Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã nam điền, huyện nghĩa hưng, tỉnh nam định - Pdf 42

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KHOA MÔI TRƯỜNG
----------------&--------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN
LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI XÃ NAM ĐIỀN
HUYỆN NGHĨA HƯNG - TỈNH NAM ĐỊNH

Người thực hiện

: TRẦN THỊ THÚY DUYÊN

Lớp

: MTB

Khóa

: 57

Ngành

: MÔI TRƯỜNG

Người hướng dẫn

: TS. ĐINH HỒNG DUYÊN


Người hướng dẫn : TS. ĐINH HỒNG DUYÊN
Địa điểm thực tập : XÃ NAM ĐIỀN, NGHĨA HƯNG, NAM ĐỊNH

Hà Nội – 2016

2

2
2


LỜI CAM ĐOAN
Thời gian qua, tôi đã đi thực tế tại xã Nam Điền từ ngày 1/1/2016 đến
ngày 1/5/2016, nhằm tìm hiểu hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn sinh
hoạt trên địa bàn xã Nam Điền và viết khóa luận tốt nghiệp dựa vào những
thông tin đã thu thập và điều tra. Tôi xin cam đoan khóa luận là của riêng tôi
và các kết quả được nêu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực.
Hà Nội, ngày 1 tháng 4 năm 2016
Sinh viên
Duyên
Trần Thị Thúy Duyên

3

3


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi


5


DANH MỤC HÌNH

6

6


DANH MỤC VIẾT TẮT

7

Chữ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

BCL

Bãi chôn lấp

BVMT

Bảo vệ môi trường

CTR

Chất thải rắn


Ô nhiễm môi trường

QLCTR

Quản lý chất thải rắn

THCS

Trung học cơ sở

UBND

Uỷ ban nhân dân

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

VSMT

Vệ sinh môi trường

XLCTR

Xử lý chất thải rắn

7





tăng chất thải rắn sinh hoạt. Việc thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn
xã được đội thu gom tư nhân đảm nhiệm. Mặc dù hoạt động tích cực và rất nỗ
lực nhưng đội mới thành lập cơ sở vật chất còn hạn chế, thêm vào đó ý thức
của người dân chưa cao khiến việc thu gom gặp nhiều khó khăn. Mặt khác,
chất thải rắn sinh hoạt chủ yếu là thành phần hữu cơ dễ thối rữa vì vậy nếu đổ
thải bừa bãi hoặc xử lý không đúng sẽ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và
ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người và cảnh quan môi trường.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài
“Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt
tại xã Nam Điền, Huyện Nghĩa Hưng, Tỉnh Nam Định”.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Đánh giá hiện trạng phát sinh và công tác quản lý CTR sinh hoạt tại xã
Nam Điền, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
Đề xuấtcác giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTR sinh
hoạt tại xã Nam Điền, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
3. Yêu cầu nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu để xác định khối lượng, thành
phần CTRSH tại xã Nam Điền, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
Thu thập thông tin, tài liệu liên quan đến thực trạng công tác quản lý
CTR sinh hoạt trên địa bàn xã Nam Điền, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
Đề xuất các giải pháp phù hợp, mang tính thực tế nhằm nâng cao hiệu quả
công tác quản lý và xử lý CTR sinh hoạt tại xã Nam Điền, huyện Nghĩa
Hưng, tỉnh Nam Định.

9

9



10


1.1.2. Đặc điểm, nguồn gốc phát sinh, thành phần của CTR sinh hoạt
1.1.2.1. Đặc điểm của CTR sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt là loại rác thải thường không đồng nhất về thành
phần nên khó kiểm soát nguồn phát sinh chúng. Thông thường trong CTRSH
chủ yếu là chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học (thức ăn thừa, rau củ, quả, lá
cây,...) chiếm trên 50% , còn lại là các chất vô cơ (nilon, nhựa, cao su, sành
sứ, gạch đá,...) và các thành phần khác.
1.1.2.2. Nguồn gốc CTR sinh hoạt
CTRSH phát sinh chủ yếu từ các nguồn: từ các khu dân cư;từ các khu
trung tâm thương mại; từ các viện nghiên cứu, cơ quan, trường học, các công
trình công cộng; từ các dịch vụ đô thị, sân bay; từ các khu công nghiệp.
Các hoạt động kinh tế- xã hội của con người

Các quá

Các quá

Hoạt động sống

Các hoạt

Các hoạt động

trình sản

trình phi


đặc điểm nhận thấy rõ nhất ởCTR sinh hoạt Việt Nam có thành phần chất hữu
cơ với tỷ lệ cao chiếm tới 55 – 65%, còn ở một số nước đang phát triển với
mức sống cao thì tỷ lệ rác thải hữu cơ trong CTR sinh hoạt chiếm tỷ lệ thấp
chỉ từ 35 – 40% (Nguyễn Xuân Thành, 2010).
Bảng 1.1: Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt
Thủy tinh
Vỏ hộp
Nhôm
Các kim loại khác
Tro, các chất bẩn
Đất cát, gạch ngói vỡ

(Nguồn: ISWM)
1.1.3. Tính chất CTR sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt bao gồm 3 tính chất cơ bản đó là tính chất vật
lý, tính chất hóa học và tính chất sinh học. Nghiên cứu tính chất của CTRSH
là cơ sở quan trọng để đề ra biện pháp quản lý và xử lý rác thích hợp ở từng
khu vực và địa phương.
1.1.3.1. Tính chất vật lý
Bao gồm các chỉ tiêu: Trọng lượng riêng, độ ẩm, độ thấm nước, kích cỡ
hạt và phân bố.
- Khối lượng riêng của rác là khác nhau tùy theo vị trí địa lý, mùa, thời
gian lưu trữ… Khối lượng riêng của CTRSH tại đô thị lấy từ xe ép rác có giá
trị đặc trưng ở khoảng 500 lb/yd3 (297 kg/m3).
- Độ ẩm CTRSH thường được biểu diễn theo 2 cách: tính theo thành
phần phần trăm khối lượng ướt và phần trăm khối lượng khô.
Bảng 1.2: Khối lượng riêng và hàm lượng ẩm của các các chất thải có
trong chất thải rắn sinh hoạt


170
270- 810
330
540- 1685
810

Độ ẩm (% khối lượng)
Khoảng dao
Đặc trưng
động
50- 80
70
4- 10
6
4- 8
5
1- 4
2
6- 15
10
30- 80
60
1- 4
2
6- 12
8

(Nguồn: Tài liệu môi trường: Quản lý chất thải rắn sinh hoạt- TS Nguyễn Trung
Việt, TS Trần Thị Mỹ Diệu, 2007)(Ghi chú: 1 lb/yd3 = 0.593276 kg/m3)



Chất thải thực phẩm

2– 8

5,0

1500-3000

2000

Giấy

4– 8

6,0

5000-8000

7200

Bìa cứng

3– 6

5,0

6000-7500

7000


Da

8– 20

10,0

6500-8500

7500

2- 6

4,5

1000-8000

2800

Gỗ

0,6- 2

1,5

7500-8500

8000

Thủy tinh


94- 99*

98,0

100- 500

300

Bụi, tro, gạch

60- 80

70,0

1000- 5000

3000

Rác thải vườn

(Nguồn: George Tchobanoglous, et al, Mc Graw- Hill Inc, 1993)
Chú thích: + Sau khi cháy hoàn toàn
*

Dựa vào kết quả phân tích

1.1.3.3. Tính chất sinh học
Trong CTRSH có thành phần chủ yếu là chất hữu cơ, hầu hết các thành
phần này có khả năng chuyển hóa sinh học thành khí, chất rắn hữu cơ và chất


94
94
50- 90

21,9
12,9
4,1

0,22
0,47
0,72

(Nguồn: Tài liệu môi trường: Quản lý chất thải rắn sinh hoạt- TS Nguyễn Trung
Việt, TS Trần Thị Mỹ Diệu, 2007)(Ghi chú: VS: Tổng hàm lượng CHC dễ bay hơi)

1.1.4. Ảnh hưởng của CTR sinh hoạt đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
Hiện nay lượng phát sinh CTR sinh hoạt là rất lớn. Ở các địa phương,
việc quản lý và xử lý CTRSH không hợp kỹ thuật vệ sinh là những nguyên
nhân hàng đầu dẫn đến ô nhiễm môi trường, nguy hại đến sự tồn tại, phát
triển bền vững của cộng đồng dân cư.
1.1.4.1.Đối với môi trường nước
Chất thải rắn sinh hoạt thường chứa thành phần hữu cơ dễ phân hủy là
chủ yếu bởi thế trong môi trường nước sẽ bị phân hủy nhanh chóng tạo mùi
hôi thối, nước chuyển màu đen, gây nên hiện tượng phú dưỡng, giảm DO
nhanh chóng cản trở sự sống của các loài thủy vật. Nước này chứa các vi
trùng gây bệnh, các kim loại nặng, các chất hữu cơ, các muối vô cơ hòa tan
vượt quá tiêu chuẩn môi trường nhiều lần.
Tại các bãi rác nếu không xử lý đúng quy tắc hợp vệ sinh nước có
trong rác sẽ tách ra kết hợp với các nguồn nước khác: nước mưa, nước

Số coliform

trong mẫu đất

trong mẫu đất

(trứng/100g)
Giá trị Giá trị

(khuẩn lạc/10g)
Giá
Giá trị

thấp

cao

trị

nhất

nhất

thấp

15

nhất
40


16


gây ONMT không khí. Đối với các bãi chôn lấp, ước tính khoảng 30% các
khí phát sinh trong quá trình phân hủy rác có thể thoát lên mặt đất mà không
cần có sự tương tác nào.Phần còn lại đa phần dễ phân hủy trong điều kiện
nhiệt độ và độ ẩm thích hợp gây ra các khí ô nhiễm có tác động xấu đến môi
trường không khí, sức khỏe và khả năng hoạt động của con người. Khi vận
chuyển và lưu trữ CTRSH sẽ phát sinh mùi do quá trình phân hủy các chất
hữu cơ gây ô nhiễm môi trường không khí.
Thành phần khí thải chủ yếu được tìm thấy tại các bãi chôn lấp rác là
CH4, CO2, N2, O2, NH3, SOx, CO, H2,...trong đó CH4 và CO2là chủ yếu.
Bảng 1.6: Thành phần một số chất khí cơ bản trong khí thải bãi rác

(Nguồn: Handbook of Soil Waste Management, 1993)
Khối lượng khí phát sinh từ các bãi rác chịu ảnh hưởng đáng kể của
nhiệt độ không khí thay đổi theo mùa. Lượng khí phát thải tăng khi nhiệt độ
tăng, lượng khí phát thải mùa hè cao hơn mùa đông.

17

17


Bên cạnh hoạt động chôn lấp, việc xử lý CTR bằng biện pháp thiêu hủy
cũng góp phần đáng kể gây ô nhiễm môi trường không khí. Việc đốt rác sẽ
làm phát sinh khói, tro bụi và các mùi khó chịu. Ngoài ra các tác động tiềm
tàng có thể xảy ra như: gây thiệt hại mùa màng do các chất khí độc hại (NH 3,
CO2, axit hữu cơ…), gây độc cho thực vật, gây hiệu ứng nhà kính.
1.1.4.4. Đối với sức khỏe cộng đồng

dần được hoàn thiện hơn. Chính Phủ đã có nhiều Nghị định, Quyết định và Chỉ
thị liên quan đến quản lý CTR sinh hoạt nhằm nâng cao hiệu quả quản lý:
-

