Phát triển lực lượng sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở bắc giang hiện nay (Tóm tắt, trích đoạn) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN CHIẾN

PHÁT TRIỂN LỰC LƢỢNG SẢN XUẤT
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN CHIẾN

PHÁT TRIỂN LỰC LƢỢNG SẢN XUẤT
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60.22.03.01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Dƣơng Văn Thịnh

Hà Nội - 2016



MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................5
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................................5
2. Tình hình nghiên cứu ..............................................................................................6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn .....................................................9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn .....................................................9
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu............................................................10
6. Đóng góp chính của luận văn ................................................................................10
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn .............................................................11
8. Kết cấu của luận văn .............................................................................................11
PHẦN NỘI DUNG ..................................................................................................12
CHƢƠNG I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN LỰC LƢỢNG
SẢN XUẤT TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở TỈNH BẮC GIANG. ...................................12
1.1. Lực lƣợng sản xuất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất ...................12
1.1.1. Khái niệm lực lượng sản xuất .........................................................................12
1.1.2. Trình độ phát triển lực lượng sản xuất và những biểu hiện của nó ........................18
1.2. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Giang và sự
phát triển lực lƣợng sản xuất trong quá trình đó ................................................25
1.2.1. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Giang ...25
1.2.2. Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Giang ..........................................35
CHƢƠNG II: PHÁT TRIỂN LỰC LƢỢNG SẢN XUẤT TRONG QUÁ
TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG
THÔN Ở TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY – THỰC TRẠNG, NHỮNG VẤN
ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP ................................................................................39
2.1. Thực trạng phát triển lực lƣợng sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Giang ......................................39
2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội .........................................39

2.3.6. Phát triển khoa học công nghệ, ứng dụng kỹ thuật mới vào quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của tỉnh ......................................87
PHẦN KẾT LUẬN ..................................................................................................91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................93

2


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNXH: Chủ nghĩa xã hội.
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
HĐND: Hội đồng nhân dân
NIC: New Industrilize Countries (các nước công nghiệp mới)
KH - CN: Khoa học công nghệ
THCS: Trung học cơ sở.
THPT: Trung học phổ thông.
UBND: Ủy ban nhân dân.
XHCN: Xã hội chủ nghĩa.

3


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Dân số bình quân của Bắc Giang phân theo thành thị và nông thôn (người).....45
Bảng 2.2: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo thành thị và nông thôn .46
Bảng 2.3: Số cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế. ...............................................48
Bảng 2.4: Số học sinh tham gia dự thi và đỗ tốt nghiệp THPT năm 2014. ..............51
Bảng 2.5: Tỉ lệ lao đong từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hằng năm
đã qua đào tạo, phân theo thành thị và nông thôn (đơn vị %) ..................................54
Bảng 2.6: Hiện trạng sử dụng đất năm 2015 .............................................................56

được những thành tựu đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực Công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, là một tỉnh có nhiều điều kiên tự nhiên,
kinh tế, xã hội để phát triển một nền nông - lâm - ngư nghiệp hiện đại. Bắc
Giang qua mấy chục năm tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và
đạt được một số thành tựu đáng kể, tuy nhiên vẫn chưa thoát ra được tình
5


trạng của một tỉnh thuần nông. Những vấn đề thực tế của quá trình CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Giang những năm qua đòi hỏi phải được
tiếp tục nghiên cứu làm rõ, đặc biệt là việc phát triển lực lượng sản xuất quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Bắc
Giang trong giai đoạn hiện nay.
Ngành kinh tế chủ đạo của Bắc Giang vẫn là nông nghiệp, với khoảng
90% lực lượng lao đông phân bố ở nông thôn với trình độ còn thấp. Chính
điều này đã kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Để phát triển kinh
tế, phát triển lực lượng sản xuất tỉnh Bắc Giang phải đẩy nhanh quá trình
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn để phát huy hết thế mạnh về nông nghiệp
và phát huy được hết sức lao động ở khu vực nông thôn.
Để góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề ra cơ
chế, chính sách và những giải pháp để phát triền lực lượng sản xuất trong quá
trình đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Giang giai
đoạn hiện nay, tác giả chọn đề tài : “Phát triển lực lượng sản xuất trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Giang
hiện nay” làm nội dung nghiên cứu của luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu
Trình độ của lực lượng sản xuất của Việt Nam nói chung và trong lĩnh
vực nông nghiệp nói riêng vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực và trên
thế giới. Nhiều lý do để giải thích cho thực trạng này, trong đó hơn 75% dân
cư nông thôn và sống bằng nghề nông nghiệp chưa được quan tâm phát triển

