Nghệ thuật tự sự trong truyện thiếu nhi của tô hoài (Tóm tắt, trích đoạn) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------

TẠ MINH THỦY

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ
TRONG TRUYỆN THIẾU NHI CỦA TÔ HOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học

Hà Nội - 2016



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------

TẠ MINH THỦY

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ
TRONG TRUYỆN THIẾU NHI CỦA TÔ HOÀI

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số:60 22 01 20

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Lý Hoài Thu

Hà Nội – 2016


2.2.1 Khái niệm về nhân vật ........................................................................ 46
2.2.2 Các loại hình nhân vật trong truyện thiếu nhi của Tô Hoài ............... 48
2.2.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện thiếu nhi Tô Hoài ......... 57
CHƢƠNG 3: NGƢỜI KỂ CHUYỆN VÀ NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT
TRONG TRUYỆN THIẾU NHI CỦA TÔ HOÀI ......................................... 71
3.1 Người kể chuyện trong truyện thiếu nhi của Tô Hoài .............................. 72
3.1.1 Ngôi kể ............................................................................................... 73
3.1.2 Điểm nhìn trần thuật ........................................................................... 78
3.1.3 Giọng điệu trần thuật .......................................................................... 83
3.2 Ngôn ngữ trần thuật .................................................................................. 88
3.2.1 Ngôn ngữ giàu tính tạo hình ............................................................... 90
3.2.2 Ngôn ngữ địa phương và lứa tuổi....................................................... 93
3.2.3 Sáng tạo phép so sánh tu từ đặc sắc ................................................... 93
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 100


LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn Cao học, tôi đã nhận được rất
nhiều sự chỉ dẫn nhiệt tình của các thầy - cô giáo khoa Văn học, trường Đại học
Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội). Tôi vô cùng quý trọng,
biết ơn sự chỉ bảo đó và xin được chân thành gửi lời tri ân đến toàn thể các thầy cô giáo.
Đặc biệt, tôi xin ngỏ lời cám ơn sâu sắc nhất đến PGS. TS Lý Hoài Thu, cô
đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn. Và hơn hết, trong
quá trình làm việc, tôi đã học tập ở cô một tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm
túc, cẩn thận, tỉ mỉ và một thái độ làm việc hết mình. Xin được gửi đến cô sự biết
ơn và lòng kính trọng chân thành nhất.
Cảm ơn gia đình và những người thân yêu đã luôn tin tưởng, động viên và

là nhiều tác phẩm đã thể hiện cái nhìn mới mẻ trong sáng tác văn học dành cho
thiếu nhi, lứa tuổi đang cần đến sự chăm sóc, nuôi dưỡng về mặt tình cảm, trí tuệ
và tinh thần. Văn học được coi là cái nôi phát triển nhân cách sâu sắc, hiệu quả qua
từng lời văn nghệ thuật. Đối với bất kì ai, tuổi thơ đi qua đều tìm thấy trong lời thơ
câu văn những bài học đầu đời. Kí ức đẹp về tuổi thơ bao giờ cũng là khoảng thời
gian quý giá, không thể phai mờ. Cho nên, những tác phẩm văn học nói chung và
những truyện ngắn nói riêng có giá trị gắn bó với các em từ thủơ nhỏ sẽ là những
2


bài học bổ ích quý giá, giúp các em tăng thêm sức mạnh tiến bước trong cuộc hành
trình dài phía trước.
1.3 Nhà văn Tô Hoài đã có nhiều tác phẩm dành cho thiếu nhi. Sáng tác của ông đa
dạng, từ những câu chuyện nhỏ hàng ngày, câu chuyện về loài vật, đến những cốt
truyện khai thác từ truyện dân gian cổ tích, truyền thuyết... Tác giả dành phần
không nhỏ sự nghiệp cầm bút để viết nên những tác phẩm hay tặng cho lứa tuổi
thiếu nhi. Thông qua hình tượng nhân vật, Tô Hoài đã giúp các em thiếu nhi có nền
tảng tốt đẹp để cảm nhận và thẩm thấu điều hay lẽ phải ở đời. Chọn đề tài Nghệ
thuật tự sự trong truyện thiếu nhi của Tô Hoài, với hơn 180 truyện thiếu nhi, chúng
tôi hy vọng sẽ tìm hiểu kỹ một mảng sáng tác, một lối tự sự trong văn học Việt
Nam hiện đại, từ đó giải mã được phần nào nghệ thuật tự sự truyện thiếu nhi của Tô
Hoài và góp thêm một phần cảm nhận của cá nhân về tác phẩm cũng như con người
nhà văn cùng những đóng góp của ông đối với diện mạo nền văn học Việt Nam
hiện đại.
2. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu Nghệ thuật tự sự trong truyện thiếu nhi củaTô Hoài nhằm
rút ra phong cách tự sự độc đáo của ông so với các nhà văn khác cũng viết truyện
thiếu nhi, đồng thời cố gắng tìm cách tiếp cận mới, khai thác những bình diện mới
trong nghệ thuật tự sự truyện thiếu nhi Tô Hoài.

