Hiện trạng quản lý, thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn y tế tại BVĐK thị xã hồng lĩnh, tĩnh hà tĩnh - Pdf 42

MỤC LỤC

1


DANH MỤC CÁC BẢNG

2


DANH MỤC CÁC HÌNH

3


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTNMT: Bộ Tài nguyên môi trường
BVĐK : Bệnh viện đa khoa
CTR: Chất thải rắn
CTRNH: Chất thải rắn nguy hại
CTRSH: Chất thải rắn sinh hoạt
CTRYT: Chất thải rắn y tế
CTRYTNH: Chất thải rắn y tế nguy hại
KSNK: Kiểm soát nhiễm khuẩn
NĐ-CP : Nghị đinh- Chính phủ
QCVN: Quy chuẩn Việt Nam
QĐ – BYT: Quy định – Bộ Y tế
TT-BYT : Thông tư – Bộ Y tế
TN-MT: Tài Nguyên – Môi trường
UBND: Ủy ban nhân dân
XLCT: Xử lý chất thải

để vận hành hệ thống xử lý chất thải cũng chưa được đưa vào định mức cấp
cho đầu giường bệnh, bệnh viện phải tự cân đối các khoản chi trong kinh phí
khám chữa bệnh để xử lý chất thải. Vì thế, việc xử CTRYT không đạt chuẩn
và không ổn định. Các cơ sở y tế chưa thực hiện đầy đủ các quy định của nhà
5


nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động quản lý chất thải y tế. Để có góc
nhìn về hiện trạng quản lý, thu gom, xử lý, phân loại CTRYT trên địa bàn tỉnh
Hà Tĩnh, một số thị trấn, thị xã trân địa bàn. Cụ thể ở đây tại thị xã Hồng
Lĩnh, tĩnh Hà Tĩnh, từ đó đưa ra các giải pháp quản lý CTRYT phù hợp, tôi
xin thực hiện đề tài “Hiện trạng quản lý, thu gom, phân loại và xử lý chất thải
rắn y tế tại BVĐK thị xã Hồng Lĩnh, tĩnh Hà Tĩnh”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu hiện trạng quản lý, phân loại, thu gom và xử lý chất thải
rắn y tế (CTRYT) tại BVĐK thị xã Hồng Lĩnh nhằm giảm thiểu các yếu tố
nguy hại đến sức khỏe con người và môi trường của CTRYT phát sinh từ
bệnh viện để bảo vệ sức khỏe của nhân viên y tế (NVYT), người bệnh và
cộng đồng xung quanh.
- Đánh giá hiện trạng quản lý, phân loại, thu gom và xử lý CTR y tế tại
BVĐK thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đề xuất và giải pháp nhằm tăng hiệu quả quản lý, thu gom, phân loại
và xử lý CTR y tế, nhằm bảo vệ và phát triển môi trường theo hướng bền
vững.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Các số liệu thống kê và đánh giá chính xác, khách quan của đề tài về
thưc trạng quản lý CTR y tế tại BVĐK thị xã Hồng Lĩnh sẽ là nguồn tài liệu
cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về chất thải rắn y tế cũng như môi trường
bệnh viện trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
4. Bố cục của đề tài


Nhóm A: chất thải nhiễm khuẩn, chứa mầm bệnh với số lượng, mật độ
đủ gây bệnh, bị nhiễm khuẩn bởi vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm…
bao gồm các vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, chất bài tiết của người
bệnh như gạc, bông, găng tay, bột bó gãy xương, dây truyền máu…

-

Nhóm B: là các vật sắc nhọn: bơm tiêm, lưỡi, cán dao mổ, mảnh thủy
tinh vỡ và mọi vật liệu có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, dù
chúng có được sử dụng hay không sử dụng.

