VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG VĂN TOÀN
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ THỜI THUỘC PHÁP
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI, 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG VĂN TOÀN
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ THỜI THUỘC PHÁP
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VŨ MẠNH TOÀN
HÀ NỘI, 2017
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng chính trị thuộc hình thái ý thức xã hội phản ánh thực tiễn
chính trị của xã hội. Tư tưởng chính trị thể hiện quan điểm, tư tưởng của các
giai cấp về việc giành, giữ, và thực thi quyền lực nhà nước, quyền điều hành
và quản lý xã hội nhằm đảm bảo lợi ích giai cấp.
Tư tưởng chính trị thời thuộc pháp có ảnh hưởng sâu sắc đến các phong
trào yêu nước và phong trào cách mạng của nước ta trước khi giành được độc
lập, nghiên cứu tư tưởng chính trị thời thuộc pháp vừa có ý nghĩa về mặt lý
luận vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn. Những nội dung trong tư tưởng chính trị
thời thuộc Pháp là kết quả của thực tiễn đấu tranh giành độc lập chống giặc
ngoại xâm của ông cha ta trong nửa sau thế kỷ IXX và đầu thế kỷ XX.
Tuy những tư tưởng trên còn những hạn chế nhất định những đã mang
lại những giá trị trong hoạt động thực tiễn các phong trào yêu nước của dân
tộc, hun dậy ngọn lửa đấu tranh giành độc lập cho đất nước; việc nghiên cứu
cũng có ý nghĩa trong học tập nghiên cứu những tư tưởng chính trị thời kỳ
Pháp thuộc, đó là sự kế thừa và tiếp thu phát triển tư tưởng chính trị của các
nhà trí thức của Việt Nam.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề tư tưởng thời kỳ Pháp
thuộc ở nhiều mức độ khác nhau, ở nhiều góc độ khác nhau, từ văn học, sử
học, triết học đến nhà nước pháp luật…công trình này góp phần nghiên cứu
về tư tưởng chính trị thời thuộc Pháp trên cơ sở nghiên cứu một số nhà tư
tưởng tiêu biểu dưới góc độ tiếp cận của chính trị học.
Nhận thức được ý nghĩa của tư tưởng chính trị thời thuộc Pháp trong
tiến trình lịch sử tư tưởng chính trị của Việt Nam cũng như đối thực tiễn
nghiên cứu chính trị và thực tiễn chính trị hiện nay, nên tôi chọn đề tài: “Tư
tưởng chính trị thời thuộc Pháp ở Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ của mình.
1
yếu là tầng lớp nho sĩ, có tư tưởng tiến bộ nhưng vẫn mang những đặc tính
của con người và tâm hồn Việt Nam.
Cuốn sách Tư tưởng Triết học Việt Nam trong bối cảnh du nhập các tư
tưởng chính trị Đông Tây nửa đầu thế kỷ XX là tập hợp các báo cáo tham gia
hội thảo quốc tế do trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội tổ
chức năm 2005. Bài viết của các tác giả được biên tập làm ba phần: Tư tưởng
triết học Việt Nam đầu thế kỷ XX; phương pháp tiếp cận; sự du nhập các trào
lưu tư tưởng phương Đông vào Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến tư tưởng
Triết học Việt nam đầu thế kỷ XIX. Các tác giả của sách đều cho rằng đầu thế
kỷ XIX là một thời kỳ đặc biệt các nhà Nho thời bấy giờ có cơ hội tiếp cận
với tư tưởng phương Tây thông qua tân thư, và các tư tưởng triết học, chính
trị...cơ bản là sự kết hợp giữa tư tưởng truyền thống và tư tưởng dân chủ tư
sản tạo ra những trào lưu tư tưởng ở nước ta.
Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do Đinh
Xuân Lâm chủ biên bao gồm 3 chương: Tân thư; sự du nhập tư tưởng, văn
minh phương tây và phương Đông. Các tác giả đều nhận định rằng sự chuyển
biến trong cơ cấu kinh tế xã hội đầu thế kỷ XIX là nền tảng vật chất cho các
luồng tư tưởng mới của phong trào cách mạng.
