TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
•
•
•
•
KHOA SINH - KTNN
===soEQoa===
•
PHẠM THỊ DIỆU
••
XÂY DựNG CÂU HỎI THEO QUAN ĐIỀM PISA ĐẺ
PHÁT HUY NẰNG Lực CỦA HỌC SINH TRONG
DAY HOC CHƯƠNG I, PHẦN 5
SINH HỌC 12
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
••••
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Sinh học
HÀ NỘI, 2015
Để hoàn thành khóa luận này, lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn cô
giáo T.s Đỗ Thị Tố Như - Giảng viên tổ phương pháp, khoa Sinh- KTNN,
T.s Đỗ Thị Tố Như, giảng viên khoa Sinh- KTNN,
trường ĐHSP Hà Nội 2. Mọi kết quả nghiên cứu trong đề tài đều trung thực, không
trùng vói kết quả của tác giả nào, đề tài chưa từng công bố tại bất kì một công trình
nghiên cứu khoa học nào hoặc của ai khác.
Nếu có gì sai phạm tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, ngày.......tháng........năm 2015.
Sinh viên thưc hiên
•
•
Pham Thỉ Diêu
• •
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viêttăt
Đoc là
CH
Câu hỏi
GV
Giáo viên
MỤC LỤC
1.3.
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG CÂU HỎI XÂY
DựNG THEO QUAN ĐIỂM PISA ĐẺ
PHÁTHUY NĂNG Lực HỌC
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1.
Do yêu cầu đồi mói của phương pháp dạy học
Trong những năm cuối thế kỉ 20, chuyển sang đầu thế kỉ 21, tình hình
kinh tế thế giới có hai đặc điểm nổi bật đó là: kinh tế thế giới đang chuyển
dần sang giai đoạn kinh tế tri thức và xu hướng toàn cầu hóa của nền kinh tế.
Nguyên nhân quan trọng dẫn đến các đặc điểm trên chính là các thành tựu của
cuộc cách mạng khoa học- công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin. Trong
tình hình đó ngành giáo dục với chức năng chuẩn bị lực lượng lao động cho
xã hội cũng phải chuyển biến đáp ứng tình hình. Giáo dục Việt Nam trong
những năm gần đây đang tập trung đổi mới, hướng tói một nên giáo dục tiến
bộ, hiện đại, bắt kịp xu hướng của các nước trong khu vực và trên thế giói.
Một trong những mục tiêu lớn của giáo dục nước ta hiện nay là hoạt động
giáo dục phải gắn liền với thực tiễn. Chính vì vậy, vói việc dạy học nói chung
và dạy học bộ môn Sinh học nói riêng, vai trò của việc vận dụng kiến thức
vào thực tế là cấp thiết và mang tính thòi sự. Trước đòi hỏi của thực tiễn thì
việc đổi mói giáo dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy học là hết sức cần
Vì vậy trong quá trình dạy học cần chú ý sử dụng các câu hỏi có thể giúp các
em phát huy tính tích cực, sáng tạo, khả năng vận dụng của học sinh vào thực
tiễn hay chính là phát huy được năng lực của học sinh.
Trong bối cảnh đó, nhận thức được vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng
của chương trình đánh giá quốc tế trong việc hoạch định các chiến lược và
chính sách phát triển giáo dục quốc gia nên Việt Nam đã quyết định tham gia
vào một trong những chương trình đánh giá quốc tế có uy tín và phổ biến nhất
hiện nay là PISA là viết tắt của “Programme for International Student
Assessment- Chương trình đánh giá học sinh quốc tế” do Tổ chức Hợp tác và
Phát triển kinh tế (“Organization for Co- operation and Development” viết tắt
là OECD) khởi xướng và chỉ đạo. PISA được thực hiện theo chu kì 3 năm một
lần (bắt đầu từ năm 2000). Đối tượng đánh giá là học sinh trong độ tuổi 15, độ
tuổi kết thúc giai đoạn giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia (15 năm 3
tháng đến 16 năm 2 tháng - độ tuổi PISA). Một đặc điểm nổi bật trong đánh
giá PISA là nội dung đánh giá được xác định dựa trên kiến thức, kĩ năng cần
thiết cho tương lai, không dựa vào các chương trình giáo dục quốc gia. Đây
chính là điều mà PISA gọi là “năng lực phổ thông”. Một trong các năng lực
được đánh giá trong PISA là năng lực khoa học. Trong PISA các tình huống
được đưa ra để đánh giá năng lực này có liên quan mật thiết đến những vấn đề
7
trong cuộc sống của cá nhân hàng ngày, những vấn đề của cộng đồng và toàn
cầu.