nhân tố tác động, mục tiêu nội dung các bước đi của con đường CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn nước ta. Cuối cùng cuốn sách trình bày hệ thống các
giải pháp chủ yếu thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn.
4. Cuốn sách “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn trong thời kì mới” của TS. Lê Quang Phi. Trong cuốn sách tác giả
trình bày yêu cầu khách quan của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn; trình bày những chiến lược phát triển trong sự lãnh đạo của Đảng đối
với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; cuốn sách trình bày hệ
thống các chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đẩy mạnh CNH, HĐH nông
7


nghiệp, nông thôn trong giai đoạn 1996 – 2006; đồng thời tác giả cũng đưa ra
một số kinh nghiệm Đảng lãnh đạo sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn ở nước ta.
5. Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Văn Bảy - Học viện chính trị
quân sự “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở khu vực
đồng bằng Bắc Bộ”. Luận án có nghiên cứu CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn đồng bằng Bắc Bộ trong sự tác động đến việc tăng cường sức mạnh
phòng thủ khu vực; cuốn sách cũng trình bày một số giải pháp nhằm thúc đẩy
CNH, HĐH nông thôn, tăng cường khu vực phòng thủ.
6. Luận án thạc sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học bảo vệ năm
2013 tại trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn với nhan đề “ Vai trò
của nông dân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn Bắc Giang”. Luận văn trình bày khái lược về vai trò của nông dân
và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Giang, trình bày thực trạng và
giải pháp phát huy vai trò của nông dân trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Giang.
7. Luận án Tiến sĩ của tác giả Phạm Lan Hương, Trường Đại học kinh
tế Quốc dân với nhan đề “Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất vùng Đồng bằng

xuất theo yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở
tỉnh Bắc Giang.
- Phân tích, đánh giá thực trạng sự phát triển của lực lượng sản xuất
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh
Bắc Giang và những vấn đề đặt ra.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển lực lượng sản xuất góp phần
đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở
tỉnh Bắc Giang hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự phát triển của lực lượng sản
xuất trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở
tỉnh Bắc Giang hiện nay.
9


* Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu sự phát triển lực lượng sản xuất trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Giang hiện nay.
Trong những nhân tố của lực lượng sản xuất cũng chỉ chú trọng một số nhân
tố cơ bản như: nhân lực và tư liệu sản xuất chủ yếu (ruộng đất, hạ tầng kỹ
thuật nông thôn, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp ...)
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở:
- Những quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về phát triển lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất về vấn đề nông dân,
nông nghiệp, nông thôn.
- Quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát
triển lực lượng sản xuất và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
LỰC LƢỢNG SẢN XUẤT TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở TỈNH BẮC
GIANG.
1.1. Lực lƣợng sản xuất và trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất
1.1.1. Khái niệm lực lượng sản xuất
Xuất phát từ đời sống hiện thực của con người, C. Mác đã đi đến xác
định tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại, phát triển của con người: “đó là người
ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử, nhưng muốn sống
được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài
thứ khác nữa. Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra bản thân
đời sống vật chất”[48, tr.40]. Chính quan điểm vật chất quyết định ý thức hay
tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội cho thấy việc sản xuất của cải vật chất
quyết định mọi động cơ tư tưởng của hành động lịch sử.
Như vậy, mỗi người hay nhóm người và suy rộng ra là cả xã hội đều
phải có đồ ăn, thức uống, nhà ở, quần áo…, là những thứ tối thiểu có thể sống
được mà không có chúng thì không thể nói tới những chuyện khác như làm
chính trị, triết học, văn chương, tôn giáo… Đúng như Ph. Ăngghen nhận định:
“Cái sự thật hiển nhiên… là trước hết con người cần phải ăn, uống, ở và mặc,
nghĩa là phải lao động trước khi có thể đấu tranh để giành quyền thống trị,
trước khi có thể hoạt động chính trị, tôn giáo, triết học…”[50, tr.64].
Để tồn tại và phát triển con người không chỉ sản xuất ra của cải vật chất
mà còn sản xuất ra của cải tinh thần, ra bản thân con người và các quan hệ xã
hội. Các lĩnh vực sản xuất đó tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn
nhau, trong đó sản xuất của cải vật chất là cơ bản và quyết định nhất. Trong
quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất, con người hình thành lên “mối
quan hệ song trùng”, đó là quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ
12