điểm này Tô Hoài đã nhận được nhiều lời khen về khả năng bao quát đời sống hiện
thực, sự khắc họa công phu đời sống và thiên nhiên miền núi. Tuy vậy, cũng có
những đánh giá không đồng tình về tư tưởng và quan điểm nghệ thuật của ông ở
một số tiểu thuyết. Nhiều tác phẩm vẫn được người đọc đón nhận nhưng lại ít có
bài bình luận.
Sau năm 1975, cùng với các bài phê bình, giới thiệu tác phẩm, các công trình
nghiên cứu về Tô Hoài trở nên sôi nổi và có nhiều kết quả. Tiêu biểu phải kể đến
các tiểu luận của những nhà nghiên cứu: Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Vân
Thanh....... Tác giả Phan Cự Đệ đã nhận xét: “Tô Hoài không chìm đắm trong thiên
nhiên, không tìm ở thiên nhiên một lối thoát, một niềm an ủi nhƣ các nhà lãng mạn
tiêu cực, nhƣng bao giờ anh cũng chắt chiu, trân trọng những vẻ đẹp và chất thơ

3


của đời sống” [59, tr. 87]. Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức thì cho rằng: “Tác phẩm
của Tô Hoài luôn khai thác ở mạch chìm sâu của cuộc đời nơi bóng tối đang còn
đè nặng” [59, tr. 119] và “Tô Hoài, một cây bút văn xuôi sắc sảo và đa dạng” [59,
tr. 131]. Vương Trí Nhàn cũng là tác giả của những bài viết sâu sắc và hấp dẫn về
Tô Hoài. Ông đã không quá lời khi nhận xét: “Tô Hoài viết là say và viết là tỉnh.
Viết để ghi lại những gì đã sống, viết lại chính mình là sự sống nữa” [59, tr. 195].
Chính thực tế cuộc đời cầm bút cần mẫn và chuyên nghiệp của Tô Hoài đã là minh
chứng chắc chắn cho sự sống, sức lao động mãnh liệt, dẻo dai, bền bỉ của ông.
Để có cái nhìn đầy đủ hơn về nhà văn, ta không thể không tìm hiểu đến cuốn
Tô Hoài về tác gia tác phẩm. Đây thực sự là cuốn sách tổng hợp tương đối đầy đủ
và toàn diện các bài nghiên cứu về Tô Hoài từ trước đến nay. Điều này cho thấy vị
trí của Tô Hoài trong nền văn học nước nhà: một tác giả lớn của nền văn xuôi hiện
đại Việt Nam.
Ngoài ra, trong quá trình tìm hiểu về tác giả Tô Hoài chúng tôi còn thấy có
rất nhiều bài nghiên cứu khoa học, khóa luận, luận văn và luận án có đi sâu vào tìm

Tô Hoài. Đặc biệt ông đánh giá rất cao về thể loại truyện ngắn viết cho thiếu nhi
của Tô Hoài. Vũ Ngọc Phan nhận thấy Tô Hoài là một nhà văn trẻ, có sức viết khỏe
và hay: “Truyện thiếu nhi của Tô Hoài không những đặc biệt về lời văn, về cách
quan sát, về lối kết cấu, mà còn đặc biệt cả về những đầu đề do ông lựa chọn nữa”
[59, tr. 59].
Cũng đánh giá về tài năng của nhà văn Tô Hoài, Trần Đình Nam trên Tạp chí
văn học số 9 (1995) đã khẳng định tài năng văn xuôi của Tô Hoài là một khả năng
trời phú: “Ông là một nhà văn xuôi bẩm sinh. Chỉ có một nhà văn xuôi bẩm sinh
mới viết đƣợc cuốn Dế Mèn phiêu lƣu kí ở độ tuổi hai mƣơi. Cuộc dấn thân của Dế
Mèn vì hòa bình, công lí đã làm xúc động hàng triệu trái tim mọi lứa tuổi, dân tộc,
xứ sở” [59, tr. 167].
Hoàng Trung Thông trên báo Văn nghệ số 5 (1987) với bài viết Nhà văn trên
dòng sông Tô Lịch, đánh giá rất cao về tài năng viết truyện thiếu nhi của Tô Hoài:
“Tô Hoài là ngƣời “khôn ngoan, nghịch ngợm, láu lỉnh”, nhƣ ngƣời ta thƣờng nói
về dân ngoại ô. Anh rất yêu, rất hiểu và chịu khó viết văn cho các em, nếu tính từ
quyển đầu đến quyển cuối thì anh đã viết 45 quyển sách cho các em đọc. Vì thế,
những tác phẩm của anh đã đƣợc lứa tuổi thiếu nhi yêu thích. Vừ A Dính, Kim
Đồng, Đảo Hoang, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, nhất là Dế Mèn phiêu lƣu ký, đó là
những tác phẩm đánh dấu quan trọng cho văn học phục vụ thiếu nhi. Dầu chúng ta
5


có thể chê trách mặt này hay mặt khác, nhƣng những tác phẩm ấy của Tô Hoài khi
viết về truyền thống yêu nƣớc của thiếu nhi, hay về đồng thoại, đã đƣa lại cho các
em hứng thú và đƣa lại cho văn học phục vụ các em những điều mà sau này các
nhà văn khác sẽ tiếp tục” [59, tr. 111].
Vân Thanh trên báo Thời mới số ra ngày 28/5/1964 có viết về tác phẩm Hai
ông cháu và đàn trâu của Tô Hoài: “Cốt truyện “Hai ông cháu và đàn trâu” khá
đơn giản. Trọng tâm của tác giả là miêu tả những suy nghĩ, hành động của hai ông
cháu, nhƣng qua đó chúng ta thấy đƣợc tình yêu quê hƣơng, lòng quyết tâm xây

nhà văn “Tô Hoài đã khai thác những đặc điểm của thần thoại, truyền thuyết và cổ
tích (...), đã khơi dậy trí tƣởng tƣợng và niềm khát khao muốn hiểu biết, khám phá
đến mênh mông, vô tận của các em” [59, tr. 494].
Trần Hữu Tá trong cuốn Văn học Việt Nam 1945 - 1975, tập 2 (Nxb Giáo
dục 1990) có nhận xét đánh giá truyện ngắn thiếu nhi của Tô Hoài nhất là đối với
truyện Dế Mèn phiêu lƣu kí: “Dế Mèn phiêu lƣu kí là một thành công xuất sắc của
Tô Hoài, khẳng định tiếng nói đặc sắc cũng nhƣ vị trí văn học độc đáo của ông
trong văn học đƣơng thời cũng nhƣ trong lịch sử văn học lâu dài sau này. Mỗi đối
tƣợng độc giả - ngƣời lớn và trẻ nhỏ đều có thể tìm thấy ở “Dế Mèn phiêu lƣu kí”
những thích thú riêng. Tuổi thơ bị lôi cuốn bởi cốt truyện lí thú lạ lùng, giàu kịch
tính, pha trộn cả hiện thực và huyền thoại, bởi thế giới loài vật nhỏ bé gần gũi;
chàng Dế Mèn hùng dũng, đƣờng hoàng đáng yêu; anh Dế Trũi cần cù, chung
thủy; bác Xiến Tóc trầm lặng chán đời (....), quen thuộc đấy mà sao vẫn làm ta ngỡ
ngàng” [59, tr. 148]. Ngoài ra, Trần Hữu Tá còn đặc biệt đánh giá cao những
truyện ngắn viết cho thiếu nhi của Tô Hoài: “ở những truyện thiếu nhi thành công
nhất, ông đã kích thích trí tƣởng tƣợng, lòng ham muốn vƣơn tới cái đẹp, cái thiện
cho trẻ nhỏ, bồi dƣỡng cho các em lòng yêu văn chƣơng, học đƣợc cách miêu tả, kể
chuyện tự nhiên, duyên dáng và một vốn ngôn ngữ phong phú” [59, tr. 157]. Như
vậy, để trở thành nhà văn quen thuộc của các em, nghĩa là ngòi bút nhà văn: “Tô
Hoài có khả năng quan sát tinh tế và nghệ thuật miêu tả linh động. Ngƣời, vật, thiên
nhiên, cảnh sinh hoạt....tất cả đều hiện lên lung linh, sống động, nổi rõ cái thần của đối
tƣợng và thƣờng bàng bạc một chất thơ” [59, tr. 158].
Tác giả Hà Minh Đức trong Tuyển tập Tô Hoài, tập I (Nxb Văn học, 1987)
lại đặc biệt đánh giá rất cao về các giá trị, trách nhiệm của người cầm bút khi sáng
tác cho các em: “Tô Hoài luôn luôn có ý thức chọn lọc một hình thức biểu hiện
thích hợp với đối tƣợng phản ánh. Ngay các truyện viết cho các em, ông cũng thể
hiện trách nhiệm đó” [59, tr. 139]. Ngoài ra, ông còn bộc lộ niềm mến phục đối với
7