1.3.
Vai trò của câu hỏi theo quan điểm PISA trong việc phát huy
năng lực ngưM học
- Xác định cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về câu hỏi theo quan điểm
PISA trong quá trình dạy học.
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng câu hỏi theo quan điểm PISA trong dạy
học môn sinh học ở trường THPT.
- Nghiên cứu quy trình xây dựng câu hỏi theo quan điểm PISA và xây
dựng hệ thống câu hỏi theo quan điểm PISA trong dạy học Chương I,
Phần 5, Sinh học 12.
- Đánh giá hiệu quả của hệ thống câu hỏi theo quan điểm PISA.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến nội dung Chương I, Phần 5,
Sinh học 12 như: SGK Sinh học 12, sách phương pháp giảng dạy Sinh học
dành cho giáo viên, giáo trình, luận văn, sách tham khảo, tạp chí và các
webside làm cơ sở khoa học cho đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra:
Điều tra chất lượng việc dạy và học Chương I, Phần 5, Sinh học 12 bằng
việc quan sát dự giờ ở trường THPT.
Điều tra thực trạng việc dạy học và kiểm tra đánh giá theo quan điểm
PISA tại các trường THPT thông qua trao đổi, phỏng vấn giáo viên và học
sinh cùng với tham khảo các bài kiểm tra và kết quả kiểm tra đánh giá.
- Phương pháp chuyên gia:
9
Sau khi xây dựng được bộ câu hỏi theo quan điểm PISA trong dạy học
Chương I, Phần 5, Sinh học 12 THPT chúng tôi sẽ tham khảo ý kiến của một
số giảng viên, giáo viên có kinh nghiệm.
8. Dự kiến những đóng góp của đề tài
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng câu
- Lần đầu tiên PISA được triển khai vào năm 2000 với 43 nước tham gia,
trong đó có 14 nước không thuộc khối OECD.
1
0
- Lần thứ 2 được tổ chức vào năm 2003, có 41 nước tham gia, trong đó
có 10 nước không thuộc khối OECD.
- Lần thứ 3 (năm 2006) có 57 nước tham gia trong đó có 27 nước không
thộc khối OECD.
- Lần thứ 4 (năm 2009) có 67 nước tham gia trong đó có 36 nước không
thuộc khối.
- Ở khu vực châu Á, ngoài các nước trong OECD (Nhật Bản, Hàn Quốc),
còn có các nước và vùng lãnh thổ khác tham gia như: Thượng Hải,
Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan, Singapo, Thái Lan, Indonesia.
1.1.1.2. PISA Việt Nam
- Ngày 27/10/2008 Phó thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân có văn
bản giao Bộ GD-ĐT tiến hành khẩn trương để đăng ký Việt Nam tham
gia Chương trình quốc tế đánh giá học sinh (Programme for
International Student Assessment - PISA)
- Ngày 22/10/2009 Phó thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân có thư
gửi ông Angel Gurria, Tổng Thư ký OECD đề nghị chấp nhận Việt
Nam tham giaPISA 2012.
- Ngày 11/11/2009: OECD có thư chính thức gửi Phó thủ tướng, Bộ
trưởng Nguyễn Thiện Nhân về việc đồng ý đề Việt Nam tham gia
PISA.
- Theo kế hoạch của Bộ GD&ĐT, từ năm 2012 Việt Nam sẽ tham gia
chương trình PISA để đến năm 2020 kịp xây dựng chiến lược giáo dục
phù hợp, đáp ứng những tiêu chuẩn tiên tiến của quốc tế.
khai PISA tại Việt Nam. Tuy nhiên, lần đầu tiên Việt Nam tham gia
một kỳ thi mang tính quốc tế lại yêu cầu kỹ thuật cao và nghiêm ngặt
như PISA, Việt Nam vẫn còn thiếu kinh nghiệm tổ chức và dù đã có
một số chuyên gia nhưng lực lượng chuyên gia chuyên nghiệp vẫn còn
mỏng.
