VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM PHƯƠNG NGỌC
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI
ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI TRÊN QUAN ĐIỂM PHÁT
TRIỂN CON NGƯỜI
Chuyên ngành: Phát triển con người
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội.
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. ĐỖ HOÀI NAM
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Anh Tuấn
Phản biện 2: PGS.TS. Vũ Tuấn Huy
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học viện Khoa học Xã hội vào lúc:
.... giờ, ngày .... tháng .... năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học viện khoa học xã hội
của triết lý con người chiếm vị thế trung tâm trong sự phát triển của
UNDP được hiểu rất cụ thể. Trung tâm, nghĩa là con người đóng vai
trò quyết định trong toàn bộ quá trình phát triển.
Cùng với những chuyển đổi to lớn và sâu sắc của nền kinh tế và
xã hội đất nước ta, ngành Y tế không chỉ thụ hưởng những thành tựu
chung của đất nước mà còn tạo ra những dấu ấn sâu đậm trong lĩnh
vực đào tạo NNL y tế nói chung và nhân lực dược nói riêng, nhằm
thực hiện chiến lược bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân
dân. Việt Nam trở thành nước có số BS và DS trên đầu dân cao hơn
nhiều nước có số thu nhập trung bình cao hơn Việt Nam nhiều lần.
1
Trong thập kỷ qua, có sự thay đổi to lớn trong việc hành nghề
dược trên toàn thế giới. Do đó, nhu cầu về đào tạo và sử dụng nhân
lực dược không ngừng gia tăng bởi số lượng thuốc mới, nhu cầu
chăm sóc sức khoẻ người dân ngày một cao. Nhân lực dược là xương
sống của ngành dược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì vậy, việc đào
tạo và sử dụng nhân lực dược phải đáp ứng nhu cầu của hiện tại và
tương lai vì sự phát triển liên tục của ngành nghề.
Trường ĐHDHN có sứ mạng đi tiên phong trong việc đào tạo
đội ngũ cán bộ Dược cho ngành y tế Việt Nam đặc biệt là đào tạo đội
ngũ chuyên gia có trình độ cao ngang tầm khu vực và thế giới.
Trường là một trong những trung tâm hàng đầu của cả nước về
nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, là đầu mối
giao lưu quốc tế trong lĩnh vực đào tạo và NCKH của ngành Dược.
Đất nước trong thời kỳ phát triển và hội nhập đang đặt ra nhiều
yêu cầu mới về chất lượng của đội ngũ ngành y tế nói chung, ngành
dược nói riêng. Một câu hỏi được đặt ra là: Để đáp ứng được những
đòi hỏi trong sự nghiệp phát triển của đất nước và của ngành, trường
hướng tới NNL y tế nói chung trong đó có đề cập nhân lực dược.
Các nghiên cứu phần nào chỉ ra các điểm mạnh, yếu trong chất
lượng NNL y tế. Tuy nhiên, các nghiên cứu không đề cập nhiều đến
chất lượng đào tạo NNL, cũng như chưa có nghiên cứu nào về chất
lượng đào tạo NNL trên quan điểm PTCN.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn thực trạng
chất lượng đào tạo NNL dược trên quan điểm PTCN, Luận văn đề
xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đào tạo NNL cho
Trường ĐHDHN.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
• Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về NNL, chỉ tiêu
đánh giá và những yếu tố ảnh hưởng trên quan điểm PTCN.
• Phân tích thực trạng đào tạo NNL Trường ĐHDHN so với
nhu cầu thực tế và mục tiêu phát triển của trường; nguyên nhân tác
động đến thực trạng đó.
• Đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo NNL tại nhà trường trên quan điểm PTCN.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu vấn đề chất lượng đào
tạo NNL tại Trường ĐHDHN trên quan điểm PTCN
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu và sử dụng dữ liệu trong giai
đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 để minh họa, đánh giá và phân tích
trong quá trình nghiên cứu, từ đó đưa ra các giải pháp cho giai đoạn
2016-2020
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận:
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận: nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại
ĐHDHN trên quan điểm phát triển con người
Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng
đào tạo nguồn nhân lực của trường ĐHDHN trong giai đoạn 20162020 trên quan điểm phát triển con người.