-

Nhóm C: chất thải nguy cơ lây nhiễm phát sinh từ phòng xét nghiệm:
găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi xét nghiệm, túi
đựng máu…

-

Nhóm D: chất thải dược phẩm, dược phẩm quá hạn, bị nhiễm khuẩn,
dược phẩm bị đổ, không còn nhu cầu sử dụng và thuốc gây độc tế bào.
7


-

Nhóm E: là các mô cơ quan người – động vật, cơ quan người bệnh,
động vật, mô cơ thể (nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn), chân tay,
nhau thai, bào thai… ( Nguồn: Quy định Quản lý chất thải rắn – bộ y

giải phẫu bệnh, lọc máu, ướp xác…

8


- Các chất quang hoá học: Các dung dịch dùng để cố định phim trong
khoa Xquang, hydroquinon, kali hydroxid, bạc, glutaraldehyd.
- Các dung môi: Các dung môi dùng trong cơ sở y tế gồm các hợp chất
của halogen như metyl clorit, chloroform, các thuốc mê bốc hơi; Các hợp chất
không chứa halogen như xylene, axeton, etyl axetat…
- Các thuốc mê bốc hơi: halothan (fluothan), isoflurane ,…
- Các hợp chất không có halogen: xylene, acetone, isopropanol, tuluen, ,
acetonitrile, benzene…
- Các chất hóa học hỗn hợp : phenol, dầu mỡ, các dung môi làm vệ sinh,
cồn ethanol, methanol, acide…
1.1.2.4. Các bình chứa khí nén có áp suất
Nhóm này bao gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng
oxy, CO2, bình gas, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần… Đa
số các bình chứa khí nén này thường dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu
không được tiêu hủy đúng cách.
1.1.2.5. Chất thải thông thường
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm,
hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly).
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như chai lọ thủy
tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín.
Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy
hại.

9

Chất thải chứa các vi trùng gây bệnh

Phế thải từ phẩu thuật, các cơ quan
nội tạng của con người sau khi mổ xẻ,
động vật sau quá trình xét nghiệm,
các gạch bông lẫn máu mũ bệnh nhân.

Chất thải bị nhiễm bẩn

Chất thải sau khi bệnh nhân sử dụng,
chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà.

Chất thải đặc biệt

Các loại chất thải độc hại hơn các loại
trên, các chất phóng xạ, hóa chất
dược… từ các khoa khám, chữa bệnh,
các hoạt động thực nghiệm, khoa
dược.
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, 2011)

Có thể thấy, CTRYT tại bệnh viện phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau
như từ hoạt động sinh hoạt của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, cán bộ công
nhân viên trong bệnh viện, các hoạt động khám chữa bệnh. Tùy nguồn phát
sinh mà CTRYT mang những đặc trưng và tính chất riêng.
1.1.3.2. Thành phần CTRYT
Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc
thù so với các loại CTR khác. Các loại chất thải này nếu không được phân
loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra
những nguy hại đáng kể.

thị
loại
II

Lượng
CTRYT
(tấn/
năm)

Đắk lắk 276,3
Khánh
Hòa

365

Lâm
Đồng

209,3

Nam
Định

Loại Tỉnh/ Lượng Loại
đô
Thành CTR
đô
thị
phố
YT(tấn thị

Liêu

134,8

Bình
1.241
Dương

Tỉnh
có đô
thị
loại
III

Điện
Biên

79,1

Sơn La 175

488


Giang

405

Trà
Vinh


108,542

Cà Mau 159,5

Kiên
Giang

642,4

Đồng
Nai

430,8

Long
An

369

Phú
Thọ

126,54

Quảng
Nam

602,25



2000

2001

2002

Giường bệnh
(1000 giường)

115,1

118,0

118,0

120,3

120,1

121,9

122,5

CTRYT chung
(tấn/ ngày)