•
Các tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt rất ít, chủ yếu bằng tiếng nước
ngoài, là khó khăn không nhỏ cho việc tìm hiểu và tiếp cận vói PISA
lần này.
•
Việt Nam chưa xây dựng được dữ liệu đầy đủ về các trường có học sinh
ở độ tuổi 15, trong khi đó, Việt Nam có rất nhiều loại hình trường,
nhiều tổ chức quản lý, do đó rất khó khăn trong công việc chọn mẫu.
1
2
•
Công tác dịch thuật theo yêu cầu của PISA là một vấn đề thách thức đối
với đội ngũ dịch thuật của Việt Nam.
•
Cách thức ra đề thi và cách thức đánh giá của PISA yêu cầu học sinh
Lĩnh vực Toán học: là lĩnh vực trọng tâm của kỳ PISA 2012. Việt Nam
đứng thứ 17/65. Điểm trung bình của OECD (Mean Score) là 494 thì
Việt Nam đạt 511. Như vậy, năng lực Toán học của HS VN ở top cao
hơn chuẩn năng lực của OECD.
•
Lĩnh vực Đọc hiểu: Việt Nam đứng thứ 19/65, điểm trung bình của
OECD là 496 thì Việt Nam đạt 508, như vậy, năng lực Đọc hiểu của HS
Việt Nam cao hơn chuẩn năng lực của OECD.
1
3
•
Lĩnh vực Khoa học: Việt Nam đứng thứ 8/65. Điểm trung bình của
OECD là 501 thì Việt Nam đạt 528. Việt Nam đứng sau các nước/vùng
kinh tế theo thứ tự: Thượng Hải, Hồng kông, Singapore, Nhật bản,
Phần lan, Estonia, Hàn Quốc.
Như vậy, kết quả thi của Việt Nam khá cao so trong bảng xếp hạng các
nước trên thế giới tham gia kỳ thi PISA 2012, đứng trong top 20 nước cỏ
điểm chuẩn các lĩnh vực Toán, Đọc hiểu, Khoa học cao hơn điểm trung bình
của OECD.
1.1.2.
1.1.2.1.
- Cho tới nay PISA là cuộc khảo sát giáo dục duy nhất chỉ chuyên đánh giá về
năng lực phổ thông của học sinh ở độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giáo dục bắt
buộc ở hầu hết các quốc gia.
- PISA chú trọng xem xét và đánh giá một số vấn đề sau:
•
Chính sách công (public policy): các chính phủ, các nhà trường, giáo viên và
phụ huynh đều muốn có câu trả lòi cho tất cả các câu hỏi như “Nhà trường
của chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ cho những người trẻ tuổi trước những thách
thức của cuộc sống của người trưởng thành chưa?”, “Phải chăng một số loại
hình giảng dạy và học tập của những noi này hiệu quả hơn những nơi khác?”
và “Nhà trường có thể góp phần cải thiện tương lai của học sinh có gốc nhập
cư hay có hoàn cảnh khó khăn không?”,. •.
•
Hiểu biết phổ thông (literacy): thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các
chương trình giáo dục cụ thể, PISA chú trọng việc xem xét đánh giá về
các năng lực của học sinh trong việc ứng dụng các kiến thức và kĩ năng
phổ thông cơ bản vào các tình huống thực tiễn. Ngoài ra còn xem xét
đánh giá khả năng phân tích, lí giải và truyền đạt một cách có hiệu quả
các kiến thức và kĩ năng đó thông qua cách học sinh xem xét, diễn giải
và giải quyết các vấn đề.
•
Học tập suốt đời (lifelong learning): học sinh không thể học tất cả mọi
thứ cần biết trong nhà trường. Để trở thành những người có thể học tập
suốt đời có hiệu quả, ngoài việc thanh niên phải có những kiến thức và
kĩ năng phổ thông cơ bản họ còn phải có cả ý thức về động cơ học tập
và cách học. Do vậy PISA sẽ tiến hành đo cả năng lực thực hiện của
- Cho phép so sánh việc học tập và môi trường học tập cho học sinh giữa
các nước.
1.2.
1.2.1.
Ctf sở lý luận của đề tài
Câu hỏi và câu hỏi theo quan điểm PISA
1
6
1.2.1.1.