Cuốn sách Góp phần tìm hiểu Nho giáo, Nho sĩ, trí thức Việt Nam trước
năm 1945 của tác giả Chương Thâu đã khái quát lịch sử phát triển của Nho giáo
Việt Nan từ thời Bắc thuộc đến đầu thế kỷ XX và đã đưa ra một số nhận xét về
vai trò tư tưởng nho sĩ Việt Nam thời cận đại, khi đất nước bị thực dân xâm lược
triều đình thất thủ nhưng các nho sĩ yêu nước có tư tưởng kiên quyết chống giặc
cứu nước, chống cả vua quan phản động, đớn hèn, trong đó có cả biện pháp văn
hóa, giáo dục tư tưởng duy tân và đấu tranh vũ trang.
Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu cuộc đời sự nghiệp của
các nhà tư tưởng, nhà nho yêu nước của các nhà nho đầu thế kỷ XX. Điểm
mạnh của các công trình này là tính chất văn bản, tư liệu, nhưng lại thiếu tính
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên của luận văn có nhiệm vụ:
+ Khái quát bối cảnh kinh tế, chính trị xã hội thời thuộc Pháp
4
+ Trình bày và phân tích một số tư tưởng chính trị tiêu biểu
+ Đánh giá những giá trị và một số hạn chế của tư tưởng chính trị thời
thuộc Pháp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn làm rõ nội dung tư tưởng chính trị thông qua phân tích tư
tưởng chính trị của một số nhà tư tưởng tiêu biểu thời thuộc Pháp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu một số tư tưởng chính trị theo xu hướng canh
tân và dân chủ tư sản tiêu biểu thời thuộc Pháp ở Việt Nam.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dùng các phương pháp như: Logic và Lịch sử; phân tích –
tổng hợp; so sánh; quy nạp; diễn dịch; khái quát hóa; phân tích văn bản…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về lý luận:
+ Luận văn góp phần làm rõ hơn nội dung của một số tư tưởng chính trị
tiêu biểu thời thuộc Pháp.
+ Rút ra những giá trị và một số hạn chế trong tư tưởng chính trị tiêu
biểu thời thuộc Pháp.
- Về thực tiễn:
Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho
của thực dân Pháp tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và thực
hiện kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam.
Nửa đầu thế kỷ XX xã hội Việt Nam có rất nhiều biến động về mọi mặt
của đời sống chính trị - xã hội. Việt Nam từ chỗ là nước Phong kiến tự chủ thì
lúc này trở thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến. Xã hội Việt Nam lúc
này tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản là; mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ
yếu là nông dân, với giai cấp phong kiến, mâu thuẫn giữa toàn dân Việt Nam
với chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược, thống trị. Bên cạnh đó, sự hiện diện
của truyền thống tư tưởng, văn hoá dân tộc, trong đó nổi bật là tinh thần nhân
ái, ý thức độc lập, tự cường và tình cảm cố kết cộng đồng, giữ vai trò quy
định trực tiếp mọi quan hệ xã hội. Đồng thời, sự tiếp nhận một cách sáng tạo
những tinh hoa văn hoá phương Đông và văn minh phương Tây được xem
như một nhân tố cần thiết để phát triển đời sống tư tưởng của dân tộc. Vào
7
cuối những năm 20 của thế kỷ trước, với sự thắng lợi và ảnh hưởng của cuộc
Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại, Nguyễn Ái Quốc nhận thức
và lĩnh hội lý luận cách mạng và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin trên mặt
trận đấu tranh chính trị giành độc lập dân tộc và dân chủ xã hội có ý nghĩa đặc
biệt to lớn, tạo ra bước nhảy về chất và lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi tới
thắng lợi.
