SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀO CAI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC SINH HỌC
Ở TRƯỜNG THPT
Họ và tên tác giả: Hoàng Thị Thúy Mai
Bộ môn: Sinh học
Chức vụ: TTCM
Đơn vị công tác: Trường THPT số 2 Bảo Thắng
\
Bảo Thắng, tháng 5 năm 2014
1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
I.1. Lí do chọn đề tài.
Nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng nhất của nghành Giáo dục và Đào tạo nói
chung và của mỗi giáo viên nói riêng là nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy.
Đổi mới phương pháp giảng dạy chính là một biện pháp thiết thực nhằm nâng cao
chất lượng và hiệu quả dạy học. Đổi mới theo hướng: “ Người học là chủ thể ”, “
Người học là trung tâm của quá trình giáo dục ” trong tiếp nhận kiến thức đã được
Bộ giáo dục - Đào tạo phát động, điều đó có nghĩa: “ Người học không chỉ thu
nhận kiến thức thụ động mà quan trọng là phải biết phương pháp để thu nhận kiến
thức và vận dụng được kiến thức đó ” vào trong bài học và trong thực tế cuộc sống.
Trong thực tế việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay theo hướng phát huy
tính tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh. Bên cạnh việc đổi mới trong
phương pháp dạy thì việc đổi mới phương pháp học của học sinh cũng rất quan
trọng. Nó góp phần làm cho tiết học trên lớp đạt hiệu quả hơn. Trên cơ sở đó, việc
Sách giáo khoa viết theo chương trình mới hiện nay hàm chứa một hệ thống
kiến thức và kĩ năng đòi hỏi học sinh phải đạt được qua kênh hình, kênh chữ và các
lệnh khá rõ ràng, điều đó tạo thuận lợi cho giáo viên đổi mới phương pháp nhưng
đồng thời cũng đòi hỏi người dạy phải tìm tòi, sáng tạo trong cách dạy. Từ những
trăn trở trên và qua thực tế giảng dạy để nhằm nâng cao khả năng tư duy, khả năng
lập luận và kĩ năng trình bày của học sinh, cùng với đặc thù bộ môn có lượng kiến
thức phong phú với nhiều quá trình và cơ chế như môn Sinh học, để học sinh có thể
nắm vững và đầy đủ kiến thức thì rất khó, nên việc hướng dẫn học sinh có thể hệ
thống kiến thức bằng sơ đồ, qua đó học sinh sẽ nhìn được tổng thể kiến thức một
cách ngắn gọn nhưng đầy đủ, rút ngắn được thời gian ôn tập củng cố và ghi nhớ bài
nhanh hơn. Và tôi muốn chia sẻ kinh nghiệm mình đã thực hiện để quý đồng
nghiệp tham khảo.
I.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
I.3.1. Đối tượng
Sử dụng s đồ tư duy trong dạy học Sinh học đặc biệt là đối với lớp 12 trong
các tiết học, trong ôn tập, ra bài tập về nhà, củng cố kiến thức.
I.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Sinh học trung học phổ thông trường THPT số 2 Bảo Thắng.
I.4. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
- Hệ thống hoá cơ sở lí luận về sơ đồ tư duy trong các tiết học, các giờ ôn tập,
ra bài tập về nhà nhằm tích cực hoá hoạt động của học sinh.
- Sử dụng sơ đồ tư duy để kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh ở nhà, kiểm tra
kiến thức cả chương,…trong môn Sinh học trung học phổ thông.
I.5. Phương pháp nghiên cứu
- Bước 1: Nghiên cứu lí thuyết:
Nghiên cứu tài liệu: Lí luận dạy học sinh học, tài liệu hướng dẫn sử
dụng bản đồ tư duy trong dạy học, các bài giảng trên các trang Web và các tài liệu
cũng như học sinh nhưng khi được áp dụng thành thục lại đạt hiệu quả rất cao trong
giảng dạy vì phương pháp lập Sơ đồ tư duy có nhiều ưu điểm:
- Hình thành cho học sinh lối tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc,
có tính logic, khoa học.
- Trực quan, dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ qua cả kênh hình và kênh chữ.
- Nhìn thấy “ bức tranh” tổng thể mà lại chi tiết.
- Kích thích hứng thú học tập của học sinh, đảm bảo giờ học sôi nổi, sinh
động.
- Giúp mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức.
- Giảng dạy theo sơ đồ tư duy mang tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với
bất kỳ điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường. Có thiết kế trên giấy, bìa,
bảng bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu hoặc cũng có thể thiết kế trên phần
mềm tạo Bản đồ tư duy.
