Tiểu luận môn quản lý nhà nước trên các lĩnh vực trọng yếu QUẢN lý NHÀ nước vẻ CÔNG tác xóa đói GIẢM NGHÈO tại PHƯỜNG mỹ hải, THÀNH PHỐ PHAN RANG THÁP CHÀM - Pdf 42

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VẺ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO TẠI PHƯỜNG MỸ HẢI, THÀNH PHỐ PHAN
RANG - THÁP CHÀM
LỜI NÓI ĐẦU
Cho đến hôm nay, đói nghèo vẫn là nỗi ám ảnh thường trực đối với cả loài
người, thế giới đã chứng kiến những thảm họa của chiến tranh, thảm họa của thiên
tai, dịch bệnh với bao nỗi kinh hoàng. Thế nhưng hậu quả do những nạn đói gây ra
cũng vô cùng khủng khiếp. Điều đáng sợ hơn nữa là: nếu như các cuộc chiến tranh
dù khốc liệt vô cùng nhưng rồi trước sau cũng được giải quyết, nếu như những thảm
họa do thiên tai, dịch bệnh gây ra từng bước cũng sẽ được khắc phục thì vấn đề
nghèo đói của nhân loại lại là một vấn đế vừa cấp bách, vừa phức tạp lại như một
căn bệnh kinh niên khó bề chạy chữa. Đói nghèo là nỗi bất hạnh và là một phi lý
lớn. Trong khi nền văn minh thế giới đã đạt những thành tựu hiển nhiên về tiến bộ
khoa học - công nghệ, làm tăng đáng kể của cải yật chất xã hội, tăng thêm vượt bật
sự giàu có cho con người, thì thảm cảnh đeo đẳng mãi trên lưng con người lại vẫn là
sự nghèo đói. Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới, nền kinh tế nước ta
tăng trưởng nhanh, đại bộ phận đời sống nhân dân đã được nâng lên một cách rõ rệt.
Song, một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt là dân cư vùng cao, vùng sâu, vùng
xa đang còn sông trong cảnh đói nghèo, thiếu thôn về vật chất lẫn tinh thần, chưa
đảm bảo điều kiện tốì thiểu của cuộc sống. Trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế thị
trường với mặt tích cực của nó đã tạo ra sự cạnh tranh, phát triển nội lực các thành
phần kinh tế vươn lên làm giàu, phát triển kinh tế đất nước. Song bên cạnh đó vẫn
còn bộc lộ nhiều hạn chế về cơ hội, sức lao động, trình độ, tạo sự phân hóa giàu
nghèo trong xã hội đã và đang diễn ra rõ nét. Đây là vấn đề xã hội cần đặc biệt quan
tâm.
Là phường được chia tách, thành lập theo Nghị định 08/NĐ - CP của Chính
phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/2008 với sô" hộ nghèo tương đối
cao. Trong những năm gần đây, thiên tai, dịch bệnh, tình trạng thiếu việc làm
xảy ra thường xuyên làm cho đời sông nhân dân khó khăn, ảnh hưởng nguy cơ tái
nghèo cũng như phát sinh nghèo trên toàn phường. Với sự phát triển kinh tế chung


nước ta trong việc phát triển kinh tế xã hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
trong mọi thời kỳ.
Xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu là một chủ trương lớn, là một quyết
sách lổn và nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, chủ trương này được hình
thành từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ngày càng
được hoàn thiện và phát triển hơn.
Trên cơ sở phân tích phát triển kinh tế- xã hội của nước ta. Một nước đi lên
XHCN từ nền nông nghiệp thủ công lạc hậu, sản xuất chủ yếu dựa vào thiên nhiên
khắc nghiệt, lao động việc làm chưa ổn định, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo khá
cao, đốì tượng xã hội cần bảo trợ lớn. Do đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến mức thu
nhập nhân dân tạo ra sự phân hóa không đồng đều trong xã hội.
Do vậy trong công cuộc xây dựng CNXH nước ta, Đảng ta tập trung hướng
vào giải phóng sức sản xuất, giải phóng sức lao động, khơi dậy tiềm năng và tài


năng cá nhân của mỗi cộng đồng dân cư “ nhằm phát triển kinh tế đưa đất nước
thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu” (4).


