5
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Hoạt động NCKH và hoạt động đào tạo ở ĐHQS luôn có quan hệ mật
thiết và thâm nhập vào nhau trong quá trình thực hiện sứ mệnh của trường
đại học. Trong quá trình đào tạo, hoạt động NCKH của sinh viên, học viên là
con đường trọng yếu để nâng cao nhận thức, phát triển tư duy và năng lực
sáng tạo của người học, vì vậy nó được coi là kết quả, đồng thời là điều kiện
của dạy học tích cực trong nhà trường.
Các học viện, trường sĩ quan quân đội có nhiệm vụ đào tạo cán bộ lãnh
đạo, chỉ huy các đơn vị có phẩm chất chính trị, có trình độ chuyên môn sâu,
học vấn cao; có năng lực lãnh đạo, chỉ huy và khả năng vận động, thuyết
phục cấp dưới thuộc quyền. Vì vậy ở ĐHQS thường xuyên coi trọng nâng
cao chất lượng dạy học và tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học XH&NV
của học viên. Tác giả công trình nghiên cứu “Quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học XH&NV của học viên ở đại học quân sự” mong muốn sẽ luận giải
được cơ sở khoa học để tổ chức, chỉ đạo, điều hành có kết quả hoạt động đó,
nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ quân đội.
Để đạt được mong muốn nêu trên, luận án tập trung làm rõ các khái
niệm: NCKH, nghiên cứu khoa học XH&NV, quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học XH&NV của học viên ở ĐHQS; tổ chức nghiên cứu thực tiễn
nhằm đi sâu phân tích tình hình, thực trạng hoạt động nghiên cứu và quản lý
hoạt động nghiên cứu khoa học XH&NV của học viên. Trên cơ sở đó để đề
xuất phương hướng, biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
XH&NV của học viên ở ĐHQS.
2. Lý do lựa chọn đề tài
Luật Giáo dục đại học số 08/2012/QH13 được Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 18 tháng 6 năm
6
GD&ĐT với nghiên cứu khoa học… Quan tâm và đầu tư thích đáng cho hoạt
động nghiên cứu khoa học của học viên ở tất cả các cấp, nhất là học viên đào
tạo cấp phân đội trình độ đại học. Tổ chức và duy trì có hiệu quả Phong trào
Tuổi trẻ sáng tạo ở các học viện, trường” [16, tr.48 - 49]. Thực hiện chiến
lược đó, các nhà trường ĐHQS đã đẩy mạnh việc kết hợp giữa dạy học và
định hướng, bồi dưỡng cho học viên nghiên cứu khoa học. Nhiều học viên ở
ĐHQS đã có những công trình, đề tài khoa học, sáng kiến kinh nghiệm tham
gia giải thưởng “Tuổi trẻ sáng tạo” trong quân đội và giải thưởng khoa học
trẻ Vifotex... Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu khoa học XH&NV của học
viên ở ĐHQS thời gian vừa qua còn có những hạn chế cần khắc phục đó là:
số lượng đề tài, chuyên đề tuy tăng lên nhưng chất lượng chưa cao, cá biệt
còn có biểu hiện trùng lặp, sao chép và ít được ứng dụng triển khai trong
thực tiễn. Một trong những nguyên nhân của những hạn chế trên là do công
tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học XH&NV của học viên ở ĐHQS
còn bất cập.
Trong thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về hoạt
động nghiên cứu khoa học và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, trong
đó có một số công trình bàn về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
XH&NV trong quân đội, nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về
quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học XH&NV của học viên ở ĐHQS.
Xuất phát từ những lý do trên đây, NCS lựa chọn vấn đề: “Quản lý hoạt
động nghiên cứu khoa học XH&NV của học viên ở đại học quân sự” làm đề
tài luận án của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất phương hướng, biện pháp
quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học XH&NV của học viên, góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo ở ĐHQS hiện nay.