4
Chương 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐẦO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRÊN QUAN ĐIỂM PTCN
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Phát triển con người
Ở Việt Nam, PTCN cũng từ lâu đã được biết tới như là một khái
niệm rất cơ bản trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" nổi tiếng.
Nhưng khái niệm PTCN như hiện tại đang được sử dụng phổ biến ở
các quốc gia thành viên của tổ chức Liên hiệp quốc, thì chỉ mới xuất
hiện cùng với Báo cáo PTCN năm 1990 với tuyên ngôn đầy ấn tượng
của nó: “Của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc
gia đó. Và mục đích của phát triển là để tạo ra một môi trường thuận
lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống dài lâu, khoẻ mạnh và
sáng tạo. Chân lý giản đơn nhưng đầy sức mạnh này rất hay bị người
ta quên mất trong lúc theo đuổi của cải vật chất và tài chính” .
Khái niệm PTCN về cơ bản theo triết lí phát triển vì con người
nhưng có nhiều sự biến đổi qua thời gian. Các vấn đề đặt ra trong
việc tìm hiểu về khái niệm này có thể là việc tìm ra mối liên hệ giữa
khái niệm PTCN với các khái niệm khác như: quyền con người, an
ninh con người, mục tiêu thiên niên kỉ, mối quan hệ giữa PTCN và
tăng trưởng kinh tế, hay PTCN và hạnh phúc.
Ở Việt Nam, vấn đề con người đã được quan tâm từ khá lâu, tuy
yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu
kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử
và văn hoá.
Như vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người
không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn
bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân
trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng
đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội.
1.1.2.2. Nguồn nhân lực y tế
NNL trong lĩnh vực y tế có thể được định nghĩa là tổng thể đội
ngũ nhân viên lâm sàng và phi lâm sàng ở các vị trí công việc cần
thiết khác nhau chịu trách nhiệm can thiệp sức khỏe cá nhân và cộng
đồng dân cư. NNL là yếu tố quan trọng nhất của đầu vào hệ thống
sức khỏe, hiệu quả và những lợi ích mà hệ thống có thể cung cấp phụ
thuộc rất nhiều vào kiến thức, kỹ năng và động lực của những cá
nhân chịu trách nhiệm về cung cấp dịch vụ y tế.
Nhân lực y tế không chỉ là cán bộ chuyên môn y dược mà gồm
cả đội ngũ kỹ sư, cử nhân, kỹ thuật viên và công nhân lành nghề đang
tham gia phục vụ công tác y tế ở tất cả các tuyến từ trung ương đến
tuyến y tế cơ sở.
1.1.2.3. Nguồn nhân lực dược
Nhân lực dược là một bộ phận của nhân lực y tế, là những người
được đào tạo kiến thức cơ bản về dược, làm việc trong các cơ sở liên
quan đến sản xuất, đảm bảo chất lượng, cung ứng, phân phối và tư
vấn hướng dẫn sử dụng thuốc.
6
1.1.3. Đào tạo nguồn nhân lực y tế
phẩm là “Con người lao động”, có thể hiểu là kết quả (đầu ra) của
quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị
nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người
tốt nghiệp, tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo
trong hệ thống đào tạo đại học. Chất lượng đào tạo NNL là một khái
niệm gây nhiều tranh cãi. Nguyên nhân bắt nguồn từ nội hàm phức
tạp của khái niệm “Chất lượng” với sự trừu tượng và tính đa diện, đa
7
chiều của khái niệm này. Do vậy không thể nói đến chất lượng như
một khái niệm nhất thể, chất lượng cần được xác định kèm theo mục
tiêu hay ý nghĩa của nó. Điều này đặt ra một yêu cầu phải xây dựng
một hệ thống rõ ràng, mạch lạc các tiêu chí với những chỉ số được
lượng hóa, nêu rõ các phương thức đảm bảo chất lượng và quản lý
chất lượng sẽ được sử dụng trong và ngoài giáo dục ĐH. Trong xu
thế hội nhập và phát triển hiện nay, chất lượng đào tạo NNL dịch
chuyển từ đảm bảo chất lượng tiến dần sang chất lượng thỏa mãn nhu
cầu của khách hàng và thông qua khách hàng (được hiểu theo nghĩa
rộng nhất chính là những người sử dụng sản phẩm đào tạo).