Trong phát triển kinh tế, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển
văn hóa - xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng tiến bộ xã hội. “ Khuyến
khích làm giàu hợp pháp ” đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo, thu hẹp dần
khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sông giữa các vùng, miền, các dân tộc
và các tầng lớp dân cư. Cùng với quá trình đổi mới, tăng trưởng kinh tế phải thực
hiện công bằng xã hội, tránh sự phân hóa giàu nghèo quá giới hạn cho phép, có
chính sách ưu đãi tạo điều kiện cho người dân phấn đấu trở thành khá, quan tâm xây
dựng đầu tư phát triển cho một sô" vùng sâu, vùng xa. Cùng với quá trình đổi mới,
tăng trưởng kinh tế phải thực hiện công bằng xã hội, tránh sự phân hóa giàu nghèo
quá giới hạn cho phép, có chính sách ưu đãi tạo điều kiện cho dân phấn đấu trở
thành khá - giàu, quan tâm xây dựng đầu tư phát triển cho một sô" vùng sâu, vùng

Vì vậy, có nhiều loại chính sách xã hội cần phải phân chia, song có thể khái
quát lại một sô" nhóm chính sách xã hội sau đây:
' 3.1. Hệ thống chính sách xã hội nhằm tác động, điếu chỉnh cơ cấu xã
hội:
©

Tạo ra sự thống nhất giữa tính ổn định và tính năng động xã hội, góp phần
giảm bớt những xung đột sai lệch xã hội, tạo ra tính tích cực cần thiết cho sự cân
bằng, ổn định và phát triển bến vững xã hội, góp phần phát huy mạnh mẽ nhân tố
con người, kích thích các vùng, khu kinh tế phát triển.
3.2.

Hệ thống chính sách xã hội tác động vào quá trình sản xuất và tái

sản xuất xã hội:
Nhằm tạo nhiều việc làm cũng như điều kiện lao động tốt nhất, thuận lợi nhất
cho người lao động, chính sách xã hội về việc làm hướng vào việc củng cố và hoàn
thiện hệ thống pháp luật... tạo ra hệ thống động lực nhằm khuyến khích tính tích cực
của người lao động, sắp xếp, phân bố, hỗ trợ họp lý người lao động. Mặt khác, cũng
hướng vào mục tiêu như an toàn, an sinh, sức khỏe cho ngưới lao động, cnảm bớt
nhữnơ rủi ro tai nạn trong lao động hay những thiệt hại do những đố vỡ không tránh
khỏi của một số doanh nghiệp do nền kinh tế thị trường gây ra.
3.3.

Nhóm chính sách dân số:

Có thể hiểu chính sách dân số là một hệ thống các biện pháp do nhà nước
tiến hành nhằm đạt được kiểu tái sản xuất dân số phù họp trong tương lai. Với Việt
Nam, chính sách dân số đang cần chú ý cả hai ỉoại: giảm quy mô dân số và tăng
cường chất lượng dân số thực hiện kế hoạch hóa gia đình và các chính sách chăm


3.6. Nhóm chính sách xã hội tác động đên lĩnh vực văn hóa tỉnh thân
Con người không chỉ được đảm bảo về những điều kiện vật chất, việc làm...
mà còn đảm bảo về những nhu cầu văn hóa, tinh thần...Nhóm chính sách xã hội này
bao gồm những chính sách về giáo dục, đào tạo, đào tạo lại, các chính sách nhằm
tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ, phát huy
quyền tự do trao đổi, tiếp nhận thông tin, hưởng thụ những thành tựu về văn hóa,
văn nghệ và nghỉ ngơi, vui chơi giải trí...
Chính sách xã hội có tầm quan trọng vô cùng to lớn trong sự nghiệp phát
triển đất nước, nhất là công tác xóa đói giảm nghèo - giải quyết việc làm; vì thế
Đảng ta đã đề ra các Chỉ thị, Nghị quyết về công tác xóa đói giảm nghèo - giải
quyết việc làm; Nhà nước đã xây dựng các tiêu chuẩn về hộ đói nghèo, xây dựng
các hệ thống chính sách pháp luật để tạo điều kiện cho nhân dân vươn lên làm giàu,
đặt biệt là đề ra chương trình Quốc gia về xóa đói giảm nghèo cho từng giai đoạn
như:
Nghị quyết Hội nghị Trung ương VII đã xác định mục tiêu xóa đói giảm
nghèo là một trong 11 chương trình phát triển kinh tế - xã hội.
Nghị quyết TW lần thứ 4 khóa VII ngày 29/12/1997 đã đề ra các giải pháp
tích cực giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X xác định: Đẩy mạnh xoá đói
giảm nghèo, khuyên khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người
khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn.
Ngày 23/7/1998 Thủ tướng Ghính phủ đã ký quyết định phê duyệt chương