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
- Nghị định số38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015của chính phủ
ban hành quy định về hoạt động quản lý chất thải và phế liệu.
- Quyết định số 2149/2009/QĐ-TTgngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ
tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải
rắn đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2050.
- Nghị định số 179/2013/NĐ – CP của Chính phủ ngày 14/11/2013 quy
định về xử phạt quy phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Thông tư liên Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường và Bộ Xây dựng
số 01/2001/TTLT-BKHCNMT-BXD ngày 18 tháng 1 năm 2001 hướng dẫn
các quy định về bảo vệ môi trường đối với việc chọn lựa địa điểm, xây dựng
và vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn.
- TCXDVN 261-2001: Bãi chôn lấp chất thải rắn. Tiêu chuẩn thiết kế
- TCVN 6696-2000: Chất thải rắn – Bãi chôn lấp hợp vệ sinh – các yêu
cầu về môi trường.
- Quyết định số 798/2011/QĐ- TTg ngày 25 tháng 5 năm 2011 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt chương trình đầu tư xử lý chất thải rắn giai đoạn
2011- 2020.
- Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn.
1.3. Hiện trạng phát sinh và quản lý CTR sinh hoạt ở thế
giới và Việt Nam
1.3.1. Hiện trạng phát sinh và quản lý CTR sinh hoạt trên thế giới
Trong vài thập kỷ trở lại đây, do sự phát triển khoa học kỹ thuật dẫn
đến sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế kéo theo đó là hiện tượng bùng nổ dân
19


phạt tiền, phạt tù, bắt bồi thường.Những vi phạm nhỏ thì được phạt cải tạo lao
20

20


động bắt buộc (Viện Nghiên cứu Phát triển TP Hồ Chí Minh, 2010).
Singapore hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu đều phải nhập từ
bên ngoài, trong đó có cả lương thực, rau, hoa quả. Chính bởi vậy chính phủ
Singapore đang yêu cầu tăng tỷ lệ tái chế thông qua phân loại rác tại nguồn từ
các hộ gia đình, các chợ, các cơ sở kinh doanh để giảm chi ngân sách cho Nhà
nước.CTR sinh hoạt được đưa về một khu vực bãi chứa lớn và được tái chế,
xử lý theo chương trình tái chế Quốc gia. Đây chính là lý do mà Singapore
được mệnh danh là “Thành phố cây xanh”, “Thành phố sạch nhất thế giới”.
Tại Đức: Có thể nói, ngành tái chế rác ở Đức đang dẫn đầu trên thế
giới hiện nay. Người Đức đã sớm trở thành vô địch thế giới về đốt CTR mà
không thải khí độc ra ngoài môi trường.Theo số liệu của ngành xử lý phế thải
Đức thì mỗi năm nước Đức tiết kiệm được gần 4 tỉ Euro chi phí nguyên liệu
và năng lượng nhờ tái chế và sử dụng vật liệu thứ cấp. Không chỉ thế ý thức
BVMT của người dân Đứcrất cao.Giáo dục ý thức BVMT cho trẻ nhỏ bắt đầu
từ việc phân loại rác là một trong những phương pháp mà nhà quản lý tại Đức
áp dụng. Từ năm 1986 ở Đức đã có Bộ Môi trường, Bảo vệ thiên nhiên và An
toàn phóng xạ. Tất cả các Đảng phái đều đưa vấn đề bảo vệ môi trường vào
chương trình hành động của mình. Hiện nay hơn 4 triệu người Đức là thành
viên của các tổ chức bảo vệ môi trường (Thụy Miên, vietbao.net).
Tại Nhật Bản: Nhật Bản là một trong những nước thuộc hàng "xanh sạch - đẹp" nhất thế giới. “Bảo vệ, giữ gìn môi trường xanh” đã trở thành
mệnh lệnh từ trái tim, khối óc mỗi người dân Nhật Bản. Ở Nhật Bản, trong 37
Đạo luật về BVMT có 7 Đạo luật về quản lý và tái chế CTR. Việc phân loại
rác tại nguồn đã được triển khai từ những năm 1970. Các hộ gia đình được
yêu cầu phân loại rác thành 3 dòng:

cung cấp cho phát điện. Sau khi rác tại hố chôn phân huỷ hết, tiến hành khai
thác mùn ở bãi chôn làm phân bón (Trương Hoàng, 2013).
Tại các nước đang phát triển thì công tác thu gom CTR còn nhiều vấn
đề bất cập. Việc bố trí mạng lưới thu gom, vận chuyển rác thải chưa hợp lý,
trang thiết bị còn thiếu và thô sơ dẫn đến chi phí thu gom tăng mà hiệu quả xử
lý lại thấp. So với các nước phát triển thì tỷ lệ thu gom CTR ở các nước đang
22

