SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THPT B HẢI HẬU
-----S¸ng kiÕn dù thi cÊp tØnh
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY ĐỂ HÌNH THÀNH
NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG
MÔN NGỮ VĂN 12
Tác giả
: Nguyễn Thị Huyền
Trình độ chuyên môn
: Cử nhân Ngữ văn
Chức vụ
: Giáo viên
Nơi công tác
: Trường THPTB Hải Hậu
Hải Hậu, tháng 05 năm 2016
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “Sử dụng sơ đồ tư duy để hình thành năng lực tự
3. Các biện pháp cụ thể
3.1. Cách vẽ sơ đồ tư duy
3.2. Cách đọc sơ đồ tư duy
3.3. Sử dụng sơ đồ tư duy trong môn Ngữ văn 12
III. Hiệu quả do sáng kiến mang lại
1. Hiệu quả xã hội
2. Hiệu quả kinh tế
IV. Kiến nghị, đề xuất
V. Cam kết
Tài liệu tham khảo
Trang
1
2
3
4
4
4
6
6
7
7
8
9
9
10
11
27
27
28
cái gì qua việc học... Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện
thành công phương thức dạy học nặng về truyền thụ kiến thức sang dạy cách
học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và
phẩm chất, đồng thời phải chuyển từ cách đánh giá kết quả giáo dục nặng về
kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải
quyết vấn đề, chú trọng kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học để có thể
tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và
giáo dục.
Nghị quyết TW 8 khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng
hiện đại; phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức
mới, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi
nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo
cơ sở để người học tự cập nhật tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực”.
Trong chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 ban hành
kèm theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính
phủ: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập,
rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và
năng lực tự học của người học”.
Rõ ràng, một trong những vấn đề cơ bản của đổi mới PPDH hiện nay
là phát huy nội lực của người học, hình thành năng lực tự học của học sinh
qua mỗi bài học. Vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với giáo viên là
phải đổi mới cách dạy. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức cho học
sinh đi tìm kiến thức mới, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn. Chính vì
vậy, học sinh phải là người tự giác, chủ động, tìm tòi phát hiện các kiến thức
mới một cách linh hoạt, sáng tạo vào thực tiễn cuộc sống thông qua sự định
hướng dẫn dắt của giáo viên trong tiết dạy.
Do đó, việc lựa chọn phương pháp dạy học sao cho phù hợp và phát
huy được sự yêu thích, tính chủ động của học sinh đối với môn học là một
vấn đề rất quan trọng. Đó vừa là kĩ thuật vừa là nghệ thuật sư phạm của
sinh sẽ tự tìm ra chân lí.
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP.
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
Hiện nay, thuật ngữ SĐTD không còn xa lạ với các giáo viên và học
sinh trong trường phổ thông. SĐTD được mệnh danh là “công cụ vạn năng
cho bộ não”, là phương pháp tư duy đầy sáng tạo, hiện đang được hơn 250
triệu người trên thế giới sử dụng. Có thể nói, SĐTD đã và đang mang lại
hiệu quả thực sự cho con người nhất là trong lĩnh vực giáo dục. Đây được
xem là kĩ thuật dạy học tích cực góp phần đổi mới PPDH và mang đến cho
học sinh phương pháp học tập hiệu quả. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng
phương pháp học là một công cụ cơ bản của tự học.
Song qua dự giờ, thăm lớp, trao đổi với các động nghiệp môn Ngữ
văn, tôi thấy các thầy cô đưa kĩ thuật SĐTD vào các tiết dạy của mình còn
hạn chế. Hoặc nếu có thì cũng chỉ dừng lại ở việc ôn tập kiến thức trong các
kì thi và còn số này cũng không nhiều. Qua tìm hiểu, tôi thấy nguyên nhân
chủ yếu là để thiết kế được một SĐTD cho tiết dạy, thực tế, giáo viên phải
đầu tư nhiều thời gian, công sức mà nhiều khi lại không biết phải tổ chức
thiết kế hoạt động dạy học như thế nào với SĐTD để phát huy năng lực tự
học của học sinh. Do đó, đa số học sinh cũng chưa biết sử dụng SĐTD để
ghi nhớ, khắc sâu kiến thức bài học hay giải quyết các bài tập của môn Ngữ
văn. Điều này dẫn đến hệ quả là giáo viên dạy Ngữ văn vất vả cứ như đi cày
khi truyền đạt tri thức tới học sinh. Như thế sẽ thật khó khơi dậy ở các em
niềm yêu thích đối với môn học đầy tính nhân văn này. Còn học sinh luôn tỏ
ra rất thụ động trong các giờ Ngữ văn, dẫn đến tâm lí “ngại”, “lười” thậm
chí là “sợ” học môn Ngữ văn. Trong khi đó môn Ngữ văn là một trong
những môn thi bắt buộc của Bộ trong kì thi THPT Quốc gia thì đây quả là
một “vấn đề” nan giải. Từ thực trạng trên, trong bài viết này chúng tôi xin
mạnh dạn đề cập đến việc sử dụng SĐTD để hình thành năng lực tự học cho
nhà trường. Đây là tư tưởng đầy tính nhân văn, dân chủ. Nó giúp con người
có được công cụ để học tập suốt đời.
Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn: Tự học là tự mình dùng các giác quan
để thu nhận thông tin rồi tự mình động não, sử dụng các năng lực, trí tuệ
(quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (phải sử dụng
công cụ) cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm cả nhân sinh
quan, thế giới quan để chiếm lĩnh được một lĩnh vực hiểu biết nào đó, một
số kĩ năng nào đó, một số phẩm chất nào đó của nhân loại hay cộng đồng rồi
biến chúng thành sở hữu của chính mình. Phát minh ra cái mới cũng được
coi là một hình thức tự học cao cấp.
Theo tác giả Nguyễn Kì, tự học của học sinh THPT có bốn đặc trưng
cơ bản sau:
- Thứ nhất là học sinh phải biết tìm ra kiến thức.
- Thứ hai là người học tự thể hiện mình, đặt mình vào tình huống tự
trình bày bảo vệ sản phẩm, tỏ rõ thái độ của mình trước môi trường xung
quanh.
- Thứ ba người thầy là người tự tổ chức hướng dẫn cho học sinh tự
nghiên cứu tìm ra tri thức và thể hiện mình trước tập thể, trước cộng đồng.
- Thứ tư người học tự kiểm tra, tự đánh giá tri thức của mình với bạn
bè và dựa vào kết luận của thầy cô tự mình sửa chữa, tự mình điều chỉnh, tự
mình hoàn thiện và tự mình rút ra được kinh nghiệm về cách học, cách xử lí
tình huống, cách giải quyết vấn đề của mình của mình.
Như vậy, năng lực tự học là nội lực phát triển của bản thân người
học như tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề thực tiễn, tự đổi mới
sáng tạo trong công việc hàng ngày. Thực chất năng lực tự học của học sinh
THPT chủ yếu là năng lực nghiên cứu sách giáo khoa, ghi chép thông tin,
lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình,vận dụng kiến thức đã học vào
làm các bài tập …nhằm phát huy một cách tối đa tính tích cực chủ động,
kiến thức cần nhớ. Đối với não bộ, SĐTD giống như một bức tranh lớn đầy
hình ảnh và màu sắc phong phú hơn là một bài học khô khan, nhàm chán.
+ Sự liên tưởng: SĐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng một các
rất rõ ràng, logic.
+ Làm nổi bật ý tưởng: SĐTD cho phép bạn làm nổi bật các ý tưởng
trọng tâm bằng một bức tranh đầy màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng và có
sự liên kết chặt chẽ với nhau.
3. Các giải pháp cụ thể
3.1. Cách vẽ một sơ đồ tư duy
Giáo viên cần phải hướng dẫn cho học sinh cách vẽ một SĐTD. Để vẽ
một bản đồ tư duy hoàn chỉnh, chúng ta thống nhất cách vẽ từ trái qua phải
(ngược chiều kim đồng hồ) bao và gồm có các bước cơ bản sau đây:
- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm.
Bước đầu tiên trong việc tạo ra một bản đồ tư duy là vẽ chủ đề ở trung
tâm trên một mảnh giấy.
Quy tắc vẽ chủ đề :
+ Vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác.
+ Có thể tự do sử dụng tất cả màu sắc mà bạn thích.
+ Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề
cần được làm nổi bật dễ nhớ.
+ Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
- Bước 2 : Vẽ các nhánh chính.
Bước tiếp theo là tìm các ý chính làm rõ cho chủ đề trung tâm, từ đó,
vẽ ra các nhánh chính đầu tiên.
Quy tắc vẽ nhánh chính:
+ Nhánh chính nên được vẽ gắn liền với trung tâm.
+ Nhánh chính nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ
khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng.
kiến thức như các bài về Tác gia văn học, Khái quát văn học, Tiếng Việt,
Làm văn, Lí luận văn học.
Ví dụ: Với bài “ Tuyên ngôn độc lập”, phần: Tác giả Hồ Chí Minh,
sau khi tiến hành hoạt động khởi động, giáo viên vẽ chủ đề trung tâm lên
bảng. Sau đó, sử dụng các câu hỏi định hướng đưa học sinh chiếm lĩnh kiến
thức mới như sau.
+ Theo các em, khi học bài này, chúng ta cần phải đảm bảo được
những luận điểm cơ bản nào?
- HS trả lời: Tiểu sử, sự nghiệp văn học hoặc tiểu sử, quan điểm sáng
tác, di sản văn học, phong cách nghệ thuật.
+ Giáo viên định hướng cách hai và đây cũng là 4 nhánh chính của sơ
đồ tư duy bài học.
Tiếp tục tiếp cận bài học bằng cách hoàn thiện những nhánh chính
của SĐTD.
Mục tiểu sử
+ GV: Theo em, những yếu tố nào làm nên sự vĩ đại của Hồ Chí
Minh?
- HS dựa vào SGK trả lời ngắn gọn (Quê hương, gia đình, thời đại,
bản thân).
+ Gv nhận xét và thể hiện trên SĐTD
Mục quan điểm sáng tác
+ GV: Quan điểm sáng tác là chỗ đứng để nhìn nhận nghệ thuật, là
lập trường, quan niệm, ý kiến của mỗi nhà văn về văn học. Quan điểm đó
được thể hiện trong các tác phẩm của họ. Em hãy cho biết, quan điểm sáng
tác của Hồ Chí Minh có mấy nội dung? Cụ thể mỗi nội dung ấy là gì?
- HS: trả lời 3 nội dung.
+ GV nhận xét, có thể lấy dẫn chứng chứng minh để tăng tính thuyết
phục của bài học, sau đó thể hiện trên SĐTD
gọi HS nên trình bày SĐTD bài học của mình hoặc của nhóm mình, gọi HS
các nhóm khác nhận xét, bổ sung. GV nhận xét, chỉnh sửa cho HS về kiến
thức, đường nét. Sau đó, GV đưa ra SĐTD của bài học đã được chuẩn bị
trước trên máy chiếu hay trên bảng phụ để học sinh tham khảo. Sau đó, yêu
cầu HS về nhà học bài cũ bằng cách hoàn thiện SĐTD cuả mình về bài học,
GV sẽ kiểm tra vào tiết học sau. Như vậy sau mỗi bài học, HS đều có SĐTD
riêng, các em bảo quản, lưu giữ để sâu này thuận lợi cho việc ôn tập cuối
năm nhất là học sinh lớp 12.
Ví dụ: Văn bản “ Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, ta có
SĐTD ở phần củng cố như hình trang 17
3.3.3. Kiểm tra, đánh giá
GV có thể sử dụng SĐTD để kiểm tra, đánh giá học sinh ngay trong
quá trình dạy học để có thể tác động kịp thời nhằm năng cao hoạt động dạy
và học.
+ Sử dụng SĐTD để kiểm tra việc học bài cũ ở nhà của học sinh.
Cách làm này, đòi hỏi học sinh phải nắm được hệ thống ý của bài, tránh lối
học vẹt hay ghi nhớ máy móc.
- Ví dụ 1: Làm thế nào để nhận biết một văn bản có thuộc phong cách
ngôn ngữ khoa học hay không? Hãy thể hiện điều đó bằng SĐTD?
→ HS sẽ phải dùng SĐTD để thể hiện các đặc trưng của phong cách
ngôn ngữ khoa học.
- Ví dụ 2: GV có thể trình chiếu SĐTD của bài học trước lên bảng và
yêu cầu HS trình bày suy nghĩ, hiểu biết của mình về nội dung đó nằng một
đoạn văn. Đơn cử như khi kiểm tra bài “Người lái đò sông Đà”, GV có thể
trình chiếu SĐTD trên máy chiếu hoặc thể hiện trên bảng phụ (như hình vẽ
trang 17) và yêu cầu học sinh làm nổi bật sự hung bạo của sông Đà qua cảnh
đá bờ sông dựng vách thành bằng một đoạn văn từ 5-7 dòng.
Mỗi năm vào mùa ôn thi Tốt nghiệp và Đại học mà bây giờ là kì thi
THPT Quốc gia, dưới cái nắng oi nồng của mùa hè, khi ôn tập môn Văn với
khối lượng kiến thức dài lê thê, học sinh thường mang tâm lí chán nản mệt
mỏi vì không biết phải tiêu thụ kiến hết kiến thức như thế nào? Ôn Văn mà
chẳng khác nào như đi vào mê cung không đường chỉ dẫn. Bây giờ với sự hỗ
trợ của SĐTD việc ôn tập của các em sẽ trở nên đơn giản, nhẹ nhàng, đỡ tốn
thời gian ngồi ngủ gật và lẩm nhẩm những giai điệu của những bài học thuộc
lòng đơn điệu. Theo cấu trúc đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn của Bộ,
đề thi gồm hai phần là Đọc – hiểu và phần Làm văn. GV sẽ dựa vào cấu trúc
này để định hướng ôn tập cho học sinh.
- Phần Đọc – hiểu, khi sử dụng SĐTD ôn tập, giúp các em tránh bỏ
sót ý, rèn luyện tư duy mạch lạc khi làm bài.
- Ví dụ: Cho đề đọc – hiểu sau:
Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 5:
Lá đỏ
Gặp em trên cao lộng gió
Rừng Trường Sơn ào ào lá đỏ
Em đứng bên đường như quê hương
Vai áo bạc quàng súng trường
Đoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Trường Sơn nhòa trong trời lửa.
Chào em, em gái tiền phương
Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn.
Em vẫy tay cười đôi mắt trong.
(Nguyễn Đình Thi, Trường Sơn, 12/1974)
Câu 1: Dựa vào những thông tin trong tác phẩm, hãy nêu ngắn gọn
hoàn cảnh ra đời của bài thơ.
Câu 2: Chỉ ra các hình ảnh miêu tả thiên nhiên. Các hình ảnh đó tạo