248,3

253,7

(Nguyễn Thu Trang, 2012)
Số lượng giường bệnh tăng theo thời gian, nên lượng CTRYT chung và
CTRYTNH cũng có xu hướng tăng dần.
Tính trong 36 bệnh viện thuộc Bộ y tế, tổng lượng CTRYT cần được
xử lý là 5122 kg/ ngày, chiếm 16,2 % tổng lượng chất thải. Trong đó
CTRYTNH tính trung bình theo giường bệnh là 0,25 kg/ giường/ ngày chỉ có
4 bệnh viện có chất thải phóng xạ là bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện đa khoa
trung ương Huế, bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên , bệnh viện K.
( Nguyễn Đức Khiến, 2012)
Lượng CTRYT được phát sinh trong ngày giữa các bệnh viện là khác
nhau, bệnh viên đa khoa hay chuyên khoa, bệnh viện trung ương hay tuyến
tỉnh, bệnh viện huyện.
1.1.3.4. Tính chất CTRYT
-

Dễ lây nhiễm: các chất thải có chứa vi sinh vật hoặc độc tố gây bệnh

cho người và động vật.
14


-

Có độc tính:


Độc tính cấp: các chất thải có thể gây tử vong, tổn thương nghiêm trọng




vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi,
hóa chất vào không khí. Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) phát sinh các khí độc hại
như đioxin, furan,…từ lò đốt và CH 4, NH3, H2S…từ bãi chôn lấp. Các khí này
nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cộng
đồng dân cư xung quanh.
15


 Môi trường nước

Tác động của CTRYT đối với nguồn nước có thể so sánh với nước thải
sinh hoạt. Tuy nhiên, nước thải từ các cơ sở y tế có thể chứa Salmonella,
Colifrom, tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn Gram đa kháng, các hóa chất độc hại,
các chất hữu cơ, kim loại nặng. Do đó, nếu không được xử lý triệt để trước
khi xả thải vào nguồn tiếp nhận sẽ gây một số bệnh như tiêu chảy, lỵ, tả,
thương hàn, viêm gan A,..cho người sử dụng nguồn nước này. Khi chôn lấp
chất thải y tế không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh đặc biệt là chất thải y
tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nước
ngầm.
1.1.4.2. Đối với sức khỏe
Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có
nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những
người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và
những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự
sai sót trong khâu quản lý chất thải. Dưới đây là những nhóm chính có nguy
cơ cao:
-

Bác sỹ, y tá, hộ lý, và các nhân viên hành chính của bệnh viện.


đồng qua con đường rác thải y tế. Những vius này thường lan truyền qua vết
tiêm hoặc các tổn thương do kim tiêm có nhiễm máu người bệnh.


Từ loại chất thải hóa chất và dược phẩm
Mối nguy cơ đe dọa sức khỏe con người (các độc dược, các chất gây

độc gen, chất ăn mòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ..) Các loại
chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế. Những chất này có
thể gây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính và mãn tính, gây ra các tổn thương
như bỏng, ngộ độc. Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ
hóa chất hoặc dược phẩm qua da, qua niêm mạc đường hô hấp. Các tổn
thương và đường tiêu hóa. Việc tiếp xúc với các chất dễ cháy, chất ăn mòn,
các hóa chất gây phản ứng (formaldehyd và các chất dễ bay hơi khác) có thể
gây nên những tổn thương tới da, mắt hoặc niêm mọc đường hô hấp. Các tổn
thương phổ biến hay gặp nhất là các vết bỏng.