Bản chất câu hỏi
Câu hỏi có một tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động nhận thức thế
giới của loài người và trong dạy học. Aristotle là người đầu tiên đã biết phân
tích câu hỏi dưới góc độ logic và lúc đó ông cho rằng đặc trưng cơ bản nhất
của câu hỏi là buộc ngưòi bị hỏi phải lựa chọn các giải pháp có tính trái ngược
nhau, do đó con người phải có phản ứng lựa chọn hoặc cách hiểu này, hoặc
cách hiểu khác. Tư tưởng quan trọng bậc nhất của ông còn nguyên giá trị đó
là: “ Câu hỏi là một mệnh đề trong đó chứa đựng cả cái đã biết và cái chưa
biết”.
Câu hỏi = Cái đã biết + Cái chưa biết.
Như vậy, tròn đòi sống cũng như trong nghiên cứu khoa học, con người
chỉ nêu ra những thắc mắc, tranh luận khi đã biết nhưng chưa đầy đủ, cần biết
thêm. Còn nếu khi không biết gì hoặc biết tất cả về sự vật nào đó thì không có
gì để hỏi về sự vật đó nữa. Do đó, tương quan giữa cái đã biết và chưa biết
thúc đẩy mở rộng hiểu biết của con người. Con người nếu muốn biết về một
- Dạy học bằng câu hỏi còn rèn luyện cho HS kĩ năng diễn đạt bằng lời
nói thông qua phát biểu tại lớp sẽ phát triển được kĩ năng diễn đạt, lập
luận, logic. Thông tin được tích lũy sẽ dần tạo điều kiện phát sinh ý
tưởng.
- Dạy học bằng câu hỏi giúp GV đánh giá HS về mặt kiến thức, thái độ,
vì câu hỏi là biện pháp phát hiện, tự phát hiện thông tin ngược về kết
quả nhận thức.
- Dạy học bằng câu hỏi giúp khắc phục được tình trạng ghi nhớ máy
móc.
Như vậy, dạy học bằng câu hỏi vừa giúp HS lĩnh hội được tri thức một
cách có chủ động, vừa rèn luyện cho các em thao tác tư duy độc lập, tích cực,
sáng tạo, vừa rèn luyện được phương pháp học tập.
1
8
1.2.1.3. Phân loại câu hỏi
> Dựa vào năng lực nhận thức của HS chia 3 cách:
Cách 1: gồm câu hỏi trình độ thấp và câu hỏi trình độ cao.
Cách 2: gồm 5 loại:
+ Loại CH kích thích sự quan sát chú ý.
+ Loại CH yêu cầu so sánh, phân tích.
+ Loại CH yêu cầu tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa.
+ Loại CH liên hệ với thực tế.
+ Loại CH kích thích tư duy sáng tạo, hướng dẫn HS nêu vấn đề, đề xuất
giả thuyết.
Cách 3: Theo Benjamin Bloom cải tiến (2001) đã đề xuất thang 6
mức câu hỏi.
> Dim vào muc đích lí luân day hoc, chm thành 3 loai:
CH để kiểm tra sự ghi nhớ kiến thức đã học.
CH kiểm tra sự nắm vững bản chất của kiến thức.
CH kiểm tra khả năng vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết
nhiệm vụ nhận thức mới.
CH kiểm tra sự nắm vững giá trị của kiến thức.
CH kiểm tra thái độ, hành vi của ngưòi học sau khi kết thúc một chủ
đề nào đó.
> Dựa vào nội dung mà câu hỏi phản ánh, chia thành:
Câu hỏi nêu các sự kiện.
Câu hỏi xác định các dấu hiệu bản chất.
Câu hỏi xác định mối quan hệ.
Câu hỏi xác định cơ chế.
Câu hỏi xác định phương pháp khoa học.
Câu hỏi xác định ý nghĩa lí luận hay thực tiễn của kiến thức.
1.2.1.4.
Xây dựng câu hỏi
❖ Nguyên tắc khi xây dựng câu hỏi:
Bám sát mục tiêu dạy học.
Đảm bảo nội dung khoa học, cơ bản, chính xác của kiến thức.
2
0
Phát huy được tính tích cực trong học tập của học sinh.
Phù hợp với trình độ, đối tượng học sinh.
Phản ánh được tính hệ thống và khái quát.