9
trách nhiệm của các lực lượng sư phạm; kế hoạch hóa hoạt động nghiên cứu
khoa học XH&NV của học viên; hoàn thiện và thực hiện nghiêm quy trình
triển khai nghiên cứu; phát triển các nguồn lực về thông tin, tư liệu, cơ sở vật
chất - kỹ thuật và tài chính; ban hành các quy định khuyến khích học viên
nghiên cứu khoa học; tăng cường kiểm tra, đánh giá, phổ biến và ứng dụng
kết quả nghiên cứu thì sẽ quản lý chặt chẽ được hoạt động nghiên cứu khoa
học XH&NV của học viên ở ĐHQS.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở tiếp cận từ thực tiễn hoạt động
nghiên cứu khoa học XH&NV của học viên ở ĐHQS và phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ,
đồng thời vận dụng các quan điểm hệ thống - cấu trúc, lịch sử - lôgic và thực
tiễn trong xem xét, giải quyết vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
XH&NV của học viên.
Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của khoa học quản lý giáo dục, giáo
dục học, tâm lý học về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học XH&NV của
học viên, sinh viên.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học
chuyên ngành, bao gồm các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
* Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá các văn bản quản lý giáo dục, quản
lý khoa học và các công trình khoa học về quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học của học viên, sinh viên.
Để đạt được mục đích nghiên cứu và thực hiện các nhiệm vụ của đề tài,
chúng tôi tập trung nghiên cứu các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết,... của Đảng,
Trường Sĩ quan Lục quân 1.
11
+ Phương pháp quan sát sư phạm
Tiến hành quan sát tại Học viện Chính trị, Trường Sĩ quan Chính trị,
Trường Sĩ quan Lục quân 1 về các hoạt động chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, đánh
giá, xếp loại các công trình khoa học XH&NV của học viên, cũng như các hình
thức sinh hoạt khoa học của học viên về các chủ đề khoa học XH&NV.
+ Phương pháp phân tích nhận định độc lập
Phân tích, tổng hợp các nhận định từ nhiều nguồn tài liệu, chủ yếu là
nhận định của Cục Khoa học quân sự Bộ Quốc phòng và của Ban Thanh
niên quân đội, Học viện Chính trị, Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan
Lục quân 1 về các vấn đề có liên quan đến công tác quản lý hoạt động
nghiên cứu khoa học XH&NV của học viên ĐHQS.
+ Phương pháp xin ý kiến chuyên gia
- Xin ý kiến của các cán bộ quản lý, nhà khoa học và và giảng viên Học viện
Chính trị, Trường Sĩ quan Chính trị nhằm xác định tính khả thi của các biện pháp
quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học XH&NV của học viên ở ĐHQS.
+ Phương pháp thử nghiệm
Tổ chức thử nghiệm có đối chứng về một số biện pháp cơ bản mà luận
án đã đề xuất tại Trường Sĩ quan Chính trị với sự tham gia của 92 học viên
(45 học viên thử nghiệm, 47 học viên đối chứng).
* Phương pháp thống kê toán học
Trong quá trình nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê toán học để
xử lý số liệu làm minh chứng cho những nhận định, đánh giá của đề tài và
thử nghiệm các giải pháp được đề xuất.
6. Đóng góp mới của luận án
- Luận án góp phần làm rõ khái niệm quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học XH&NV của học viên ở ĐHQS.
Quản lý hoạt động NCKH nói chung, hoạt động NCKH của sinh viên
các trường đại học nói riêng là vấn đề được các nhà giáo, nhà khoa học,
chuyên gia quản lý giáo dục quan tâm nghiên cứu với những phương pháp
tiếp cận khác nhau. Điều đó có thể nhận thấy qua tổng quan về vấn đề nghiên
cứu được nêu dưới đây.
1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Hướng nghiên cứu về quan hệ giữa hoạt động dạy học và hoạt động
nghiên cứu khoa học trong quá trình đào tạo
Trong buổi sơ khai của xã hội loài người, những khái niệm về khoa học,
NCKH còn khá xa lạ. Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại,
nhu cầu tìm hiểu, khám phá thế giới của con người xuất hiện và không
ngừng tăng lên. Nếu như khởi thuỷ, khoa học chỉ là mối quan tâm mang tính
cá nhân của những thiên tài, NCKH chỉ là công việc của số ít những nhà
thông thái, có tài năng thiên bẩm thì ngày nay khoa học đã trở thành một lĩnh
vực hoạt động được xã hội hoá cao, với sự tham gia của rất nhiều người, trên
nhiều lĩnh vực, trong đó có cả những NCKH trong các nhà trường.