Từ chất thải gây độc tế bào
Đối với các nhân viên y tế chịu trách nhiệm tiếp xúc và xử lý loại chất

thải gây độc gen, mức độ ảnh hưởng của những mối nguy cơ bị chi phối bởi
sự kết hợp giữa bản chất của chất độc và phạm vi, khoảng thời gian tiếp xúc
với chất độc đó. Quá trình tiếp xúc với các chất độc trong công tác y tế có thể
xảy ra trong lúc chuẩn bị hoặc quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc
bằng hóa trị liệu. Những phương thức tiếp xúc chính là phải hít phải dạng bụi
17


hoặc dạng phun sương qua đường hô hấp; hấp thụ qua da, qua đường tiêu hóa



Do tính chất nguy hại, chúng ta cần biết rằng: tất cả các CTRYTNH
đều phải được xử lý triệt để và nghiêm ngặt, đảm bảo không gây ô nhiễm môi
trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng (theo khuyến cáo của Tổ chức y
tế thế giới và cũng đã được Luật môi trường Việt Nam quy định). Đồng thời,
chúng ta cũng cần biết là: thu gom và xử lý chất thải y tế đúng và triệt để
cũng là góp phần phòng chống lây lan dịch bệnh, nâng cao chất lượng cuộc
sống, góp phần tích cực và trực tiếp vào việc đảm bảo môi trường, an sinh, xã
hội.
Tuy nhiên, do nguồn ngân sách nhà nước dành cho các bệnh viện còn
hạn hẹpnên các bệnh viện chỉ có thể ưu tiên sử dụng kinh phí cho các hoạt
động thiết yếu, phục vụ trực tiếp cho công tác khám chữa bệnh
Nhằm giúp các bệnh viện khắc phục khó khăn trên, Chính phủ đã phê
duyệt và giao Bộ Y tế triển khai dự án Hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện từ
nguồn vốn vay Ngân hàng thế giới, thời gian thực hiện trong 5 năm (từ 2012
đến 2017). Bộ Y tế và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đã triển khai
nhiều công nghệ tiên tiến, giá thành thấp trong xử lý CTRYT như công nghệ
hấp ướt, vi sóng, đốt tập trung; xử lý nước thải bệnh viện bằng nhiều công
nghệ mới, hiệu quả cao, giá thành thấp.
Trong năm 2015, cục Quản lý môi trường y tế đã có khảo sát thực trạng
về vấn đề đối tác công tư trong xử lý chất thải y tế. Trên cơ sở Nghị định
15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối
tác công tư, trong kế hoạch năm 2016 Bộ Y tế sẽ xây dựng Thông tư hướng
dẫn thực hiện đối tác công tư trong xử lý CTRYT để tiếp tục huy động thêm
nhiều nguồn lực, bao gồm cả kinh phí, kinh nghiệm và chuyên môn kỹ thuật
từ khối tư nhân để họ tham gia ngày mạnh mẽ và có hiệu quả trong hoạt động
xử lý CTRYT



CTRYT được thu gom, phân loại và vận chuyển về khu trung chuyển

tại các bệnh viện. Thực tế trong quy hoạch xây dựng các cơ sở y tế, bệnh viện
ở Việt Nam cũng chưa có những hướng dẫn cho việc xây dựng, các khu vực
trung chuyển CTRYT. Hầu hết các điểm tập trung CTRYT được bố trí trên
một khu đất bên trong khuôn viên bệnh viện thành một khu trung chuyển. Các
20


khu trung chuyển có điều kiện vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây
rủi ro do các vật sắc nhọn rơi vãi, côn trùng dễ dàng thâm nhập ảnh hưởng tới
môi trường bệnh viện. Một số điểm tập trung rác không có mái che, không có
rào bảo vệ, vị trí lại gần nơi đi lại, những người không có nhiệm vụ dễ xâm
nhập. Chỉ có một số ít bệnh viện có nơi lưu trữ chất thải đạt tiêu chuẩn quy
định.
CTRYT được nhân viên Công ty Môi trường đô thị đến thu gom các túi
chất thải tại các khu vực tập kết CTRYT của bệnh viện. Các nhân viên của
công ty Môi trường đô thị lẫn các nhân viên trong bệnh viện một số chưa
được đào tạo hướng dẫn về những nguy cơ có liên quan đến việc thu gom,
vận chuyển và tiêu hủy CTRYTNH, nên có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe
của người trực tiếp tham gia. Cũng như hiệu quả việc thu gom, vận chuyển và
tiêu hủy CTRYTNH không cao.
Việc phối hợp liên nghành kém hiệu quả trong công đoạn của quy trình
quản lý CTR bệnh viện. Mới có số ít các công ty bước đầu nghiên cứu được
phương tiện thu gom, vận chuyển CTR. Tuy nhiên còn đang ở giai đoạn thí
điểm chưa sản xuất đại trà. Đối với các bệnh viện đã phân loại, tách CTRSH
để xử lý riêng, nhưng ngay các công ty Môi trường đô thị ở các địa phương
do thiết bị đốt, thiêu hủy CTR không đảm bảo, nên vấn đề xử lý chưa được
triệt để.