22


phát triển như Việt Nam và khu vực Nam Mỹ còn thấp hơn nhiều.
1.3.2. Hiện trạng phát sinh và quản lý CTR sinh hoạt tại Việt Nam
Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2011, khối lượng chất thải rắn
sinh hoạt phát sinh tại các đô thị trên toàn quốc tăng trung bình 10-16% mỗi
năm, chiếm khoảng 60-70% tổng lượng chất thải rắn đô thị. Tại một số đô thị
lớn tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt phát sinh chiếm đến 90% tổng lượng chất thải
rắn đô thị. Chỉ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình quân trên đầu người ở
mức độ cao từ 0,9- 1,38 kg/người/ngày ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ
Chí Minh và một số đô thị phát triển về du lịch như: thành phố Hạ Long,
thành phố Đà Lạt, thành phố Hội An,…Còn theo báo cáo môi trường quốc gia
2014, chỉ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình quân trên đầu người tại
vùng nông thôn khoảng 0,3 kg/người/ngày. Với chỉ số phát sinh CTRSH trên
thì lượng rác thải sinh hoạt phát sinh năm 2013 khoảng 18.200 tấn/ngày,
tương đương với 6,6 triệu tấn/năm.
Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên toàn quốc năm 2014
khoảng 23 triệu tấn tương đương với khoảng 63.000 tấn/ngày. Dự kiến đến
năm 2020 lượng rác là 20 triệu tấn/ngày (Minh Cường, moitruong.com.vn).
Phần lớn lượng rác phát sinh chủ yếu tại các thành phố lớn.
- Tại thành phố Hà Nội, khối lượng CTR sinh hoạt tăng trung bình 15%

chuyển CTRSH phần lớn là do các hợp tác xã, tổ đội thu gom đảm nhiệm với
chi phí thu gom thỏa thuận với người dân đồng thời có sự chỉ đạo của chính
quyền địa phương. Hiện có khoảng 40% số thôn, xã hình thành các tổ, đội thu
gom chất thải rắn sinh hoạt tự quản, công cụ phục vụ cho công tác thu gom,
vận chuyển hầu hết do tổ đội tự trang bị. Tuy nhiên, trên thực tế tại khu vực
nông thôn không thuận tiện về giao thông, dân cư không tập trung còn tồn tại
hiện tượng người dân vứt bừa bãi chất thải ra sông suối hoặc đổ thải tại khu
vực đất trống mà không có sự quản lý của chính quyền địa phương.
Nhìn chung, chất thải rắn sinh hoạt được xử lý chủ yếu bằng hình thức
chôn lấp, sản xuất phân hữu cơ và đốt. Theo thống kê tính đến năm 2013 có
khoảng 458 bãi chôn lấp CTR có quy mô trên 1ha, ngoài ra còn có các bãi
chôn lấp quy mô nhỏ ở các xã chưa được thống kê đầy đủ. Trong số 458 bãi
chôn lấp có 121 bãi chôn lấp hợp vệ sinh và 337 bãi chôn lấp không hợp vệ
24

24


sinh. Các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh phần lớn là bãi rác tạm, lộ thiên,
không có hệ thống thu gom, xử lý nước rỉ rác, đang là nguồn gây ô nhiễm môi
trường. Tại Việt Nam hiện nay đang có xu hướng đầu tư đại trà lò đốt CTRSH
ở tuyến huyện, xã. Do vậy, đang tồn tại tình trạng mỗi huyện, xã tự đầu tư lò
đốt công suất nhỏ để xử lý CTRSH phát sinh trên địa bàn. Theo báo cáo của
các địa phương, trên cả nước có khoảng 50 lò đốt CTRSH, đa số là các lò đốt
cỡ nhỏ, công suất xử lý dưới 500kg/giờ, các thông số chi tiết về tính năng kỹ
thuật khác của lò đốt chất thải chưa được thống kê đầy đủ. Trong đó có
khoảng 2/3 lò đốt được sản xuất, lắp ráp trong nước. Tuy nhiên, nhiều lò đốt
hiệu quả xử lý chưa cao, khí thải phát sinh chưa được kiểm soát chặt chẽ, có
nguy cơ phát sinh khí Dioxin, Furan, là nguồn gây ô nhiễm môi trường không
khí xung quanh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status