Ngay từ thế kỷ thứ XVII, nhà giáo dục người Tiệp Khắc J. A.
Kômenxki (1592 - 1670) đã nêu ra vấn đề “Ban giám hiệu và thanh tra nhà
trường có thể kích thích lòng ham học của học sinh bằng cách trực tiếp
tham gia vào các hoạt động chung của lớp, chẳng hạn các buổi thảo luận
chuyên đề... một hình thức nữa là tăng cường khen thưởng” [22, tr.89].
Các nhà giáo dục khác thế kỷ XVIII - XIX như: Pétxtalôdi (Thuỵ sĩ 1746 1827), Đixtécvéc (Đức, 1790 - 1866), Usinxki (Nga, 1824 - 1870 cũng đã
nhấn mạnh sự cần thiết phải khuyến khích và tạo điều kiện để người học
chiếm lĩnh tri thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi nghiên cứu.
Như vậy, các nhà giáo dục nêu trên rất coi trọng dạy học tích cực, dạy
học mang tính chất NCKH.
14
Bàn về mối quan hệ giữa giáo viên và sinh viên trong dạy học tích cực
Trong công trình vừa nêu, các tác giả cho rằng, ở các trường đại học Hoa
Kỳ giảng dạy và NCKH được tiến hành đồng thời. Để thiết lập và tăng cường
mối liên hệ NCKH và đào tạo, phần lớn các đề tài nghiên cứu của trường đại
học được tài trợ về kinh phí nhằm tạo điều kiện thuận lợi giúp cho giảng viên
hướng dẫn sinh viên giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, hỗ trợ sinh viên,
nghiên cứu sinh tiến hành các thí nghiệm. Tổ chức hệ thống NCKH ở Hoa Kỳ
rất rộng, từ các tổ chức của chính phủ, của liên bang, các bang, của các ngành
công nghiệp đến các tổ chức phi lợi nhuận và các trường đại học. Trong số đó,
các trường đại học luôn được ưu tiên đầu tư kinh phí cho các nghiên cứu cơ bản
chất lượng cao (High - Quality basic researchs).
Ở Việt Nam cũng có khá nhiều tác giả đề cập tới vấn đề quan hệ giữa
hoạt động dạy học và hoạt động NCKH, trong đó có thể kể đến các nhà khoa
học như Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường... Trong
cuốn sách "Quá trình dạy tự học” các tác giả đã bàn về mối quan hệ giữa
truyền thụ kiến thức và bồi dưỡng cho người học phương pháp, kỹ năng
nghiên cứu trong quá trình lĩnh hội [87]. Tác giả Lê Khánh Bằng khẳng định:
“Để tạo ra sự chuyển biến từ lối học tập thụ động sang tự học chủ động, cần
làm cho sinh viên có ý thức chủ động học tập; cần phải bồi dưỡng cho họ
năng lực chủ động học tập bằng cách rèn luyện 4 kỹ năng cơ bản: Kỹ năng
định hướng trong học tập; kỹ năng thiết kế kế hoạch học tập; kỹ năng thực
hiện kế hoạch đã vạch ra; kỹ năng tự kiểm tra quá trình học tập của bản
thân…” [87, tr.115]. Các giáo trình “Phương pháp luận về nghiên cứu khoa
học” của các tác giả Thái Duy Tuyên (1997), Lưu Xuân Mới (2000), Phạm
Viết Vượng (2012)..., trên cơ sở cung cấp những tri thức về phương pháp
luận nghiên cứu khoa học đã chỉ ra cho người học yêu cầu và cách thức tự tổ
chức, rèn luyện, thực hành tập dượt nghiên cứu khoa học có hiệu quả. Trong
bài viết “Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên” tác giả Nguyễn
Thạc cho rằng: công tác NCKH của sinh viên là phương pháp có hiệu quả
17
giảng viên tâm huyết; sự phối hợp giữa các phòng, khoa; làm tốt công tác
bảo đảm; trang bị phương pháp NCKH cho sinh viên [84, tr.34-35].
Theo lý luận giáo dục hiện đại, nghiên cứu khoa học của người học là
cách học sáng tạo ở bậc đại học, là con đường rèn luyện tư duy, tính độc lập
suy nghĩ của người học, góp phần chuyển hóa quá trình đào tạo thành quá
trình tự đào tạo. Nghiên cứu khoa học của người học là bước đầu vận dụng
một cách tổng hợp những tri thức đã lĩnh hội để tiến hành hoạt động nhận
thức có tính chất nghiên cứu, góp phần giải quyết những vấn đề khoa học do
đời sống thực tiễn đặt ra.
* Hướng nghiên cứu về vấn đề nghiên cứu khoa học và quản lý hoạt
động nghiên cứu khoa học của sinh viên
- Về vấn đề nghiên cứu khoa học của sinh viên đại học
Đề cập tới các hình thức NCKH của sinh viên, tác giả Zinôviev trong
tác phẩm: Quá trình dạy học ở trường đại học Xôviết, đã viết: “Khoá luận tốt
nghiệp là một công trình nghiên cứu khoa học độc lập, độc đáo của sinh
viên”. Cũng theo tác giả khi thực hiện niên luận, khoá luận thì mức độ độc
lập và tập dượt NCKH của sinh viên được nâng dần lên qua đó giúp họ có
những quan điểm, thái độ đối với những tác phẩm khoa học và những phẩm
chất, năng lực của người NCKH cũng được hình thành. Mặt khác để sinh
viên thành công trong NCKH, tác giả cũng quan tâm đến các vấn đề giúp họ
giải quyết khó khăn khi chọn đề tài, xây dựng cấu trúc của công trình nghiên
cứu. Ngoài ra tác giả còn đề cập tới phương pháp quản lý, hướng dẫn sinh
viên trong việc NCKH có hiệu quả, đó là, phải tổ chức, tạo mọi điều kiện cần
thiết để sinh viên thể hiện tính tích cực, độc lập ở mức độ cao nhất. Giảng
viên chỉ giữ vai trò định hướng, tổ chức, theo dõi và giám sát sinh viên
NCKH, qua đó giúp họ đạt tới mục đích, yêu cầu đã đặt ra [102, tr. 86].
Trong công trình nghiên cứu “The managetment of astudent research
profect - Singapo” các tác giả Rieth Howard và John A. Sharp đã nghiên cứu
19
và phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục” của tác giả Trần Khánh
Đức [38]; “Đại cương về khoa học quản lý và quản lý giáo dục” của hai
tác giả Trần Kiểm và Nguyễn Xuân Thức [57]...
Trong cuốn “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của Vũ Cao
Đàm được NXB Giáo dục ấn hành năm 2010, tác giả đã mang đến cho người
đọc những hiểu biết về những vấn đề cơ bản như: “Khoa học là gì”, trình tự
lôgíc trong NCKH, các phương pháp thu thập và xử lí thông tin, những cơ sở
của đạo đức khoa học. Theo tác giả, trong NCKH bất kể là nghiên cứu khoa
học tự nhiên hay KH XH&NV, khoa học công nghệ thì đều phải tuân thủ
theo một trật tự lôgíc xác định, bao gồm các bước đó là:
1. Lựa chọn chủ đề (topic) nghiên cứu và đặt tên của đề tài
2. Xác định mục tiêu (Obijective) nghiên cứu
3. Đặt câu hỏi (Question) nghiên cứu
4. Đưa luận điểm, giả thuyết (Hypothesis)
5. Nêu các luận cứ (evedence) để chứng minh giả thuyết
6. Lựa chọn các phương pháp (methods) chứng minh giả
thuyết [25, tr.47].