sinh ra những chất độc hại như dioxin, furan gây ô nhiễm môi trường.


Chôn lấp chất thải y tế

Trong hầu hết các bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện tuyến tỉnh,
chất thải y tế được chôn lấp tại bãi rác công cộng hay chôn lấp trong khu đất
của bệnh viện. Trường hợp chôn lấp trong bệnh viện chất thải được chứa
trong các hố đào và lấp đất lên.
Tại các bệnh viện không có lò đốt tại chỗ, một số loại chất thải đặc biệt
như bào thai, rau thai và toàn bộ cơ thể bị cắt bỏ sau phẩu thuật được thu gom
để đem chôn trong khu đất của bệnh viện hoặc chôn trong nghĩa trang của địa
phương. Do diện tích mặt bằng của bệnh viện bị hạn chế nên nhiều bệnh viện
hiện nay vẫn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm diện tích đất để chôn lấp chất
thải nguy hại.
Một thực trạng là vật sắc nhọn được chôn lấp cùng với CTRYT khác tại
khu đất của bệnh viện hay tại các bãi rác cộng đồng. Hiện nay, ở một số bệnh
22


viện vẫn còn hiện tượng chất thải nguy hại được thải lẫn với CTRSH và được
vận chuyển ra bãi rác của thành phố.
Chỉ áp dụng tạm thời đối với các bệnh viện thuộc khu vực khó khăn chưa
có cơ sở xử lý CTYTNH đạt tiêu chuẩn tại địa phương. Không chôn chất thải
lây nhiễm lẫn với chất thải thông thường.

23


Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ


2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp
Phương pháp này được sử dụng để thu thập thông tin, số liệu từ các
báo cáo,tài liệu, số liệu thứ cấp của bệnh viện Đa khoa thị xã Hồng Lĩnh.
2.3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp.
Trực tiếp đi đến bệnh viện để điều tra, thu thập thông tin và số liệu liên
quan tới công tác quản lý chất thải rắn bệnh viện.


Phương pháp lấy mẫu phần tư:
24


Mẫu chất thải rắn ban đầu được lấy từ khu tập trung rác thải tạm thời
của bệnh viện với khối lượng 100kg. Sau đó đổ đống rác trên vùng đất trống,
xáo trộn đều bằng cách vun thành đống hình côn làm 4 phần bằng nhau.
Kết hợp 2 phần chéo nhau tiếp tục trộn đều thành 1 đống hình côn. Tiếp
tục thực hiện tượng tự đến khi khối lượng mẫu đạt 3 kg để phân tích thành
phần.
Mẫu rác được phân loại thủ công bằng tay. Mỗi thành phần được tách
ra sau đó đem đi cân, việc tiến hành lấy mẫu được lặp lại 3 lần trong ngày lấy
mẫu.
Việc thu thập mẫu thực hiện ở các mỗi tuần một lần vào các tháng 2, 3
năm 2016 vào thứ 2, 4, 6 của các tuần.
2.3.3. Khảo cứu tài liệu
- Các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động quản lý CTRYT hiện
hành;
- Báo cáo Môi trường quốc gia 2011 – Chất thải rắn;
- Thông tư số58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status