❖ Qui ừình xây dựng câu hỏi:
thích sự tìm tòi ở HS.
Các tiêu chí chất lượng câu hỏi:
Câu hỏi xây dựng phải bám sát mục tiêu dạy học.
Hướng vào nội dung cơ bản trọng tâm của bài học.
Phát triển được các mức độ tư duy khác nhau ở HS.
Vừa sức, phù hợp với trình độ và năng lực khác nhau của HS.
Diễn đạt rõ ràng chính xác, chỉ rõ được điều cần hỏi.
1.2.1.6.
Câu hỏi theo quan điểm PISA
Câu hỏi theo quan điểm PISA là câu hỏi đưa ra vói mục đích tập trung
yêu cầu HS biết và giải thích các hiện tượng khoa học. Do đó, khi HS trả lời
sẽ tăng khả năng về khoa học tức là HS sử dụng kiến thức và kĩ năng khoa
học trong nhiều lĩnh vực tình huống khác nhau có thực trong đòi sống, rèn
luyện khả năng sống cho tương lai.
Các kiểu câu hỏi theo quan điểm PISA thường sử dụng:
- Câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chon kiểu đơn giản.
- Câu hỏi Đúng/ Sai (Có/ không) phức hợp.
- Câu hỏi mở đòi hỏi trả lòi ngắn.
- Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời dài.
- Câu hỏi yêu cầu HS đọc và trích rút thông tin từ biểu đồ ( hình cột,
tròn) đồ thị để trả lòi câu hỏi.
- Câu hỏi yêu cầu học sinh lập luận và suy luận 1 cách logic dựa trên tình
huống thực tế.
1.2.2.
Các năng lực của học sinh trong PIS A
1.2.2.1.
năng tiến hành hoạt động và điều kiện tâm lí để thực hiện những tri thức, kĩ
năng đó trong bối cảnh cụ thể) nên việc phát triển năng lực cần dựa trên cơ sở
phát triển tổng hợp các yếu tố đó. Sự phát triển năng lực về thực chất là làm
2
3
thay đổi cấu trúc nhận thức và hành động của mỗi cá nhân chứ không chỉ đơn
thuần là sự bổ sung các mảng kiến thức riêng rẽ. Việc phát triển các năng lực
thành phần phải thông qua thực hành các tình huống trong một thòi gian nhất
định. Nếu sử dụng tích cực và thường xuyên một loại năng lực nào đó, năng
lực này sẽ trở lên mạnh hơn, độ thành thạo cao hơn và ngược lại. Mỗi người
có thể có sự thành thạo khác nhau về năng lực nhất định khi xử lí một tình
huống cụ thể. Năng lực được hình thành và phát triển ở trong và ngoài nhà
trường.
1.2.2.2. Phân loại năng lực
Nhìn vào chương trình thiết kế theo hướng tiếp cận năng lực của các
nước thì năng lực được chia làm 2 loại chính: Năng lực chung và năng lực cụ
thể, chuyên biệt.
Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi... làm
nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề
nghiệp.
Một số năng lực chung như:
-
Năng
lực
2
4
tạo.
-
Năng
lực giao tiếp.
Năng lực cụ thể, chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát
triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt
trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù,
cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của
một hoạt động như Toán học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao, Địa lí,...
Năng lực học tập Sinh học thuộc năng lực cụ thể, chuyên biệt.
1.2.2.3. Các năng lực được đánh giá theo quan điểm PISA
Khái niệm literacy (tạm dịch là năng lực phổ thông) là một khái niệm
quan trọng trong việc xác định nội dung đánh giá của PISA.Việc xác định
khái niệm này xuất phát từ quan tâm tói những điều mà một học sinh sau giai
đoạn giáo dục cơ sở cần biết, trân trọng và có khả năng thực hiện - những điều
cần thiết chuẩn bị cho cuộc sống trong một xã hội hiện đại. Các lĩnh vực năng
lực phổ thông về làm toán, về khoa học, về đọc hiểu được sử dụng trong
PISA.
- Năng lực toán học:
Là khả năng nhận biết vai trò của Toán học trong đời sống, đưa ra những
nhận định có cơ sở vững chắc và sử dụng Toán học để phục vụ đòi sống vói tư
cách là một công dân gương mẫu, tiên tiến, mong muốn xây dựng và đóng