ai Cập và miền Trung Mỹ, vải bông được sử dụng rộng rãi tại Ân
Độ và lụa (tơ tằm) lại phổ biến ở Trung Quốc. Các dân tộc Inca, Maya,
Tolteca, v.v. tại châu Mỹ thì dùng các sợi chuối (abaca) và sợi thùa (sisal).
Theo Kinh Thi của Khổng Tử, tơ tằm được tình cờ phát hiện vào năm 2640
trước Công nguyên. Sau khi vua Phục Hy - vị hoàng đế đầu tiên của Trung