^


trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đớạn 1998 - 2000, nhằm
từng bước thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sông dân cư,
tạo công bằng xã hội, giảm sự cách biệt về phân hóa xã hội. Đồng thời tạo sự phát

Cơ cấu kỉnh tế: theo hướng Thương mại - Dịch vụ; Công nghiệp; Nông
nghiệp.
2o Thực trạng tình hình đói nghèo và nguyên nhân dẫn đến tình trạng
nghèo của phường Mỹ Hải
- Tình hình hộ nghèo:
Chuẩn nghèo giai đoạn 2006 - 2010 được Chính phủ thông qua tại phiên họp
thường kỳ tháng 4/2005.
+ Đốì với khu yực thành thị, những hộ có thu nhập bình quân đầu người
-



-

-

“QLNN vê công tác xóa đỏi giảm nghèo tại phường Mỹ Hải”

-

10

HV:

Đoàn

Hữu

Khuynh


Số
khẩu

Tỷ lệ

2011

92

295

8.1%

54

265

4.7%

2012

91

288

7%

57

249


2015

68

262

4.9%

119

458

8.6%

Cuối

62

4.0%

104

7.5%

năm
2015
- Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo của phường Mỹ Hải:
Ngoài những nguyên nhân chính là điều kiện địa lý, khí hậu khắc nghiệt, còn
có nguyên nhân khác tác động đó là:

hàng chính sách, các cơ quan ban ngành đã giới thiệu, phân loại đối tượng giải ngân
vốn cho hộ nghèo vay để đầu tư sản xuất, kinh doanh dưới các hình thức tín chấp,
quỹ tương trợ. Từ năm 2008 đến nay, phường Mỹ Hải đã tập trung các nguồn vốn
đầu tư cho người nghèo như:
-

Vốn 120: 144 hộ với số tiền: 1.335.000.000đ

-

Vốn XĐGN: 38 hộ với số tiền: 340.000.000đ


Trong đó:
Chương trình cho vay

rr-1 Ầ Ấ 1 A

r^

Tông sô hộ

Sô tiên vay

2
008
Vốn 120
Vốn xóa đói giảm
nghèo


3
1

20
09
5

31
11

0

2
010
75

6
9

5

Đơn vị tỉnh: triệu đồng

-

Đã xét vay nâng vốn cho 41 hộ nghèo với số tiền: 541.000.000đ

-

Đến nay tổng dư nợ toàn phường:

Miễn giảm thuế nhà đất cho 70 hộ nghèo số tiền miễn giảm

1.850.000đ
-

Từ năm 2008 đến nay, ƯBND cùng với UBMTTQ phường tổ chức

triển khai cuộc vận động quỹ Vì người nghèo với số tiền: 26.040.000 đồng.
-

Đã xét và đề nghị 7 đối tượng cải thiện nhà ở, tổng kinh phí thực hiện

79.0. 000đ trong đó:
+ Quỹ người nghèo của tỉnh: 44.000.000đ.
+ Bộ đội biên phòng tỉnh:

15.000.000đ

+ Công ty Lưỡng Bằng:

20.000.000đ

-

Hộ nghèo được cấp thẻ BHYT: 979 thẻ

-

Hỗ trợ khác về chăm sóc sức khoẻ (khám chữa bệnh miễn phí, vận


Đây là vấn đề mà chính quyền và ban ngành đoàn thể hết sức quan tâm.
Hàng năm chính quyền địa phương phối hợp với phòng Lao động thương binh và xã
hội Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Trung tâm tư vấn giới thiệu việc làm tỉnh
Ninh Thuận, trường Trung cấp Nghề... tổ chức tư vấn đào tạo nghề cho số lao động
trong độ tuổi, đặc biệt chú trọng vào các đối tượng lao động nằm trong diện bị thu
hồi đất, lao động là hộ nghèo. Kết quả phần lớn thanh niên trong độ tuổi lao động
chưa định hướng được việc làm cho bản thân, nên không đăng ký tham gia học
nghề theo các nhóm ngành mà các cấp quy định, mà chỉ tập trung đi làm các nghề
dịch vụ như: Thợ sơn, thợ hô, thơ điện, nhân viên bán hàng...
3.3.