Chất lượng NNL y tế là trạng thái nhất định của NNL y và dược
thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên
trong của NNL y tế. Chất lượng NNL không những chỉ là chỉ tiêu
phản ánh trình độ phát triển kinh tế nói chung và ngành y tế nói
riêng, mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển của đời sống
văn hóa và xã hội của đất nước và của người dân trong lĩnh vực y tế
và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Chất lượng NNL cao sẽ tạo ra
động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ làm một nguồn lực của
sự phát triển, mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất
định.
Nâng cao chất lượng NNL của ngành y tế là tạo ra tiềm năng
sáng tạo, chuyên nghiệp và hiện đại của những con người làm việc
trong lĩnh vực y và dược thông qua đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng
và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác
tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao động thông qua việc
tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện về môi trường làm việc (phương
tiện lao động có hiệu quả và các chế độ chính sách hợp lý,…) môi
trường văn hóa, xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của NLĐ,
để họ mang hết sức mình hoàn thành các chức trách, nhiệm vụ được
giao.
Từ những luận điểm trên có thể hiểu,"Nâng cao chất lượng NNL
trong ngành y tế chính là nâng cao mức độ đáp ứng yêu cầu công
việc của NLĐ trên các phương diện: thể lực, trí lực và tâm lực,…
nhằm đạt được mục tiêu chung của ngành”.
Với cách tiếp cận con người là mục tiêu của sự phát triển chứ
không phải chỉ là một nhân tố của sản xuất, các nhà kinh tế hiện đại
đã có khái niệm PTCN là sự mở rộng cơ hội lựa chọn và nâng cao
năng lực lựa chọn của con người nhằm hưởng thụ một cuộc sống
hạnh phúc, bền vững. Theo cách tiếp cận này, PTCN không chỉ là sự
gia tăng về thu nhập và của cải vật chất mà quan trọng nhất là sự mở
rộng các khả năng của con người, tạo cho con người có cơ hội tiếp
cận tới nền giáo dục tốt hơn, các dịch vụ y tế tốt hơn, có chỗ ở tiện
nghi hơn, có việc làm có ý nghĩa hơn,… PTCN còn là tăng cường
năng lực, trước hết là nâng cao kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm làm
việc của họ. Nâng cao chất lượng NNL của ngành y tế phải đáp ứng
tốt các yêu cầu trên.
Nâng cao chất lượng NNL trong ngành y tế và PTCN trên lý
thuyết và thực tế có mối quan hệ rất mật thiết và không thể tách rời.
9
dược
1.2.3.1. Các yếu tố bên ngoài
+ Kinh tế thế giới
+ Sự phát triển và tái cấu trúc công nghiệp Dược toàn cầu
+ Sự phát triển của KHCN
+ Toàn cầu hóa
+ Văn hóa – xã hội
+ Cơ chế chính sách
1.2.3.2. Các yếu tố bên trong
10
+ Nhóm yếu tố về điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo: bao
gồm Trình độ, năng lực đội ngũ GV; Trình độ đầu vào; Cơ sở vật
chấtvà trang thiết bị phục vụ đào tạo; Nguồn tài chính; Nhân tố quản
lý
+ Nhóm các yếu tố về quá trình đào tạo: bao gồm Chiến lược
đào tạo; Nội dung chương trình, giáo trình; Phương pháp đào tạo;
Môi trường, điều kiện học tập; Môi trường văn hóa trong nhà trường
1.2.4. Kinh nghiệm quốc tế
Tất cả các nước trên thế giới đều có hệ thống đào tạo nhân lực y
tế trong đó có nhân lực dược nhằm mục đích chăm sóc sức khoẻ. Tuỳ
theo đặc điểm kinh tế xã hội và pháp luật của từng nước mà mô hình
đào tạo và sử dụng DS vào trong lĩnh vực công tác khác nhau.