cái đức ăn khỏe đã gây ra chia rẽ giữa cu Lặc và thị Hoa: “giá họ cùng không ăn
8


khỏe cả thì họ yêu nhau biết mấy” [59, tr. 147].
Hoàng Thanh lại chỉ ra hạn chế của Tô Hoài với tập truyện ngắn Con mèo
lƣời: “Có thể nói tuyển tập Con mèo lƣời đã tập hợp đƣợc nhiều tác phẩm tốt về tƣ
tƣởng và nghệ thuật, mặc dù cũng còn đôi truyện có những chi tiết rườm rà nhƣ:
“Hai ông cháu và đàn trâu” hoặc thiếu ý vị nhƣ “Ƣớc gì”. Nhƣng nhìn chung các
truyện đều đều có tác dụng giáo dục và gây cho các em nhiều cảm xúc thẩm mỹ
tốt” [59, tr. 475].
Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ lại có sự phát hiện: “Tô Hoài biết phát huy
những mặt mạnh của lối kể chuyện truyền thống để viết những truyện lịch sử,
truyện ngƣời thật việc thật, truyện thiếu nhi. Nhìn chung, anh thành công về về
truyện hơn là về tiểu thuyết. Tuy nhiên, anh vẫn chƣa hoàn toàn vƣợt qua đƣợc
những nhược điểm, những hạn chế của lối kể chuyện truyền thống” [59, tr. 96].
Có thể nói nhà văn Tô Hoài là một nhà văn có nhiều đóng góp trong văn học
thiếu nhi nước nhà. Ông biết quan sát, biết nắm bắt suy nghĩ, ước mơ của các em,
truyện của ông được tuổi thơ đón nhận nhiệt tình. Xét về đề tài sáng tác, truyện
thiếu nhi của Tô Hoài phong phú về chủ đề. Ông viết truyện về loài vật (dưới nước,
trên trời, trên cạn), về hồi ức, lịch sử, về quê hương đất nước.... Ở chủ đề nào ông
cũng xây dựng cốt truyện cho phù hợp với, gần gũi với lứa tuổi ở các em. Tác
phẩm của ông trong sáng, gợi mở nhiều vấn đề trong cuộc sống. Ngôn ngữ ông
giản dị, tự nhiên, sử dụng nhiều phương ngữ.... Với ý thức, trách nhiệm của người
cầm bút, Tô Hoài luôn tìm ra hướng đi phù hợp với quá trình tâm sinh lý thiếu nhi.
Ông hiểu các em, hiểu được suy nghĩ - ước mơ của các em nên các nhân vật của
ông mang lại cho các em những điều kì thú, những suy ngẫm và bài học bổ ích.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về truyện viết cho thiếu nhi nói
chung và truyện ngắn thiếu nhi nói riêng của Tô Hoài, phần lớn các tác giả đi sâu
vào khai thác vào từng mảng sáng tác. Tuy nhiên, về phạm vi nghiên cứu về Nghệ