Cùng với việc giúp người học, người nghiên cứu xây dựng trình tự lôgíc
của NCKH tác giả đã hướng dẫn cách xử lí thông tin; cách trình bày các luận
điểm khoa học, phương pháp tổ chức thực hiện đề tài. Đặc biệt tác giả đã
quan tâm tới vấn đề đạo đức khoa học, ông cho rằng, dù bất cứ lĩnh vực hoạt
động nào trong xã hội cũng cần có những chuẩn mực đạo đức, người làm
khoa học càng phải đề cao những chuẩn mực đạo đức, đó là: tính cộng đồng,
tính phổ biến, tính không vi lợi, tính độc đáo, tính hoài nghi. Các chuẩn mực
này được viết tắt là CUDOS, đã trở thành tên gọi chung cho chuẩn mực đạo
đức khoa học của cộng đồng khoa học trên thế giới [25, tr.135].
Tác giả Lê Thạc Cán cùng các cộng sự ở Viện Nghiên cứu Đại học và
đề xuất một số biện pháp tăng cường NCKH của giảng viên, bao gồm: Nâng
cao nhận thức cho đội ngũ giảng viên về NCKH; Các hoạt động nghiên cứu
21
khoa học phải bám sát nhiệm vụ giáo dục đào tạo và NCKH của các học viện,
trường đại học công an nhân dân; Xây dựng đội ngũ giảng viên có trình độ
chuyên môn giỏi, có kiến thức về NCKH và say mê nghiên cứu khoa học;
Tăng cường công tác lưu trữ, thông tin khoa học và áp dụng kết quả NCKH
vào trong giảng dạy [54, tr.49-50].
Đề tài “Phát triển năng lực NCKH cho sinh viên Học viện quản lý giáo
dục” của tác giả Ngô Viết Sơn đã khẳng định: NCKH là một hình thức tổ
chức dạy học bắt buộc ở bậc đại học, với hình thức nghiên cứu khoa học sinh
viên bước đầu nhận thức những vấn đề mà xã hội đặt ra, đòi hỏi phải được
giải quyết, thông qua đó sinh viên rèn luyện được khả năng tư duy sáng tạo,
từng bước hình thành những tố chất của người lao động tri thức [78, tr.22].
Theo tác giả, thời gian qua Học viện Quản lý giáo dục đã quan tâm bồi
dưỡng năng lực NCKH cho sinh viên, tuy nhiên kết quả thu lại chưa được
như mong đợi. Điều đó thể hiện ở chỗ: một bộ phận lớn sinh viên còn bỡ ngỡ
và thờ ơ với các đề tài nghiên cứu; các khoa chưa sát sao, quan tâm đến hoạt
động NCKH của sinh viên; các môn học trong nhà trường nhiều nhưng môn
học thuộc lĩnh vực nghiên cứu lại ít và thời lượng không đủ cho sinh viên rèn
luyện hoàn thiện kỹ năng... Từ đó tác giả đề xuất hệ thống biện pháp nâng
cao năng lực NCKH cho sinh viên Học viện Quản lý giáo dục hiện nay.
- Về vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Trong công trình nghiên cứu: “Quản lý công tác nghiên cứu khoa học”
(năm 1983), K.Bexle, E.deisen, Xlasinxki, do Nguyễn Lân dịch từ bản tiếng
Nga, Nguyễn Xuân Khoa hiệu đính, đã chỉ ra rằng: Trong trường đại học,
hoạt động NCKH của sinh viên cần nhận được sự quan tâm sâu sắc của các
cấp quản lý từ cấp vĩ mô đến cấp vi mô trên các nội dung chủ yếu như sau:
nghiên cứu khoa học của sinh viên các trường đại học” của tác giả Trần Thị
Ninh Giang [40]; Đề tài “Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho sinh
viên Học viện quản lý giáo dục” của tác giả Ngô Viết Sơn [78]; Đề tài
“Nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động
23
khoa học và công nghệ, lao động trong nhà trường” của tác giả Vũ Tiến
Thành; Đề tài cấp Bộ “Điều tra đánh giá hiện trạng, tiềm lực khoa học và
công nghệ của các trường đại học và cao đẳng Việt Nam” của tác giả Thân
Đức Hiền...