Một là, về vấn đề kinh tế
Thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương bao gồm Bắc Kì,
Trung Kì, Nam Kì và Campuchia, trực thuộc Bộ Hải quân và Thuộc địa theo
Sắc lệnh ngày 17-10-1887. Ngày 19- 4-1899, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh sáp
nhập thêm Lào vào Liên bang Đông Dương. Việt Nam bị chia cắt thành Bắc
Kì, Trung Kì và Nam Kì với chế độ cai trị khác nhau. Nam kỳ hoàn toàn
thuộc về Thực dân Pháp, Bắc Kì và Trung Kì là hai xứ bảo hộ vẫn còn giữ lại
chính quyền phong kiến về hình thức, hai nước Lào và Campuchia cũng là đất
- Việt. Trường Hán học chỉ duy trì tạm thời, đã được thay thế bằng trường
Pháp - Việt trên cả nước kể từ thập niên 1910. Phần lớn học sinh và sinh viên
đại học, cao đẳng đều là con em các gia đình giàu có hoặc có địa vị nhất định
trong xã hội lúc bấy giờ. Các gia đình nông dân, nhân dân lao động nghèo rất
ít có khả năng cho con em theo học. Cho đến năm 1930, tổng số học sinh,
sinh viên tất cả các trường từ tiểu học đến đại học chỉ chiếm 1,8% dân số Việt
Nam. Do số người được đi học thấp, kết quả là tới năm 1945, trên 95% dân số
Việt Nam bị mù chữ[104]. Chính sách giáo dục của chính quyền Pháp nhằm
dụng ý là để chuyển hướng tư duy của đại chúng, xóa bỏ những ảnh hưởng
của văn minh Trung Quốc, truyền bá văn minh Pháp nhằm đồng hóa người
Việt Nam, đồng thời đào tạo ra một tầng lớp cán bộ và nhân viên phục vụ cho
nền cai trị và công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp. Mối đe dọa đáng sợ cho
chính quyền thực dân Pháp là văn hóa Nho giáo qua các sách vở Hán văn, bởi
9
Nho giáo trui rèn con người về lòng yêu nước chống ngoại xâm. Vì vậy người
Pháp đã dồn nhiều nỗ lực vào việc cải biến nền giáo dục bản xứ và loại bỏ
Nho học và cấm giảng dạy lịch sử Việt Nam, thay vào đó là các kiến thức
khoa học phương Tây, văn chương và lịch sử Pháp. Một chứng cứ là sách
giáo khoa thời Pháp thuộc không dùng danh từ Việt Nam mà chỉ nhắc đến
Đông Pháp và các xứ lệ thuộc. Các kỳ thi Khoa bảng Việt Nam cũng bị loại
bỏ, thay vào đó là các kì thi bằng chữ quốc ngữ phỏng theo các kỳ thi của
Pháp.
Ba là, vấn đề chính trị xã hội và các phong trào yêu nước
Trong khi cố gắng khai thác tài nguyên thiên nhiên của Đông
Dương và nhân lực để đánh Chiến tranh thế giới thứ nhất,Pháp trấn áp
tất cả hoạt động tụ tập yêu nước ở Việt Nam. Nhiều cuộc nổi loạn chống
thực dân bộc phát tại Việt Nam nhưng đã bị Pháp đàn áp dễ dàng.
Cuộc phản kháng đầu tiên là do Tôn Thất Thuyết đã tiến hành cuộc
Cuộc khởi nghĩa này kéo dài tới năm 1913 thì bị dập tắt.
Ngày 27/7/1908, xảy ra vụ Hà thành đầu độc nhằm vào binh lính Pháp
ở Hà Nội có sự tham gia của Hoàng Hoa Thám. Cuộc binh biến này được
chuẩn bị rất chu đáo, theo đó nghĩa quân sẽ bắn phá đồn binh Pháp tại Đồn
Thủy (nay là Bệnh viện Quân đội 108, Hà Nội) bằng đại bác nhằm vô hiệu
hóa đồn này. Các đồn binh tại Sơn Tây và Bắc Ninh sẽ bị chặn đánh, không
cho quân Pháp tiếp cứu Hà Nội. Quân của Hoàng Hoa Thám chờ ngoài thành
Hà Nội, chờ tín hiệu từ trong thành, sẽ tiến hành đánh Gia Lâm và cắt đường
xe lửa và điện thoại. Tuy nhiên cuộc binh biến thất bại, quân Đề Thám phải
rút về, 24 người tham gia cuộc binh biến bị Pháp xử tử bằng cách chém đầu,
70 người bị xử tù chung thân.
Năm 1916, vua Duy Tân xuất cung tham gia cuộc nổi dậy do Thái
Phiên và Trần Cao Vân tổ chức. Người Pháp được mật báo kế hoạch nổi dậy.