Sự phôi kết hỢp hoạt động của các Hội, đoàn thể đã góp phần

tích cực trong việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia Xóa đói giảm


nghèo - giải quyết việc làm trong những năm qua:
-

Mặt trận TỔ quốc phường : Đã vận động đóng góp vào nguồn kinh

phí của đơn vị thông qua cuộc vận động xây dựng Quỹ “ vì người nghèo”, Quỹ
“Đền ơn đáp nghĩa”. Qua 03 năm cùng với nguồn kinh phí cấp trên đã xây dựng
được 11 căn nhà Đại đoàn kết, với tổng kinh phí 45.200.000 đồng.
-

Hoạt động của Hội phụ nữ: Trong những năm qua, Hội Phụ nữ

phường đã vận động được: 925 hội viên (có 48 hội viên nghèo), vận động được:
2.127.500.000 đồng, giúp 121 chị phát triển kinh tế gia đình. Ngoài ra, Hội đã tranh


binh: 32 người. Hội luôn năm bắt diễn biến tình hình đời sông của Hội viên, năm
2008, Hội có 03 hội viên nghèo, đến năm 2010 đã thoát nghèo. Bằng nỗ lực và
truyền thông cách mạng Hội đã vận động các thành viên giúp đỡ nhau để phát triển
kinh tế hộ gia đình. Phối hợp với hội cấp trên giải quyết cho 07 hội viên vay với sô"
tiền: 50 triệu đồng. Ngoài ra hội đã tranh thủ các nguồn vốn khác: 110 triệu, giải
ngân cho 12 hội viên, bình quân mỗi hội viên vay từ 3 - 4 triệu đồng.
-

Hoạt động Hội khuyến học: Hàng năm Hội tặng quà, khen thưởng

kịp thời cho các em học sinh học giỏi nhưng có hoàn cảnh khó khăn, những em đạt
thành tích cao trong học tập. Hội đã hỗ trợ với sô" tiền 9.700.000 đồng cho các em
học sinh nghèo hiếu học.
Ngoài ra các cấp hội đã tổ chức nhiều hình thức họat động thiết thực, động
viên gia đình nghèo khắc phục khó khăn cho các em đi học, góp phần nâng cao
trình độ người lao động, để có nhiều cơ hội tìm việc làm.
* Kết quả: Qua 03 năm tổng sô" tiền Hội đã huy động được 16 triệu đồng.
Hội khuyến học tích cực vận động các em học sinh nghèo cô" gắng học tập để vươn
lên trong cuộc sông.
4. Những mặt hạn chế, nguyên nhân:
Bên cạnh những mặt đạt được, song vẫn còn những hạn chế thiếu sót, cần
khắc phục trong thời gian tới đó là:
-

Công tác thông tin tuyên truyền về chương trình mục tiêu Quốc gia

Xóa đói giảm nghèo - giải quyết việc làm còn nhiều hạn chế; các cá nhân, tập thể
tốt, những mô hình hay chưa được nhân rộng kịp thời; công tác tuyên truyền trên
các phương tiện thông tin đại chúng chưa được quan tâm.


+ Hội viên hội nông dân :

20 hộ chiếm tỷ lệ 1,8 %

+ Hộ nghèo Người cao tuổi làm chủ hộ:

36 hộ chiếm tỷ lệ 3,1 %.

Còn lại: 6 hộ chiếm tỷ lệ 0,5 % không thuộc hội viên của các đoàn thể trên.
- Chỉ tiêu phân bổ hộ thoát nghèo năm 2011 cho từng khu phố như sau:
+ Khu

01

phố 1: + Khu


02

phố 2:

+ Khu


03

+ Khu



+ Nguồn vốn hộ nghèo cho vay: 500 triệu đồng năm.
+ Nguồn vốn vận động tổ chức Doanh nghiệp - Đoàn thể: 10.000.000d
+ Xây dựng quỹ người nghèo: 60.000.000đ
Xây dựng dự án đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn:
-

Dự án đầu tư xây dựng đường bê tông hoá khu phố 2 và 3, trụ sở làm việc Uỷ

ban nhân dân phường bằng nguồn vốn của nhà nước và nhân dân.
Công tác hỗ trợ người nghèo về Y tế:
-

Nắm chắc số lượng hộ nghèo có cơ sở lập danh sách đề nghị trên mua BHYT

100% . Đối với hộ cận nghèo nhà nước hỗ trợ mức phí mua BHYT 50%.
-

Thường xuyên phổ biến yận động số hộ nghèo đi khám và điều trị tại Trạm y

tế phường Mỹ Hải.
Công tác hỗ trợ người nghèo về giáo dục:
-

Thường xuyên tổ chức kiểm tra, rà soát các hộ nghèo có con học các trường

tiểu học, THCS và THPT đề nghị miễm giảm tiền học phí và đóng góp tiền xây dựng trường
lớp.
-

Phối hợp chặt chẽ với Hội khuyến học, tổ chức phát động phong trào khuyến

-

Hỗ trợ giới thiệu dự án vay vốn 120, ưu tiên cho bộ đội xuất ngũ, lao động

thuộc diện hộ cận nghèo, thoát nghèo. Mỗi dự án được vay từ 7 đến 10 triệu đồng/hộ, trong
05 năm giới thiệu 250 dự án.
-

Hỗ trợ vốn XĐGN từ nguồn vốn Ngân hàng chính sách, trung bình từ 5 đến

15 triệu đồng/hộ
2. Gác giải pháp:
2.1. Giải pháp về quản lý điều hành:
-

Tiếp tục quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ X, các

Nghị quyết chuyên đề của Tỉnh và Thành phố về công tác Xóa đói giảm nghèo - Giải quyết
việc làm. Tuyên truyền sâu rộng đến tất cả các ngành, các cấp và các tầng lớp nhân dân về
chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác Xóa đói giảm nghèo - Giải
quyết việc làm, đặt biệt là Quyết định sô" 09/2011/QĐ - TTg ngày 31/01/2011 của Thủ
tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2011- 2015.
-

Củng cô" Ban chỉ đạo Xóa đói giảm nghèo - Giải quyết việc làm của phường;

kế hoạch hóa, cụ thể hóa các chương trình kế hoạch từ Trung ương đến địa phương. Phân
công trách nhiệm thành viên Ban chỉ đạo bám sát địa bàn, hướng dẫn, quan tâm hộ nghèo.
-


TrỢ cấp thường xuyên cho người già, người tàn tật và người cao tuổi trên 85

tuổi. Có kế hoạch đưa người neo đơn, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa vào nuôi dưỡng
tập trung tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh.
-

Tổ chức cứu trợ đột xuất cho hộ nghèo khi xảy ra thiên tai, hoạn nạn.

-

Thực hiện tốt đề án xóa nhà tạm cho người nghèo, phấn đấu mỗi năm đề nghị

trên hỗ trợ xây mới từ 3 - 4 nhà. Phấn đấu đến năm 2015 không còn hộ nghèo ở nhà dột nát.
-

về nhà ở, đất ở: khi bị giải toả đề nghị trên ưu tiên quan tâm đến hộ nghèo về

mọi mặt để hộ nghèo ổn định cuộc sông.
-

Xây dựng kế hoạch đào tạo nghề, tập trung đào tạo những ngành nghề phù

hợp vổi khả năng trình độ người lao động, phù hợp với điều kiện từng địa phương. Đồng
thời xây dựng kế hoạch đào tạo công nhân kỹ thuật đáp ứng yêu cầu sử dụng lao động của
các công ty, xí nghiệp trong các cụm công nghiệp phát triển trong thời gian tđi.
HI/KẾT LUẬN
Chính sách xã hội về vấn đề Xóa đói giảm nghèo - giải quyết việc làm là chủ trương
chính sách lổn của Đảng và Nhà nước nhằm phục vụ cho sự tiến bộ, công bằng xã hội, giảm
bới sự chênh lệch giàu nghèo trong xã hội, tạo sức mạnh đoàn kết vì mục tiêu : “Dân giàu,
nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và vãn minh 55. Trong những năm qua, được sự chỉ

s

NGHÈO CỦA PHƯỜNG MỸ HẢI TỪ NĂM 2011 - 2015ng 09

V
Tra
ng 26

III/ KẾT LUẬN



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status