DS là một trong những nhóm chuyên gia chăm sóc sức khỏe
chuyên nghiệp lớn trên thế giới cùng với BS và y tá. Đa số các nước
trên thế giới nói tới nhân lực dược là nói tới DS. Ở nhiều nước, việc
nâng cao trách nhiệm của DS với vai trò tư vấn, tập trung vào bệnh
nhân nhiều hơn đã làm tăng nhu cầu lực lượng lao động.
Nhiều nước trên thế giới, ngay cả các nước phát triển và đang
- Tiềm năng phát triển nghề nghiệp.
+ Mức độ nâng cao của tâm lực:
- Khả năng thích ứng với thị trường lao động, môi trường làm
việc.
- Phẩm chất xã hội - nghề nghiệp (đạo đức, ý thức, trách nhiệm,
uy tín…).
+ Mức độ nâng cao của thể lực
- Các chỉ số về sức khỏe, tâm lý, sinh học.
1.3.2. Các nội dung, phương pháp đánh giá
1.3.2.1. Đánh giá về mức độ nâng cao của trí lực
Nâng cao trí lực chính là nâng cao trình độ học vấn, trình độ
chuyên môn, kỹ năng nghề Dược, kinh nghiệm làm việc của NLĐ.
Đánh giá mức độ nâng cao trí lực trong đào tạo thông qua:
- Chuẩn đầu ra, CTĐT
- Tiêu chuẩn chất lượng GV: trình độ học vấn, trình độ
chuyên môn, kỹ năng, thâm niên.
- Tiêu chuẩn chất lượng của người học: mức tuyển đầu vào,
quá trình đào tạo, rèn luyện; phương pháp và ý thức học tập.
1.3.2.2. Đánh giá mức độ nâng cao của tâm lực
Chất lượng NNL còn được thể hiện qua các yếu tố cụ thể như:
thái độ làm việc, đạo đức nghề nghiệp và khả năng chịu áp lực trong
công việc của cán bộ ngành Dược.
Tất cả các yếu tố về thái độ làm việc, đạo đức nghề nghiệp và
khả năng chịu áp lực trong công việc đều là những yếu tố bên trong,
quy định ở tính cách, bản tính của NNL. Tất cả những yếu tố đó nằm
trong phạm trù đạo đức của con người vì thế rất khó đánh giá và
lượng hóa.
1.3.2.3. Đánh giá mức độ nâng cao của thể lực
12
trong xã hội; có khả năng tự nghiên cứu và phát triển để hội nhập với
khu vực và thế giới, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc;Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho GV đáp ứng công tác
giảng dạy của Trường và của Ngành;Đào tạo các loại hình khác theo
nhu cầu của xã hội, theo điều kiện khả năng của Trường khi được
phép của các cơ quan có thẩm quyền…
2.1.3. Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức nhà trường hoàn thiện, có 21 bộ môn, Viện Công
nghệ Dược phẩm Quốc gia, Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc
13
và phản ứng có hại của thuốc, Tạp chí Nghiên cứu Dược và Thông
tin thuốc và 16 phòng ban, thư viện hỗ trợ đắc lực cho nhiệm vụ đào
tạo. 2.1.4. Đặc điểm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nguồn
nhân lực
Đội ngũ GV nhà trường có trình độ chuyên môn cao, được đào
tạo về phương pháp sư phạm y học. Nhà trường được nhà nước đầu
tư toàn bộ về cơ sở vật chất, giảng đường, phòng thí nghiệm, trang bị
nhiều thiết bị hiện đại, đầy đủ vật tư, hóa chất phục vụ cho công tác
đào tạo và NCKH. Đội ngũ KTV có trình độ chuyên môn tốt, có kỹ
năng thực hành thành thạo, đã góp phần tích cực trong rèn luyện kỹ
năng nghề nghiệp cho SV.
ĐHDHN được nhiều doanh nghiệp, công ty dược, các bệnh viện
trung ương, thành phố, các viện nghiên cứu… tham gia và hỗ trợ
công tác đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà
trường.
ĐHDHN là một trong các trường ĐH có điểm tuyển đầu vào
tương đối cao, là cơ sở giúp cho người học có khả năng tiếp thu được
khối lượng kiến thức phong phú, có tính sáng tạo, chủ động trong học
quyết đặc biệt trong lĩnh vực bệnh viện chỉ có xấp xỉ 1 DS/BVĐK
tuyến huyện.