11
Pháp bắt Triều đình Huế phải xét xử, 4 đại thần gồm Thái Phiên, Trần Cao
Vân, Tôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu bị chém đầu ở An Hòa. Vua Duy
Tân bị truất ngôi và đày đi đảo La Réunion ở Ấn Độ Dươngcùng với vua cha
là Thành Thái vào năm 1916.
Một trong những cuộc nổi dậy lớn nhất năm 1916 là cuộc khởi
nghĩa Thái Nguyên ở miền Bắc. Khoảng 300 binh lính người Việt đã nổi
dậy, phóng thích và cấp súng ống cho 200 tù binh chính trị cùng vài trăm
dân địa phương. Nghĩa quân đánh chiếm và làm chủ Thái Nguyên trong
nhiều ngày liền, với hy vọng được tiếp viện bởi Trung Quốc Quốc Dân
Đảng. Khi không ai đến giúp họ, Pháp đã đánh chiếm lại Thái Nguyên và
truy sát hầu hết các nghĩa quân.
Như vậy, trong thời kỳ này đất nước ta có những đặc điểm kinh tế
chính trị và xã hội hết sức đặc biệt, đất nước nằm dưới sự cai trị của thực
dân pháp và bộ máy tay sai. Dưới sự bóc lột của chế độ thực dân hà
canh tân vào cuối thế kỷ XIX và sau đó, khởi xướng tư tưởng dân chủ tư sản
vào đầu thế kỷ XX, tạo nên ảnh hưởng lớn đối với xã hội Việt Nam. Hồ Chí
Minh viết: “Năm 1926 có một sự thức tỉnh trong toàn quốc tiếp theo sau cái
chết của một nhà quốc gia chủ nghĩa Phan Châu Trinh” [65, tr.20]. Phong trào
cách mạng dân chủ tư sản tuy thất bại, nhưng con người, tư tưởng đổi mới của
nó vẫn có ý nghĩa nhất định đối với sự nghiệp cứu nước, cứu dân sau này.
Với việc phê phán hệ tư tưởng phong kiến, các nhà tư tưởng đã đề xuất
tư tưởng canh tân, chuẩn bị từ bỏ hệ tư tưởng cũ và đi tìm con đường mới cứu
nước, cứu dân. Vào cuối thế kỷ XIX, nhận thấy Nho giáo đã đi vào con đường
suy tàn, bất lực trước yêu cầu của lịch sử, nhiều nhà tư tưởng tiến bộ đã đề
xuất tư tưởng canh tân, đổi mới nhằm chấn hưng đất nước, tiêu biểu như
Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Trần
13
Quý Cáp v.v.. “Họ chính là những người đã trồng cái mầm khai hóa trước
tiên”[7, tr.383].
Đặng Huy Trứ (1825 - 1874), Nguyễn Trường Tộ (1830 - 1871) là
những nhà tư tưởng tiêu trong trào lưu tư tưởng canh tân. Nguyễn Trường Tộ
là người viết rất nhiều bản điều trần gửi vua, quan nhà Nguyễn kêu gọi đổi
mới toàn diện đất nước. Theo Nguyễn Trường Tộ thì ông cho rằng xã hội
luôn vận động và phát triển, xã hội bây giờ đã khác do vậy con người phải
thay đổi tư duy cho phù hợp với xã hội “Thời đại nào có chế độ ấy. Con
người sinh ra thời đại nào cũng chỉ đủ làm công việc của thời đại ấy mà thôi.