13


Nhờ vậy, lực lượng sản xuất có thể hiểu là sự thống nhát hữu cơ của
lực lượng được con người sử dụng trong quá trình sản xuất nó bao gồm
người lao động với một thể lực, trí tuệ, kĩ năng, kinh nghiệm lao động… và tư
liệu sản xuất mà trước hết là năng lực lao động
Từ cách hiểu trên chúng ta có thể hiểu lực lượng sản xuất bao gồm yếu
tố người và yếu tố vật, hay còn gọi là người lao động và tư liệu sản xuất.
- Người lao động
Người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, “lực lượng
sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân là người lao động” [46,
tr.430]. Để có thể tác động cải biến giới tự nhiên theo C. Mác, trước hết con
người cần phải có những yếu tố tạo nên khả năng lao động thuộc về thể chất
và trí tuệ: “để chiếm hữu được thực thể của tự nhiên dưới một hình thái có ích
cho đời sống của bản thân mình, con người vận dụng những sức mạnh tự
nhiên thuộc về thân thể của họ: tay và chân, đầu và hai bàn tay”[52, tr.266].
Ngoài sức mạnh về thể chất và trí tuệ thì người lao động cũng cần phải có
kinh nghiệm, kĩ năng và kĩ xảo lao động.
Người lao động là nhân tố giữ vai tò quyết định trong lực lượng sản
xuất. Xét đến cùng thì hầu hết các tư liệu sản xuất chủ yếu (trừ những đối
tượng lao động sẵn có trong tự nhiên) chỉ là sản phẩm lao động của con người
do con người tạo ra và không ngừng đổi mới, cải tiến. Không có người lao
động thì không có quá trình sản xuất.
Trong quá trình lao động thể lực và kĩ năng lao động không ngừng tăng
lên, đặc biệt là trí tuệ con người không ngừng phát triển, người lao động càng
ngày càng tiếp cận và tạo ra được những tư liệu sản xuất mới. Chính vì vậy tư
liệu sản xuất, đặc biệt là công cụ lao động chỉ là sự phản ánh trình độ của
người lao động.
- Tư liệu lao động

yếu tố nào của tự nhiên cũng là đối tượng lao động. Chỉ những yếu tố nào của
tự nhiên mà lao động của con người hướng tới mới là đối tượng lao động.

15


Đối tượng lao động rất phong phú và đa dạng. Trong quá trình sản xuất,
có những vật phẩm trong tự nhiên con người chỉ việc khai thác mang về là có
thể đáp ứng được nhu cầu nào đó của mình, cũng có những vật phẩm lại phải
trải qua nhiều lần cải tạo, qua nhiều khâu trung gian mới trở thành sản phẩm
đáp ứng nhu cầu của con người. Khi nền sản xuất xã hội càng phát triển, khoa
học - công nghệ càng cao, thì loại đối tượng phải cải tạo nhiều lần càng được
mở rộng.
Như vậy, đối tượng lao động gồm hai loại là đối tượng lao động có sẵn
trong tự nhiên như là đất đai, nguồn nước, khoáng sản… Loại này thường là
đối tượng của các ngành công nghiệp khai thác. Ngoài những đối tượng lao
động có sẵn trong tự nhiên, còn có những loại do con người tạo ra như sợi để
dệt vải, sắt thép để chế tạo máy… gọi là nguyên liệu. Loại này thường là đối
tượng của các ngành công nghiệp chế biến.
Trong quá trình sản xuất của cải vật chất, để cải biến được đối tượng
lao động, con người phải sử dụng tư liệu lao động. Tư liệu lao động là vật hay
hệ thống những vật mà con người đặt ở giữa họ và đối tượng lao động, làm
nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động, biến
đối tượng lao động thành sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của con người. Theo
nghĩa đó, thì tư liệu lao động được chia làm hai loại: Thứ nhất, những công cụ
lao động, Thứ hai, những điều kiện vật chất cần thiết của quá trình lao động,
sản xuất.
Công cụ lao động là những vật thể hay phức hợp vật thể do con người
và xã hội tạo ra, để đặt giữa con người và đối tượng lao động. Chúng có vai
trò truyền dẫn sức lực và trí tuệ của con người đến đối tượng lao động, cải

của tư liệu lao động là những điều kiện vật chất cần thiết trong quá trình lao
động sản xuất là phù hợp.
Những điều kiện vật chất cần thiết của quá trình lao động sản xuất được
hiểu là hệ thống những công trình, những phương tiện phục vụ sản xuất như
nhà kho, nhà xưởng, bến bãi, công trình và phương tiện giao thông vận tải, hệ
17