2.2.2. Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực dược
Để đáp ứng điều kiện phát triển của ngành, nhu cầu nhân lực
dược nước ta ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng. Theo báo
cáo của Sở Y tế các tỉnh, thành phố, đến năm 2020 toàn ngành dược
sẽ có nhu cầu hơn 25.000 cán bộ dược có trình độ ĐH trở lên. Trong
đó, riêng nhu cầu đối với DSĐH chiếm 85,63%; còn lại là nhu cầu
đối với các nhân lực trình độ cao hơn như TS, ThS, DS chuyên khoa
I và DS chuyên khoa II chiếm 14,3%.
Về chất lượng, hiện nước ta còn thiếu nhân lực dược trình độ
cao. Mục tiêu của Chiến lược quốc gia phát triển ngành dược Việt
Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 là phải phát
triển NNL y tế cân đối và hợp lý, bảo đảm đạt được 2 - 2,5
DS/10.000 dân vào năm 2020, tăng cường đào tạo NNL dược đáp
ứng yêu cầu phát triển ngành dược, chú trọng đào tạo phát triển DS
lâm sàng; thu hút đãi ngộ đối với cán bộ dược công tác ở những vùng
có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số, vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo. Theo Bộ Y tế, đến năm
2015, mỗi năm cần đào tạo khoảng 1.337 DSĐH để thay cho số
người về hưu, chuyển nghề, và đáp ứng với yêu cầu ngày càng tăng.
Để bổ sung đủ nhân lực lĩnh vực dược chỉ có cách duy nhất là
tăng cường đào tạo. Tuy vậy hệ thống và mạng lưới đào tạo và khả
năng tuyển sinh đào tạo DSĐH hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu
về số lượng.
Hiện nay, nhằm tăng cường BS, DS làm việc ở tuyến y tế cơ sở,
Bộ Y tế chủ trương tuyển sinh vào hệ tập trung 4 năm dưới các hình
thức thi tuyển, cử tuyển, tuyển sinh theo địa chỉ, tạo điều kiện thuận
lợi cho y sỹ đang công tác tại TYT xã, dược trung cấp đang công tác
tại cơ sở y tế tuyến xã, huyện được đào tạo lên bậc ĐH để sau khi tốt
CTĐT là một trong ba yếu tố quan trọng tác động đến chất
lượng đào tạo của Trường. Vì vậy các CTĐT của ĐHDHN đều
được xây dựng theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo,
được đổi mới, rà soát thường xuyên và có kế hoạch theo từng giai
đoạn.
CTĐT của các hệ đào tạo trong trường có cấu trúc hợp lý,
được thiết kế một cách hệ thống, đảm bảo tính nhất quán và tính
liên thông cao, phù hợp điều kiện học tập, giảng dạy của trường.
Chương trình chi tiết các học phần có phân bố thời lượng lý thuyết
và thực hành hợp lý. Các học phần trong CTĐT được phân bố và
sắp xếp một cách hệ thống, đảm bảo điều kiện tiên quyết cũng như
đáp ứng mục tiêu cụ thể của các CTĐT mà nhà trường đã đặt ra.
16
Người học là một yếu tố rất quan trọng trong quá trình đào tạo
của một trường ĐH. Trường ĐHDHN đã có những biện pháp cụ
thể giúp người học hiểu rõ về mục tiêu đào tạo, CTĐT và các yêu
cầu kiểm tra đánh giá, thực hiện tốt quy chế đào tạo, rèn luyện và
những vấn đề liên quan đến người học. Nhà trường luôn đảm bảo
các chế độ chính sách xã hội và thực hiện nhiều biện pháp hiệu quả
hỗ trợ SV về chế độ chính sách xã hội, chăm sóc sức khoẻ và đầu
tư kinh phí cho các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao trong SV.
Việc đánh giá khả năng tìm việc làm và tự tạo việc làm của
SV sau tốt nghiệp luôn được nhà trường quan tâm.