Hoài

10


Chƣơng 1:
KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI
TRONG BỨC TRANH VĂN HỌC THIẾU NHI VIỆT NAM
1.1 Nghệ thuật tự sự
1.1.1 Khái niệm
Tên gọi Tự sự học - Narratology/ Narratologie do nhà nghiên cứu Pháp gốc
Bungari T.Todorov đề xuất năm 1969 trong sách Ngữ pháp “Câu chuyện mƣời
ngày”. Kể từ đó, lí luận tự sự đã trở thành một vấn đề chủ yếu của nghiên cứu văn
học. J.H.Miller, nhà giải cấu trúc Mĩ (1993) cho rằng: “Tự sự là cách để ta đƣa các
sự việc vào một trật tự, và từ trật tự ấy mà chúng có một ý nghĩa. Tự sự là cách tạo
nghĩa cho sự kiện, biến cố”. Còn Jonathan Culler (1998) lại nhận định: “Tự sự là
phƣơng thức chủ yếu để con ngƣời hiểu biết sự vật”. Ở Việt Nam, các nhà nghiên
cứu cũng đưa ra những cách hiểu khác nhau về tự sự. Đặng Anh Đào cho rằng: “Tự
sự là một khái niệm rất rộng và có thể xét ở hai bình diện. Bình diện thứ nhất: Tự
sự nhƣ sự đồng nghĩa với “câu chuyện kể” đối lập với miêu tả. Bình diện thứ hai:
Tự sự đƣợc xem xét theo hành động kể chuyện”. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử thì
khẳng định: “Tự sự là hệ thống những sự kiện, cách thức tổ chức sự kiện, các mô
típ truyện, sự phân loại các mô típ, diễn ngôn, lời kể với những ngƣời kể, điểm
nhìn, thời, thức”. Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Tự sự là một phƣơng thức tái
hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó. Tác phẩm tự sự phản ánh
hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian, thời gian, qua các
sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời của con ngƣời. Tác phẩm tự sự bao giờ cũng
có cốt truyện, gắn với cốt truyện là một hệ thống nhân vật đƣợc khắc họa đầy đủ,
nhiều mặt hơn hẳn nhân vật trữ tình 10 kịch”. Tựu chung lại, nội dung của nghệ
thuật tự sự là nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan.

chất của ngôn ngữ và ngữ pháp tự sự, nhằm tìm ra một cách đọc mà không cần đến

1

B. Tomasepxki vốn là một nhà phê bình thơ nhưng với tiểu luận “Hệ chủ đề” ông đã trở thành người đầu tiên

nghiên cứu thủ pháp cốt truyện. Ông phân biệt khái niệm chuyện kể (fabula, fable) và cốt truyện (sujet): tuyến
hành động liên quan đến chuyện kể, còn tuyến trần thuật liên quan đến cốt truyện. Ông phân biệt “thời gian của
chuyện kể” và “thời gian trần thuật”, đồng thời trình bày nhiều thủ pháp như: trì hoãn, bình luận ngoại đề, che
giấu bí mật, đảo lộn thời gian...
12


sự đối chiếu giữa tác phẩm tự sự và hiện thực khách quan. Với mục đích như vậy,
chủ nghĩa cấu trúc có đặc điểm là lấy ngôn ngữ học làm hình mẫu, xem tự sự học là
sự mở rộng của các cú pháp học, còn trữ tình là sự mở rộng của ẩn dụ. Tiêu biểu
cho giai đoạn nghiên cứu này là G. Genette với tuyên bố: “mỗi câu chuyện là sự
mở rộng của một câu - chủ yếu là vị ngữ động từ”.
Mở đầu cho thời kỳ cấu trúc chủ nghĩa với công trình Dẫn luận phân
tích tác phẩm tự sự của R. Barthes năm 1968 và S/Z (1970) tác phẩm này đã bắt
đầu chuyển sang hậu cấu trúc chủ nghĩa; T. Todorov có Ngữ pháp “ Truyện mười
ngày”... Sơ khởi của quan niệm này là Hình thái học truyện cổ tích của Propp,
tiếp theo là nghiên “cứu cấu trúc thần thoại” của Claude Levi - Strauss và “mô
hình hành vi ngôn ngữ” của Roman Jakobson. Đặc điểm của lí thuyết tự sự chủ
nghĩa cấu trúc là lấy ngôn ngữ học làm hình mẫu, xem tự sự học là sự mở rộng
của cú pháp học, còn trữ tình là sự mở rộng của ẩn dụ. Todorov xem nhân vật
như danh từ, tình tiết là động từ, trong chủ nghĩa hiện thực thì tình tiết thuộc thức
chủ động, còn trong thần thoại lại thuộc thức bị động.... A. J. Greimas vận dụng sự
đối lập trục liên kết và trục lựa chọn để nghiên cứu cấu trúc tự sự. G.Genette
tuyên bố mỗi câu chuyện là sự mở rộng của một câu - chủ yếu là vị ngữ động từ