thống thông tin liên lạc, hệ thống điện nước, thủy lợi… Những yếu tố này
không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất nhưng nếu thiếu chúng thì quá
trình sản xuất không diễn ra hoặc diễn ra một cách không hoàn hảo, kém hiệu
quả. Trước đây, tồn tại quan niệm phổ biến cho rằng những điều kiện vật chất
cần thiết chỉ là yếu tố dịch chuyển giá trị bên ngoài không được coi trọng thì
nay nhận thức lại và thấy rằng nó có ảnh hưởng lớn đến giá trị sản phẩm đến
sản xuất, nó là yếu tố nội sinh của quá trình sản xuất góp phần tạo ra giá trị
mới. Sản xuất càng phát triển thì yêu cầu những điều kiện vật chất cần thiết
của quá trình sản xuất cũng phải phát triển theo.
Trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất khoa học đóng vai trò
ngày càng quan trọng. Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là
động lực mạnh mẽ đã thúc đẩy sản xuất phát triển. Tri thức khoa học đã thâm
nhập vào hầu hết các yếu tố của lực lượng sản xuất. Trí tuệ và tri thức của con
người liên tục phát triển. Những phát minh khoa học đã trở thành điểm xuất
phát ra đời những ngành sản xuất mới, máy móc, thiết bị, công cụ lao động,
ngày càng tinh xảo và hiện đại… Về đối tượng lao động, thì khoa học đã tạo
ra được nhiều đối tượng lao động nhân tạo, những vật liệu mới, năng lượng
mới… Điều này chứng minh dự đoán khoa học sẽ trở thành “lực lượng sản
xuất trực tiếp” của C. Mác đang là hiện thực.
Khoa học là kết quả nghiên cứu của hoạt động thực tiễn, nhưng đến
lượt nó lại có tác động mạnh mẽ tới hoạt động sản xuất. Khoa học trong thời
đại ngày nay đã rút ngắn khoảng cách đến tối thiểu từ sáng chế, phát minh,

Bởi vì các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, thiết bị máy móc… thực
chất chỉ là những nguồn lực phụ thuộc vào con người. Chúng chỉ được phát
hiện, cải tạo, biến đổi và phát huy tác dụng khi có sự kết hợp với nhân tố con
người. Thiếu nhân tố con người thì các yếu tố khác đều không thể trở thành
lực lượng sản xuất. Điều này có nghĩa là lực lượng sản xuất do con người tạo
ra, là sản phẩm hoạt động của con người.

19


C. Mác chỉ rõ: “Lực lượng sản xuất là kết quả của nghị lực thực tiễn
của con người”[53, tr.675]. Như vậy, lực lượng sản xuất biểu hiện trình độ,
năng lực của con người trong mỗi thời kỳ lịch sử. Xét trong toàn bộ lịch sử thì
trình độ, năng lực, kĩ năng của người lao động ở xã hội sau bao giờ cũng cao
hơn so với xã hội trước đó, như Ph. Ăngghen khẳng định: “Người vô sản
thuộc về một xã hội có trình độ phát triển cao hơn và bản thân họ cũng ở trình
độ cao hơn người nô lệ” [49, tr.460]. Do đó nếu trình độ của người lao động ở
một chế độ xã hội kém thì chứng tỏ trình độ của lực lượng sản xuất ở chế độ
đó cũng thấp kém. Như vậy, trình độ, năng lực, kinh nghiệm của người lao
động là căn cứ để nhận thức trình độ phát triển lực lương sản xuất.
- Biểu hiện qua trình độ của tư liệu sản xuất
Trình độ của lực lượng sản xuất biểu hiện qua các yếu tố mà lao động
của con người tác động vào để biến đổi thành những sản phẩm phục vụ con
người. Đó là đối tượng lao động. Khi trình độ của lực lượng sản xuất thấp
kém thì những đối tượng lao động có sẵn trong tự nhiên là đối tượng chính
của con người. Những đối tượng này chỉ cần con người “bứt” ra khỏi giới tự
nhiên hoặc trải qua số ít lần tác động là có thể sử dụng ngay được. Lực lượng
sản xuất phát triển đến một trình độ cao thì sự phụ thuộc của con người vào tự
nhiên sẽ ít đi, nhiều đối tượng lao động nhân tạo sẽ được sử dụng chủ yếu
đem lại hiệu quả kinh tế cao. Chính vì vậy, những đối tượng nhân tạo được tái chế

1.1.2.2. Trình độ của lực lượng sản xuất biểu hiện qua tính chất của nó
Gắn liền với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là tính chất của
nó. Tính chất của lực lượng sản xuất là một trong những biểu hiện về trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” khi xem
xét sự mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đã phát triển với quan hệ sản xuất
cũ, lỗi thời, lạc hậu, Ph. Ăngghen chỉ rõ khi lực lượng sản xuất ở trình độ thủ
công thì nó mang tính cá nhân, còn khi đạt đến tình độ cơ khí hóa thì nó mang
tính xã hội.
Theo Ph. Ăngghen ở xã hội tiền tư bản nền sản xuất manh mún, mang
tính tự cung, tự cấp thì lực lượng sản xuất mang tính chất cá nhân. Ph.
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status