2.3. Đánh giá chung về thực trạng đào tạo nguồn nhân lực của
ĐHDHN trên quan điểm phát triển con người
2.3.1. Mặt ưu điểm
Trên quan điểm PTCN, qua các đặc điểm đã nêu ở trên, đánh giá
về thực trạng đào tạo NNL của ĐHDHN có thể thấy các ưu điểm sau:
do diện tích cơ sở hiện nay còn quá nhỏ so với yêu cầu, quy mô đào
tạo, điều này ảnh hưởng rất nhiều đến việc nâng cao chất lượng đào
tạo NNL của trường.
Trường chưa có quy định cụ thể về sự tham gia của đại diện các
tổ chức, hội nghề nghiệp, các nhà tuyển dụng lao động và người đã
tốt nghiệp trong quy trình xây dựng CTĐT, việc tổ chức lấy ý kiến
phản hồi từ người sử dụng lao động, nhà tuyển dụng về CTĐT chưa
được thực hiện một cách đồng bộ.
Đội ngũ GV chưa đạt 100% trình độ ThS trở lên theo Chiến lược
phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020, vẫn còn 14,6% GV trình độ
ĐH; Một số GV chưa hoàn thành nhiệm vụ NCKH.
2.3.3. Nguyên nhân
Nhà trường đang trong giai đoạn mở rộng quy mô, vì thế một số
GV mới được tuyển dụng chưa đạt trình độ như mong muốn, điều
này có thể được khắc phục nếu nhà trường có thể tuyển dụng cán bộ
chuyên môn cao đang công tác tại các công ty, doanh nghệp, viện
nghiên cứu làm GV kiêm giảng như trường ĐH Y.
Công tác NCKH của trường chưa thể gắn với các công ty, doanh
nghiệp, nói cách khác là chưa nghiên cứu theo đơn đặt hàng của công
ty, doanh nghiệp dược, nguyên nhân chính do tiềm lực nghiên cứu
của trường chưa đủ mạnh, chưa thể đáp ứng yêu cầu về thời hạn đặt
hàng, bên cạnh đó tại Việt Nam chưa có chế độ bảo hộ đủ mạnh giúp
công ty, doanh nghiệp an tâm khi đầu tư nghiên cứu sản phẩm, đây
cũng là nguyên nhân khiến nhà trường chưa gắn kết được với công
ty, doanh nghiệp dược.
Nhà trường cũng chưa thật sự khai thác sự tham gia của các
công ty, doanh nghiệp dược, của các đơn vị sử dụng sản phẩm đào
tạo của trường trong việc lấy ý kiến phản hồi, đặc biệt khi xây dựng
chuẩn đầu ra và CTĐT, nên có cuộc khảo sát nhu cầu của ngành, của
xã hội đối với người DS, nên có sự tham gia của công ty, doanh
nghẽn không chỉ đối với sự phát triển kinh tế mà còn đối với sự phát
triển đất nước nói chung.
Ở góc độ y tế thì chỉ số y tế của Việt Nam tốt hơn nhiều nước có
cùng trình độ phát triển HDI do chi tiêu công cho y tế đã tăng liên
tục, đặc biệt là tỉ trọng của bảo hiểm y tế trong chi tiêu công cho y tế
trong thập kỷ qua tăng khá nhanh và liên tục. Nhưng mặc dù có tiến
bộ trong việc giảm bớt khoảng cách về tiếp cận y tế giữa các vùng,
miền, nhóm xã hội, giữa các dân tộc, bất bình đẳng về cơ hội tiếp cận
dịch vụ y tế vẫn tiếp tục và cũng chưa thể khắc phục ngay nên vẫn
tiếp tục dẫn đến bất bình đẳng về sử dụng dịch vụ y tế trong nhiều
năm tới.
Từ góc độ an sinh xã hội và an ninh con người, hiện còn nhiều
vấn đề bức thiết ở nước ta: Hệ thống bảo hiểm xã hội đang đối mặt
với nhiều thách thức phát sinh từ việc thiết kế và vận hành hệ thống.
19
Bạo lực gia đình, lao động trẻ em, tội phạm trẻ em, tội phạm có học
vấn, tội phạm xuyên quốc gia, mất cân bằng giới tính khi sinh, nguy
cơ mất an ninh truyền thống và phi truyền thống... là những vấn đề xã
hội cấp bách và ảnh hưởng trực tiếp đến xây dựng và PTCN.
Người Việt Nam hiện nay có ý thức, và thực tế là thường xuyên
học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn và các mặt khác. Có
thể thấy rằng, người Việt Nam hiện nay, cả từ phía Nhà nước lẫn
nhân dân, đều bỏ tiền bạc, thời gian, sức khỏe hơn xưa để đầu tư cho
việc học hành.
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển đất nước, so với đòi hỏi hội
nhập và đặc biệt là tình trạng tụt hậu so với các nước trong khu vực
và thế giới, thì việc xây dựng con người như trong thời gian qua là
chưa đáp ứng được. Nếu không có nguồn lực con người đáp ứng
công tác bảo đảm chất lượng của các cơ sở và CTĐT chưa được thực
hiện hiệu quả.
Ngành dược đang có nhu cầu đào tạo các chuyên gia về tư vấn,
truyền thông, thống kê y tế, kiểm nghiệm chất lượng thuốc.
+ Phân bổ nhân lực y tế: Phân bổ nhân lực y tế chưa cân đối
giữa các vùng, khu vực địa lý; Chênh lệch về số lượng và chất lượng
nhân lực y tế giữa khu vực điều trị và dự phòng và giữa các chuyên
ngành….
3.2. Một số giải pháp chủ yếu
Để đạt được mục tiêu đã đặt ra trong Quy hoạch tổng thể phát
triển của ĐHDHN đến năm 2020, yêu cầu về nâng cao chất lượng
đào tạo NNL phù hợp với điều kiện thực tế của xã hội, đứng trên
quan điểm PTCN, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp để
nâng cao chất lượng đào tạo NNL tại ĐHDHN giai đoạn 2016-2020,
tầm nhìn 2030.
3.2.1. Xây dựng chuẩn đầu ra và CTĐT dựa trên việc xác định yêu
cầu của XH, của ngành y tế, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo,
nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh trong công việc của SV
sau khi tốt nghiệp
- Nội dung, CTĐT cần theo định hướng thị trường
- Hướng việc học tập vào thực hành và thực tế
- Xây dựng tốt CTĐT
- Gắn đào tạo với hoạt động của các công ty, doanh nghiệp; liên
kết và ký hợp đồng đào tạo với các đơn vị này
- Tăng thời lượng cho các hoạt động ngoại khóa, thể dục thể
thao
3.2.2. Đổi mới quy trình tổ chức đào tạo
Trong điều kiện phát triển kinh tế hiện nay ở nước ta, công tác
đào tạo của các trường ĐH cũng chịu sự tác động của các quy luật
trong cơ chế thị trường. Công tác đào tạo hiện nay không chỉ theo kế
và nghiên cứu.
- Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ
giảng dạy, NCKH và học tập.
3.2.5. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế
- Thông qua các dự án và các chương trình hợp tác về đào tạo
- Tham quan, trao đổi GV cũng như kinh nghiệm thực tiến trong
đào tạo
3.2.6. Kiến nghị với cơ quan quản lý:
3.2.6.1. Phát triển mạnh ngành công nghiệp dược nhằm tạo
nhiều cơ hội phát triển cho SV của trường sau tốt nghiệp
- Liên hệ, liên kết các địa phương trong việc phát triển vùng
nguyên liệu để sản xuất đông dược một cách an toàn, hợp lý
- Phát triển doanh nghiệp sản xuất thuốc trong nước
- Về NNL dược, cần đổi mới và hiện đại hóa CTĐT các trường
ĐH dược Việt Nam theo xu thế chung trên thế giới.
22
- Hiện đại hóa bộ phận dược ở các bệnh viện từ trung ương đến
địa phương
3.2.6.2. Có quy định bằng văn bản tạo cơ hội để nhà trường có
thể liên kết đào tạo với các công ty, doanh nghiệp dược và các viện
nghiên cứu
- Có chế độ GV kiêm nhiệm giảng dạy tại trường ĐHDHN đối
với các chuyên gia đang công tác tại công ty, doanh nghiệp dược,
viện nghiên cứu, giống như GV kiêm nhiệm của trường Y là các cán
bộ ở bệnh viện.
- Các công ty, doanh nghiệp dược, bệnh viện là các cơ sở thực
tập thực tế của SV dược và cũng là chủ thể tham gia quy trình đào
tạo.