- Thông qua trao đổi, học sinh sẽ học ở bạn, tự sửa kiến thức sai cho mình.
- Lâu dài hình thành kĩ năng phân tích kiến thức và vẽ sơ đồ cho học sinh.
Trong hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là tập trung thiết kế các hoạt
động sao cho học trò có thể tự lực khám phá, chiếm lĩnh các tri thức mới dưới sự
chỉ đạo của thầy. Bởi một đặc điểm cơ bản của hoạt động học là người học hướng
vào việc cải biến chính mình, nếu người học không chủ động tự giác, không có
phương pháp học tốt thì mọi nỗ lực của người thầy chỉ đem lại những kết quả hạn
chế.
II.1.2. Cơ sở thực tiễn
Dạy học và sự phát triển gắn bó chặt chẽ với nhau. Dạy học không chỉ nhằm
cung cấp cho học sinh một số lượng tri thức do nội dung chương trình và sách giáo
khoa đã qui định, mà phải tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức một cách tích cực,
chủ động, độc lập để phát triển tư duy khoa học, rèn luyện được trí thông minh, óc
sáng tạo, suy nghĩ linh hoạt. Đó là những phẩm chất trí tuệ của con người lao động
mới theo đúng mục tiêu đào tạo của nhà trường, của cấp học khi mà đại bộ phận
5
học, trong tài liệu tham khảo, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có
liên quan với nhau.
6
+ Để làm một bài kiểm tra theo hình thức tự luận đòi hỏi học sinh phải đảm
bảo được kiến thức trọng tâm và trình bày các vấn đề theo một hệ thống logic. Tuy
nhiên qua quan sát từ thực tế giảng dạy thì học sinh còn hạn chế trong việc tư duy
để lập luận và trình bày đầy đủ kiến thức.
Việc hướng dẫn học sinh lập “ SƠ ĐỒ TƯ DUY ” trong học tập hiệu quả trước
tiên đòi hỏi ở giáo viên sự kiên trì, sự tìm tòi sáng tạo và sự phấn đấu vươn lên
không ngừng trong giảng dạy vì đây là phương pháp mới với học sinh, thời gian
đầu chưa quen các em lúng túng trong sắp xếp kiến thức để lập bản đồ vì vậy gây
mất thời gian, không khéo điều hành dễ gây mất trật tự, nhưng khi học sinh đã hình
thành được kĩ năng lập bản đồ theo từng nội dung kiến thức thì việc dạy học sẽ trở
nên đơn giản hơn và đạt hiệu quả cao.
Với những cơ sở lí luận đã đọc được trong các tài liệu hướng dẫn đổi mới
phương pháp, qua trao đổi cùng đồng nghiệp và qua thực nghiệm giảng dạy của
mình, tôi xin truyền đạt lại những kinh nghiệm mà mình đã có được trong quá trình
dạy học theo phương pháp: “ Sử dụng SƠ ĐỒ TƯ DUY trong giảng dạy môn
sinh học ở trường THPT ” dưới đây.
II.2. Giải quyết vấn đề.
II.2.1. Giới thiệu đôi nét về sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy ( Bản đồ tư duy, Lược đồ tư duy): là hình thức ghi chép sử
dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Sơ đồ tư duy là một
kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp
với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não.
Đây là một công cụ tổ chức tư duy được tác giả Tony Buzan (Anh) nghiên cứu
kỹ lưỡng và phổ biến rộng khắp thế giới, đã có 3 tỷ người đã từng xem và nghe
cách sử dụng các dạng ghi chú bằng cả não bộ như Sơ Đồ Tư Duy (Mind Maps),
Đồ Thị Phát Triển (Flow Charts), Sơ Đồ Khái Niệm (Concept Maps), Lược Đồ
8
Thời Gian (Time Lines) và Biểu Đồ (Diagrams) để giúp việc học trở nên thú vị và
hiệu quả hơn nhiều lần.
Ví dụ trong cuốn sách của ADđam khoo giới thiệu về bản đồ tư duy trong phần tế
bào học của môn Sinh lớp10
Theo Ađam Khoo thì các kiểu ghi chú bằng cả não bộ này giải phóng các
chức năng xử lý của não phải như màu sắc, sự sáng tạo, sự liên tưởng, cảm xúc, trí
tưởng tượng và luận lý. Chúng tôi phát hiện ra rằng, cách ghi chú này giúp học sinh
có thể tăng cường trí nhớ lên đến 350% và đồng thời giúp học sinh tiết kiệm thời
gian đáng kể ( bởi vì một số lượng lớn thông tin được rút gọn trong vài từ khóa và
hình ảnh ).