Tổng quan quá trình phát triển của lí thuyết tự sự, nhà lí luận tự sự Mĩ
Gerald Prince chia làm ba nhóm theo ba loại hình: Nhóm một là những nhà tự sự
học chịu ảnh hưởng của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga như V. Propp, trong số
này có Greimas, ông đã giản lược số chức năng của Propp xuống tới con số 20
và làm nổi bật lôgic tự sự. Các tác giả khác như Todorov, Barthes, Remak, Norman
Friedman, Northrop Frye, Etienne Souriau... mỗi người một cách, chú ý tới cấu
trúc của câu chuyện được kể, đi tìm mẫu cổ của tự sự, chức năng của biến cố và
qui luật tổ hợp, lôgic phát triển và loại hình cốt truyện... Khi cực đoan nhất họ cho
rằng tác phẩm tự sự không bị chi phối bởi chất liệu. Một câu chuyện có thể kể
bằng văn học, điện ảnh, ba lê, hội họa... đều được, do đó bỏ qua hoặc không đi
sâu vào đặc trưng biểu đạt của chất liệu; Nhóm thứ hai lấy G. Genette làm tiêu
biểu đã xem nguồn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ nói hay viết mà biểu đạt,
cho nên vai trò của người trần thuật được coi là quan trọng nhất. Họ chú ý lớp
ngôn từ của người trần thuật với các yếu tố cơ bản như điểm nhìn, giọng điệu...
Đây là nhóm đông nhất thu hút nhiều nhà nghiên cứu như Dolezel, Micke Bal;
Nhóm thứ ba đại diện là Gerald Prince và Seymour Chatman, họ coi trọng phương
14


pháp nghiên cứu tổng thể, hay dung hợp. J. Culler cũng thuộc phái này, ông coi
trọng cả cấu trúc sự kiện lẫn cấu trúc lời văn.
Như vậy, có thể thấy lí thuyết tự sự học đã trải qua một quá trình hình thành,
phát triển từ rất sớm, qua nhiều giai đoạn khác nhau. Với nội dung là nghiên
cứu cấu trúc văn bản tự sự và những vấn đề liên quan, tự sự học đã dần khẳng định
được vai trò quan trọng của mình là một ngành khoa học nghiên cứu về văn học.
Nghiên cứu tự sự học đang là một xu thế có nhiều triển vọng trong lí luận
văn học. Và nó càng có ý nghĩa văn hóa rộng lớn. Nó không chỉ mở ra khả năng
nghiên cứu truyền thống tự sự trong mỗi nền văn học, nghiên cứu so sánh quốc tế
về phương diện tự sự, nghiên cứu loại hình ảnh hưởng; mà nó còn trở thành một bộ
phận của thi pháp học so sánh; nó còn giúp chúng ta hiểu rõ về mọi hình thức tự sự,

nhìn với điểm nhìn, tiêu cự trần thuật với mô hình trần thuật.
Lí thuyết tự sự học hiện đại đã nghiên cứu sâu về hành vi ngôn ngữ tự sự và
các hình thức của nó làm cho tự học gắn chặt với phong cách học tiểu thuyết;
nghiên cứu cấu trúc của tình tiết, đơn vị cơ bản của tự sự, các kiểu tổ hợp tình tiết,
loại hình hóa cốt truyện.
Nghiên cứ tự sự học có một ý nghĩa văn hóa rất rộng lớn.Tự sự học giúp
hiểu rõ mọi hình thức tự sự, nghệ thuật và phi nghệ thuật. Nghiên cứu tự sự học mở
ra khả năng nghiên cứu truyền thống văn hóa trong mỗi nền văn học từ đó cho ta
nhìn lại các vấn đề văn học sử dân tộc một cách sâu sắc. Văn học Việt Nam ngày
càng nhiều những bài viết nghiên cứu dưới góc độ tự sự học đã chứng tỏ vai trò, ý
nghĩa lớn lao của tự sự học trong nghiên cứu văn học hiện nay.
1.2. Khái quát về văn học thiếu nhi Việt Nam
1.2.1 Khái niệm văn học thiếu nhi
Trong kho tàng văn học nhân loại đã có những sáng tác dành cho một lớp đối
tượng riêng, đó là thiếu nhi. Tuy nhiên, về khái niệm “văn học thiếu nhi”, cho đến
nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, chưa thống nhất trong giới nghiên cứu. Ở Việt
Nam dù văn học thiếu nhi không sớm được nghiên cứu chuyên biệt như những loại
hình văn học khác nhưng cũng đã được các nhà nghiên cứu xác lập cho nó một chỗ
đứng nhất định với một khái niệm cụ thể.
Từ điển Thuật ngữ văn học, đã định nghĩa về “văn học thiếu nhi” như sau:
“Theo nghĩa hẹp, văn học thiếu nhi gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập

16


khoa học dành riêng cho thiếu nhi” [25, tr.342]. Tuy vậy, khái niệm văn học thiếu
nhi cũng thường bao gồm một phạm vi rộng rãi những tác phẩm văn học thông
thường (cho người lớn) đã đi vào phạm vi đọc của thiếu nhi.
Trong Bách khoa thƣ văn học thiếu nhi, quan niệm về văn học thiếu nhi
tường tận hơn, chi tiết hơn. Khái niệm văn học thiếu nhi được nhận diện ở nhiều

(1941)...
Trước Cách mạng, nhóm Tự lực Văn đoàn có sách dành cho thiếu nhi tên là
Sách hồng, Hoa mai, Tuổi xanh, Hai đứa trẻ …quan tâm phản ánh sinh hoạt của trẻ
em thành thị. Các tác phẩm như: Từ ngày mẹ chết, Bài học quét nhà, Một đám cƣới,
Bảy bông hoa lép (Nam Cao), Bữa no đòn (Nguyễn Công Hoan), Những ngày thơ
ấu (Nguyên Hồng). … lại hướng đến nỗi bất hạnh của trẻ em nghèo. Chú ý khai
thác số phận trẻ thơ với những bi kịch nhân sinh sâu sắc, các nhà văn hiện thực đã
để lại trên trang viết những cuộc đời thiếu thốn vật chất, trống vắng tinh thần và
gánh nặng về tâm hồn. Trong thời kì này đã xuất hiện một số truyện đồng thoại của
Tô Hoài. Trong các tác phẩm như Đám cƣới chuột, Võ sĩ Bọ Ngựa, Dế Mèn phiêu
lƣu kí.... tác giả đã mượn hình thức đồng thoại, mượn hình tượng con vật để chuyển
tải những vấn đề mang tính xã hội. Nhìn chung, trước cách mạng tháng Tám năm
1945 chưa thực sự có phong trào sáng tác cho trẻ em nhưng những tác phẩm của
giai đoạn này đã đặt nền móng đầu tiên cho văn học thiếu nhi nước nhà.
1.2.2.2 Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, truyện viết cho thiếu nhi phát triển
toàn diện và phong phú hơn nhờ có sự quan tâm của Đảng và nhà nước. Có một bộ
phận chuyên về văn học thiếu nhi do Tô Hoài và Hồ Trúc đảm nhiệm. Thời kì
kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954, dù bộn bề trăm công nghìn việc, Chủ tịch Hồ
Chí Minh vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến thiếu nhi và văn học thiếu nhi.
Trong Thƣ trung thu gửi các cháu nhi đồng Bác viết: “Các cháu phải yêu, yêu Tổ
quốc, yêu đồng bào, yêu lao động…”. Lời dạy ấy của Bác sau này đã trở thành đề
tài, chủ đề và nội dung của các tác phẩm văn học thiếu nhi. Nguyễn Huy Tưởng
viết: Tìm mẹ, Chiến sĩ calô, Hà Học Hợi học sinh gƣơng mẫu, Hai bàn tay chiến sĩ,
Điện Biên của chúng em... đều nói về những em bé mưu trí, dũng cảm giúp bộ đội
chiến đấu. Nguyễn Tuân viết: Chú Giao làng Sen, Nguyên Hồng viết: Dƣới chân
cầu mây. Tô Hoài viết: Hoa Sơn cũng đều đề cập đến những tấm gương dũng cảm
của các em, đến công sức của các em trong sự thắng lợi của cuộc kháng chiến. Thời
kì này, nhà thơ Tố Hữu có làm nhiều bài thơ hay trong đó có Lƣợm là bài thơ nổi
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status