Vậy thì người sinh vào thời xưa làm xong công việc của thời xưa. Rồi dần
dần thời thế đổi dời, làm sao có thể mãi mãi ôm giữ phép xưa mãi được” [5,
tr.260]. Nhưng trong vấn đề cải cách chính trị Nguyễn Trường Tộ vẫn mang
nặng tư tưởng phong kiến vẫn muốn duy trì chế độ quân chủ không muốn
thay đổi chế độ quân chủ mà muốn có một người lãnh đạo đủ khả năng lãnh
có thừa thóc trong kho, thừa vải trên khung cửi cũng bị kẻ địch lấy đi”[75,
tr.506]. Trong tư tưởng Đặng Huy Trứ, quan niệm về dân là một nét mới khá
nổi bật trong tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Ông coi “dân là
gốc của nước, là chủ của thần”; “Khí mạnh của nước là lấy dân làm gốc. Theo
ông bồi bổ cái gốc đó mới là thầy thuốc giỏi”[75, tr.284]. Những quan niệm
đó đánh dấu sự đổi mới trong suy tư của dân tộc ta cuối thế kỷ XIX. Có thể
nói, xu hướng cải cách xã hội là xu thế tất yếu đặt ra cho dân tộc Việt Nam
trong giai đoạn này. Các nhà tư tưởng, như Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ,
Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… đã nắm bắt được xu thế đó và bước
đầu tạo ra một bước chuyển trong tư tưởng chính trị, từ tư tưởng quân chủ
sang tư tưởng dân chủ, từ vương quyền sang dân quyền. Nhưng do hạn chế
bởi điều kiện lịch sử, lập trường và tầm nhìn, cũng như ảnh hưởng khá sâu
15
nặng của ý thức hệ phong kiến nên tư tưởng cải biến xã hội của các ông chỉ
mang tính chất cách tân, trong khuôn khổ trật tự của xã hội cũ.
Tiếp thu tư tưởng của các nhà canh tân cuối thế kỷ XIX, một số nhà tư
tưởng đầu thế kỷ XX, như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc
Kháng, Nguyễn An Ninh,… tiếp tục phát triển tư tưởng đó lên trình độ mới,
cao hơn về chất. Các ông đã từ bỏ dần hệ tư tưởng phong kiến tiếp thu hệ tư
tưởng mới cho dân tộc. Theo Phan Bội Châu, hệ tư tưởng Nho giáo đã không
còn thực hiện được vai trò của lịch sử. Ông viết: “… nước Việt Nam mơ
màng đôi mắt ngủ, uể oải một thân bệnh, tôn quân quyền, ức dân quyền, trọng
hư văn, khinh võ sĩ, trộm cướp rình mò ở sân, mà vợ con say hát trong nhà,
chủ nhân nằm dài trên giường luôn luôn ngáp mỏi mệt. Than ôi! Nguy ngập
lắm thay” [7, tr.107]. Theo Phan Bội Châu, Nho học thì không thiết thực, tạo
nên tầng lớp văn sĩ đã lỗi thời không đáp ứng được yêu cầu xã hội: “Các triều
đình chuyên chế đã dùng khoa cử làm cái bẫy ràng buộc hào kiệt, tai mắt xóm
Việt Nam ra đời muộn và yếu. Cho nên, tư tưởng dân chủ tư sản ở nước ta có
tính đặc thù riêng không thuần thục, điển hình như ở phương Tây, các phạm
trù dân chủ tư sản vẫn chịu ảnh hưởng của Nho giáo và mang sắc thái văn hóa
Việt Nam. Mặc dù vậy, tư tưởng dân chủ tư sản ở Việt Nam đã được các nhà
tư tưởng phác họa những nội dung cơ bản, phản ánh sự vận động và phát triển
tất yếu của lịch sử tư tưởng.
Thứ hai, sự chuyển biến từ tư tưởng chính trị theo hướng canh tân và
dân chủ tư sản sang tư tưởng chính trị Mác – Lênin.
Tư tưởng chính trị cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX là một bước
chuyển, là khâu trung gian để chuyển từ hệ tư tưởng phong kiến sang hệ tư
tưởng vô sản.
17
Giai đoạn thứ nhất của thời thuộc Pháp, tư tưởng chính trị theo hướng canh
tân và dân chủ tư sản tạo là tư tưởng nổi bật. Còn ở giai đoạn thứ hai, tư tưởng
chính trị Mác - Lênin là ngọn cờ và cốt lõi của ý thức dân tộc và cách mạng.