9
Ví dụ trong cuốn sách của Ađam Khoo giới thiệu về bản đồ tư duy trong học
môn địa lý.
II.2.2. Phương pháp hướng dẫn học sinh lập bản đồ tư duy
II.2.2.1.Làm quen với bản đồ tư duy
Giáo viên giới thiệu một số bản đồ tư duy cho các học sinh làm quen cùng
với dẫn dắt của giáo viên để các em định hướng cách thiết lập.
Hướng cho học sinh có thói quen khi tư duy lôgic theo hình thức sơ đồ hoá
trên bản đồ tư duy: Từ một vấn đề hay chủ đề chính đưa ra các ý lớn thứ nhất, ý lớn
thứ hai, thứ ba... mỗi ý lớn lại có các ý nhỏ liên quan với nó, mỗi ý nhỏ lại có các ý
Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề, hay có thể với một từ
khóa được viết in hoa, viết đậm. Hình ảnh chọn lọc phải diễn đạt được vấn đề cần
trình bày, từ đó kích thích não bộ sử dụng trí tưởng tượng.
Bước 2: - Nối các nhánh chính (cấp một) từ hình ảnh trung tâm.
- Nối các nhánh cấp hai từ nhánh cấp một.
- Nối các nhánh cấp ba từ nhánh cấp hai.
12
Các nhánh được nối bằng các đường kẻ thẳng, gấp khúc hoặc đường cong với
màu sắc khác nhau. Nhánh cấp 1, 2, 3 cùng chủ đề được thể hiện cùng một loại
màu.
Bước 3: Mỗi từ khóa hoặc hình ảnh được sắp xếp trên một đường kẻ hay đường
cong một cách độc lập.
Bước 4: Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho từng ý tưởng của từng cá nhân
Kiểu đường kẻ, kiểu màu sắc, cách bố trí nhánh trơn hay nhánh hộp hoặc hình
ảnh,…( Có thể vẽ hình dạng theo ý thích của học sinh).
Bước 5: Bố trí thông tin quanh hình ảnh trung tâm.
Bố trí phải cân đối, hợp lý khoa học, có thể để những khoảng trống đủ để bổ sung
những ý mới phát hiện.
c. Cách ghi chép và phương pháp tư duy logic khi thiết kế bản đồ tư duy.
* Phương pháp tư duy logic.
- Nghiên cứu kĩ nội dung kiến thức.
- Xác định rõ mục tiêu và trọng tâm của phần nội dung kiến thức đó ( Từ khóa )
- Xác định các ý chính cần lập thành sơ đồ:
+ Số ý chính được đánh số thứ tự để tránh trùng lặp ( Nhánh )
+ Mỗi ý chính ( Nhánh cấp 1) có bao nhiêu ý nhỏ hơn có liên quan trực tiếp
( Nhánh cấp 2), từ các ý nhỏ được cụ thể rõ hơn bằng bao nhiêu ý liên quan
( Nhánh cấp 3)...
* Cách ghi chép trên bản đồ tư duy.
năng sinh sản.
- Học sinh vẽ bản đồ trên giấy theo nhóm dưới sự giám sát của giáo viên.
- Các nhóm trình bày sản phẩm của mình.
- Giáo viên nhận xét sản phẩm của các nhóm:
+ Về mặt kiến thức: Tính chính xác, logic của kiến thức.
+ Về mặt thẩm mĩ: Cách bố trí hình ảnh, cách ghi chép, sự phối hợp màu sắc...
- Cuối cùng giáo viên có thể đưa ra bản đồ đầy đủ đã chuẩn bị sẵn để học sinh tham khảo.
( Chú ý không bắt buộc các em phải xây dựng bản đồ tư duy theo giáo viên, học
sinh có thể sáng tạo trong
14
Ví dụ: Bài 7: Tế bào nhân sơ ( SH 10 )
- Giáo viên hướng dẫn học sinh lập bản đồ tư duy theo những định hướng đã nêu ở
mục II.2.2.2.
- Yêu cầu học sinh nghiên cứu nội dung sách giáo khoa kết hợp với quan sát hình
7.2 (SGK).
- Yêu cầu học sinh xác định: Từ trung tâm hoặc hình ảnh chủ đề, các ý chính.