Trong cuốn “Đại cương về khoa học quản lý và quản lý giáo dục”, tác
giả Trần Kiểm và Nguyễn Xuân Thức đã khẳng định “Quản lý là một khoa
học”. Với quan niệm như vây, các tác giả đã khái quát những vấn đề chung
về quản lý; quản lý giáo dục và chỉ rõ các chức năng quản lý bao gồm:
- Chức năng kế hoạch hoá;
- Chức năng tổ chức;
- Chức năng chỉ đạo thực hiện;
- Chức năng kiểm tra trong quản lý giáo dục.
Bên cạnh đó, các tác giả đã xác định hệ thống nguyên tắc quản lý giáo
dục như: nhóm những nguyên tắc chính trị xã hội; nhóm những nguyên tắc
về hoạt động quản lý giáo dục; nhóm những nguyên tắc về hoạt động quản lý
giáo dục [57, tr.58].
Trong cuốn sách “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ
XXI” xuất bản năm 2014, tác giả Trần Khánh Đức đã dành một chương (hơn
100 trang) để viết về hoạt động NCKH và quản lý hoạt động này. Tác giả đã
chỉ ra các đặc trưng của hoạt động NCKH và công nghệ, các phương pháp
NCKH giáo dục; đánh giá trong NCKH; kinh nghiệm quốc tế về hoạt động
nghiên cứu triển khai. Đồng thời tác giả cũng đã có những chỉ dẫn cần thiết
về xây dựng đề cương NCKH giáo dục. Trong công trình nghiên cứu này,
quản lý chất lượng tổng thể, đó là xây dựng mô hình cấu trúc chức năng
quản lý hoạt động NCKH ở đại học đa ngành đa lĩnh vực. Trên cơ sở nghiên
cứu đánh giá thực trạng mô hình và quy trình quản lý NCKH, qui trình quản
lý đề tài, quản lý nguồn nhân lực... tác giả đề xuất mô hình quản lý và 4
nhóm giải pháp theo các mặt: tổ chức, chính sách, tăng cường quản lý chất
25
lượng và phát triển nguồn nhân lực quản lý. Kết quả nghiên cứu của tác giả
cho thấy việc vận dụng mô hình quản lý hoạt động NCKH ở đại học đa
ngành, đa lĩnh vực theo quan điểm quản lý chất lượng tổng thể là phù hợp
[23, tr.68].
Đề tài“Thực trạng và giải pháp cải tiến công tác quản lý hoạt động
nghiên cứu khoa học của sinh viên các trường đại học” của Viện Chiến lược
và Chương trình giáo dục, với mã số B2003-52-31 được hoàn thành năm
2006, do tác giả Trần Thị Ninh Giang làm chủ nhiệm. Các tác giả của đề tài
đã tập hợp kinh nghiệm quốc tế về quản lý hoạt động NCKH trong các nhà
trường đại học gồm: Kinh nghiệm của các nước thuộc Liên Xô (cũ); Mông
Cổ; Cộng hoà Dân chủ Đức; Cu Ba; Trung Quốc; Nhật Bản... Trên cơ sở
kinh nghiệm đó, các tác giả đã xây dựng hệ thống lí thuyết; đánh giá thực
trạng, đề xuất hệ thống biện pháp quản lý hoạt động NCKH của sinh viên
các trường đại học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay [40, tr.31].
Ngoài các công trình khoa học nêu trên còn có một số tác giả và công
trình trong nước nghiên cứu và khẳng định vai trò của hoạt động NCKH và
quản lý hoạt động NCKH như: Đề tài “Một số biện pháp cải tiến công tác
quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trường Cao đẳng Sư
phạm Nghệ An” (2006) của Trần Văn Phước; “Một số biện pháp quản lý
hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm
Điện Biên”(2007) của Lê Thị Tuyết; “Một số biện pháp quản lý hoạt động
nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Cao đẳng Sơn La” (2009) của
Trong những năm gần đây, Tạp chí Giáo dục đã công bố kết quả
nghiên cứu của khá nhiều tác giả về hoạt động nghiên cứu khoa học và
quản lý hoạt động NCKH với các góc độ tiếp cận khác nhau như: Bài viết
“Thực trạng và biện pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của
giảng viên trường cao đẳng nghề du lịch - thương mại Nghệ An” của tác
giả Đậu Chính Nghĩa [71], bài viết “Bồi dưỡng kỹ năng nghiên cứu khoa
học cho cán bộ trẻ trường Đại học Sư phạm Hà Nội” của tác giả Cao
27
Tuấn Anh [1], bài viết “Tăng cường biện pháp quản lý đẩy mạnh hoạt
động nghiên cứu khoa học của sinh viên trong các trường đại học” của
tác giả Nguyễn Quang Giao [41]; bài viết “Hoạt động nghiên cứu khoa
học của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội” của tác giả Nguyễn
Thị Tâm [81], bài viết “Phân tích dữ liệu bước quan trọng trong nghiên
cứu khao học” của tác giả Ngô Viết Sơn [79], bài viết “Một số giải pháp
nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn của GV các
trường đại học hiện nay” của tác giả Mai Văn Hoá [49], bài viết “Phát
triển kỹ năng NCKH của sinh viên trường Đại học Hồng Đức” của tác giả
Dương Thị Thoan [86]...
Trong bài viết “Tăng cường biện pháp quản lý đẩy mạnh hoạt động
nghiên cứu khoa học của sinh viên trong các trường đại học” tác giả Nguyễn
Quang Giao đánh giá: Công tác NCKH của sinh viên thời gian qua ở các
trường đại học đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên so với yêu cầu
đặt ra vẫn còn nhiều bất cập như: Các công trình nghiên cứu còn hạn chế về số
và chất lượng, một số sinh viên thực hiện đề tài còn chiếu lệ, chưa nắm chắc
phương pháp luận NCKH, còn lúng túng khi vận dụng các phương pháp vào
thực tiễn nghiên cứu... Để khắc phục những hạn chế đó, tác giả đề xuất áp dụng
một số biện pháp như: Nâng cao nhận thức của sinh viên về vai trò quan trọng
của hoạt động nghiên cứu khoa học; Xây dựng kế hoạch NCKH toàn khoá cho
* Hướng nghiên cứu về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học xã
hội và nhân văn ở đại học quân sự
Trong lĩnh vực quân sự đã có nhiều công trình khoa học đề cập đến tổ
chức hoạt động NCKH của học viên như là một trong những nhiệm vụ quan
trọng của đổi mới phương pháp dạy học ở các học viện, NTQĐ. Bởi vì, tổ
chức hoạt động NCKH cho học viên là điều kiện cần thiết để nâng cao kỹ
năng nghề nghiệp trong quá trình đào tạo, đồng thời là một trong những hình
thức tổ chức dạy học có hiệu quả về phát triển tư duy sáng tạo, tính độc lập
suy nghĩ và chủ động học tập, nghiên cứu của người học. Nhận thức được
29
vai trò to lớn của NCKH trong đào tạo ở ĐHQS, nhiều nhà khoa học đã dành
sự quan tâm đến vấn đề tổ chức, quản lý hoạt động này của học viên, tiêu
biểu là các tác giả: Lê Minh Vụ với công trình “Tổ chức quá trình dạy học
các môn KH XH&NV các trường ĐHQS” [100], Trương Thành Trung với
công trình “Nâng cao hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học xã
hội và nhân văn quân sự hiện nay” [92], Phạm Văn Nhuận với công trình
“Nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn trong Quân đội
nhân dân Việt Nam” [72], Vũ Quang Lộc với công trình “Mối quan hệ giữa
nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học XH&NV ở ĐHQS”
[61], Vũ Quang Đạo với công trình “Các giải pháp đẩy mạnh nghiên cứu
khoa học của học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Học viện
Chính trị quân sự hiện nay” [33], Nguyễn Thanh Bình với công trình “Nâng
cao chất lượng nghiên cứu khoa học của học viên ở Học viện Chính trị hiện
nay” [9], Nguyễn Phương Đông với công trình “Xây dựng đội ngũ cán bộ
khoa học ở Học viện Chính trị hiện nay” [36]...
Tác giả Lê Minh Vụ với công trình“Tổ chức quá trình dạy học các môn
KH XH&NV ở đại học quân sự” đã đề cập những vấn đề cơ bản về lý luận,
thực tiễn tổ chức quá trình dạy - học các môn khoa học xã hội nhân văn ở