Từ thất bại của tư tưởng dân chủ tư sản, với sự tác động của phong trào
cách mạng vô sản, các nhà tư tưởng dân chủ tư sản đã đến gần với chủ nghĩa
Mác – Lênin. Khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, các nhà tư tưởng
dân chủ tư sản Việt Nam có khuynh hướng ngả theo cách mạng vô sản. Phan
Bội Châu đã viết bài ca ngợi V.I.Lênin, viết về chủ nghĩa xã hội, kêu gọi đọc
lý luận của C.Mác và tỏ rõ sự tin tưởng con đường cách mạng vô sản mà
Nguyễn Ái Quốc lựa chọn. Ông viết: “Hiện nay đã có người khác giỏi hơn
lớp chúng tôi nhiều đứng ra đảm đang công việc để làm trọn cái việc mà lớp
chúng tôi không làm xong. Ông có nghe tiếng Nguyễn Ái Quốc không?…
Ông ấy còn thì nước ta nhất định độc lập”[92, tr.415]. Phan Châu Trinh đã
nghiên cứu tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin và trong bức thư gửi Nguyễn
Ái Quốc năm 1922, ông viết: “Tôi biết anh hấp thu được cái chủ nghĩa của
triển toàn xã hội, toàn dân tộc.
Những mục tiêu mang tinh thần dân tộc và phù hợp với xu thế thời đại
lúc bấy giờ đều dựa trên nền tảng của chính trị dân chủ tư sản, thuyết tiến hoá,
lý luận biến pháp, chủ nghĩa tam dân của các nhà triết học tư sản phương Tây
và phương Đông. Mặc dù các tư tưởng chính trị trên đây đề cao tự do – bình
đẳng – bác ái, tiến bộ xã hội, dân chủ, nhân văn; song, tư tưởng duy tân,
nhưng những tư tưởng đó đã không có được một hệ tư tưởng, một ý thức giai
cấp, một cơ sở triết học nhất quán, khoa học, triệt để, một thực tiễn cách mạng
- điều mà sau đó chỉ có được ở phong trào cộng sản và ở những người cộng
sản. Mặt khác, lập trường, đường lối và mục đích cứu dân, cứu nước của các
nhà duy tân đã không thoát ra khỏi các quan điểm chính trị tư sản vốn ngay từ
khi ra đời đã mang nhiều khuyết tật, thậm chí là bệnh tật vô phương cứu chữa
19
và đang đi vào khủng hoảng. Đồng thời, dù là “bạo động” hay “cải cách”, thì
cũng không nhận ra được cái gốc rễ của xã hội là vấn đề kinh tế xã hội, cùng
với bản chất của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc đang thống trị nước ta
lúc bấy giờ.
Về thực chất, các nhà tư tưởng chính trị – xã hội thuộc các nhóm nói trên
đều không có một cơ sở chính trị rõ ràng, nhất quán để có thể thuyết phục và phổ
biến rộng rãi. Các quan điểm lý luận của họ thường vụn mảnh, hỗn tạp, thiếu
tính khoa học, không triệt để và đặc biệt, chúng không phù hợp với nhu cầu thực
tiễn cách mạng, với hiện thực của dân tộc. Vì vậy, các xu hướng tư tưởng trên
dần dần cũng tự đánh mất tiếng nói trong công luận, trong dân chúng.
1.2.2. Hình thành các quan điểm chính trị mang tính cách mạng
Tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được thể
hiện qua các nhà tư tưởng tiêu biểu; trong đó, tập trung vào một số nội dung
chính, như tư tưởng về tự cường dân tộc, nâng cao dân trí, bồi dưỡng sức dân,
truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản...Mặc dù có những nội dung mới, cách
phương pháp: cách mạng bạo động và đấu tranh ôn hòa, các tư tưởng về
phương pháp cách mạng cũng có những nhận thức khác nhau với những đại
biểu tiêu biểu.
Một là, với trường phái ủng hộ cách mạng bạo động tiêu biểu là Phan
Bội Châu, với về vấn đề phương pháp cách mạng thì ông cho rằng, thực dân
Pháp là kẻ thù không đội trời chung với dân tộc ta; chúng không cho dân tộc
ta phát triển kinh tế, mở mang văn hóa, giáo dục, đàn áp dã man mọi sự phản
kháng, kể cả phản kháng hòa bình nhất. Cho nên không thể sử dụng con
đường hòa bình để giành độc lập dân tộc, mà chỉ có sự lựa chọn duy nhất là
phương pháp bạo động. Ông viết: “Vẫn biết bạo động với tự sát đều là việc
làm của những kẻ kiến thức hẹp hòi, không biết lo xa, nhưng nếu sự thể buộc
tự sát, thà rằng xoay ra bạo động mà chết còn hơn. Vì cứ bạo động may ra còn
21