+ Từ trung tâm: TẾ BÀO NHÂN SƠ hoặc hình ảnh chủ đề:1 trực khuẩn.
+ Các ý chính: ( Nhánh cấp 1) Gồm đặc điểm và cấu tạo.
- Từ các ý chính yêu cầu học sinh tự phát triển các nhánh cấp 2, 3...
- Học sinh vẽ bản đồ trên giấy theo nhóm dưới sự giám sát của giáo viên.
- Các nhóm trình bày sản phẩm của mình.
- Giáo viên nhận xét sản phẩm của các nhóm:
+ Về mặt kiến thức: Tính chính xác, logic của kiến thức.
+ Về mặt thẩm mĩ: Cách bố trí hình ảnh, cách ghi chép, sự phối hợp màu sắc...
- Cuối cùng giáo viên có thể đưa ra bản đồ đầy đủ đã chuẩn bị sẵn để học sinh tham khảo.
( Chú ý không bắt buộc các em phải xây dựng bản đồ tư duy theo giáo viên, học
sinh có thể sáng tạo trong cách vẽ, cách trình bày, miễn kiến thức được trình bày
+ Về mặt thẩm mĩ: Cách bố trí hình ảnh, cách ghi chép, sự phối hợp màu
sắc...
- Cuối cùng giáo viên có thể đưa ra bản đồ đầy đủ đã chuẩn bị sẵn để học sinh tham
khảo.
16
Ví dụ: Trong dạy Bài : Điều hòa hoạt động gen ( SH 12 )
- Giáo viên thực hiện phương pháp giảng dạy vấn đáp gợi mở như một bài dạy
thông thường đối với từng mục theo hệ thống kiến thức sách giáo khoa.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh lập bản đồ tư duy theo những định hướng đã nêu ở
mục II.2.2.2.
- Yêu cầu học sinh xác định: Từ trung tâm hoặc hình ảnh chủ đề, các ý chính.
+ Từ trung tâm: ĐIỀU HÒA HOẠT ĐỘNG GEN hoặc hình ảnh chủ đề: Hình ảnh
của mô hình Operonlac.
+ Các ý chính: ( Nhánh cấp 1) - Khái niệm.
- Các cấp độ điều hòa
- Cấu trúc mô hình Operon
- Điều hòa hòa hoạt động gen ở sinh vật nhân sơ
- Từ các ý chính yêu cầu học sinh tự phát triển các nhánh cấp 2, 3...
- Học sinh vẽ bản đồ trên giấy theo nhóm hoặc cá nhân dưới sự giám sát của giáo
viên.
- Các nhóm trình bày sản phẩm của mình, nếu cho từng cá nhân vẽ bản đồ, giáo
viên cho học sinh đổi sản phẩm và tự sửa cho nhau
- Giáo viên nhận xét sản phẩm của các nhóm hoặc 1 số cá nhân:
17
+ Về mặt kiến thức: Tính chính xác, logic của kiến thức.
- Cuối cùng giáo viên có thể đưa ra bản đồ đầy đủ đã chuẩn bị sẵn để học sinh tham
khảo.
*Ví dụ 2:
Củng cố kiến thức về các loại đột biến sau khi học xong chương I:
Cơ chế di truyền và biến dị.
- Giáo viên yêu cầu học sinh xác định từ trung tâm: ĐỘT BIẾN.
- Nêu những loại đột biến chính đã học ( Nhánh cấp 1):
+ Đột biến gen.
+ Đột biến nhiễm sắc thể.
- Trong các loại đột biến đó có những dạng nào?
+ Đột biến gen: ( dạng đột biến điểm )
- Thay thế 1 cặp nuclêôtit.
- Thêm cặp nuclêôtit.
- Mất cặp nuclêôtit.
+ Đột biến NST: - Đột biến cấu trúc: ( 4 dạng).
- Đột biến số lượng: ( 2 dạng)
19
Nguyên nhân, cơ chế, hậu quả của từng dạng?
- Trên cơ sở đó học sinh củng cố lại kiến thức về đột biến dưới dạng sơ đồ một
cách hệ thống và khoa học.
( Phần lập bản đồ củng cố kiến thức giáo viên yêu cầu học sinh về nhà làm, sau đó
có sự kiểm tra, sửa chữa, tránh tình trạng học sinh không tham gia ôn tập mà giáo
viên không biết).
II.2.3. 4.Một số sơ đồ tư duy ví dụ minh họa khác
a. Sử dụng trong dạy kiến thức mới
- Dạy bài Môi trường và các nhân tố sinh thái: