Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu
I. PHẦN MỞ ĐÀU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Non sông Việt Nam có trở
nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai
với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công
học tập của các em”. Thực hiện lời dạy đó của Người, thế hệ trẻ đã và đang ra sức
học tập, phấn đấu để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và từng bước sánh
vai với các cường quốc năm châu trên thế giới. Quá trình học tập, phấn đấu của thế
hệ trẻ là một quá trình phát triển lâu dài. Để sau này trở thành những chủ nhân góp
phần dựng xây đất nước thì mỗi cá nhân phải có sự rèn luyện và nỗ lực ngay từ
đầu. Sự phát triển của mỗi cá nhân có sự đóng góp quan trọng của người thầy,
người cô, đặc biệt là lúc bắt đầu bước vào tuổi đi học.
Trong xu thế phát triển của đất nước hiện nay, từ những thay đổi quan trọng
về kinh tế, xã hội, đòi hỏi giáo dục phải nâng cao chất lượng giảng dạy. Để nâng
cao chất lượng giảng dạy, mỗi giáo viên phải không ngừng học tập và trao dồi kiến
thức nhằm tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp để truyền thụ cho học sinh.
Ở trường tiểu học môn Tiếng Việt có nhiệm vụ vô vùng quan
trọng đó là hình thành 4 kỹ năng: Nghe – nói - đọc – viết cho học
sinh. Kỹ năng đọc là một trong số công cụ sử dụng trong học tập và trong giao
tiếp. Kỹ năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát,
trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều
mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Có đọc đúng
thì mới viết đúng, mới hiểu được nội dung mình vừa đọc. Chính vì
thế kỹ năng đọc có một vị trí quan trọng không thiếu được trong chương trình
môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học.
Cùng với kỹ năng viết, kỹ năng đọc có nhiệm vụ lớn lao là trao cho các em
cái chìa khóa để vận dụng chữ viết trong học tập. Khi biết đọc, biết viết các em có
điều kiện nghe lời thầy giảng trên lớp, sử dụng sách giáo khoa, sách tham
khảo,...,từ đó có điều kiện học tốt các môn học học khác có trong chương trình.
của học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số. Từ đó góp phần nâng cao chuyên môn nghiệp
vụ cho bản thân, nâng cao chất lượng đọc của học sinh nhất là đọc hiểu tiếng Việt,
dần dần nâng cao chất lượng môn học tiếng Việt của học sinh lớp 1 dân tộc thiểu
số, góp phần đưa chất lượng giáo dục ngày một tốt hơn.
Nhiệm vụ của đề tài: Tìm ra được biện pháp giúp học sinh đọc đúng, biết sửa
sai trong quá trình phát âm tiếng Việt để học tốt môn Tiếng Việt. Khắc phục được
những lỗi mà học sinh thường mắc phải để mỗi giáo viên có hướng rèn luyện, bồi
dưỡng hiệu quả việc phát âm tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số khi bắt đầu
bước vào lớp đầu cấp.
3. Đối tượng nghiên cứu
Một vài kinh nghiệm rèn kỹ năng đọc đúng cho học sinh lớp Một dân tộc
thiếu số ở trường tiểu học Võ Thị Sáu.
4. Giới hạn của đề tài
Học sinh lớp 1A, Trường Tiểu học Võ Thị Sáu, xã Ea Bông, huyện Krông
Ana, tỉnh Đắk Lắk năm học 2016 – 2017 ( từ tháng 9/2016 đến tháng 3/2017).
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp trải nghiệm thực tế
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thống kê, tổng hợp
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
GV: Trần Thị Minh Năm học 2016 - 2017
2
Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Trường tiểu học Võ Thị Sáu có 97,5% học sinh dân tộc thiểu số. Các em gặp
không ít khó khăn trong cuộc sống, sinh hoạt, học tập đó là: thiếu điều kiện học tập,
quá trình học không liên tục, kiến thức nắm không vững chắc, thiếu động cơ học
tập. Biết đọc, biết viết là mục tiêu số một ở học sinh Tiểu học. Vốn tiếng Việt là rất
cần thiết trước khi học chữ. Không biết hoặc biết ít tiếng Việt là trở ngại lớn nhất
cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số. Tập nói tiếng Việt là nhiệm vụ đầu tiên với các
em. Học sinh dân tộc cần có vốn tiếng Việt trước để học chữ. Bộ giáo dục đã có
nhiều văn bản chỉ đạo như công văn 9832/ BGD&ĐT - GDTH ngày 1 tháng 9 năm
2006, công văn 9890/ BGD&ĐT – GDTH ngày 17 tháng 9 năm 2007 về việc
hướng dẫn nội dung, phương pháp giáo dục cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn.
Ngày 9 tháng 8 năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức hội nghị "Triển khai
GV: Trần Thị Minh Năm học 2016 - 2017
3
Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu
các phương án tăng cường tiếng Việt (lớp 1) cho học sinh dân tộc thiểu số ". Tại
hội nghị, xuất phát từ những quan điểm, lý luận giáo dục và cách tiếp cận gắn với
đặc điểm học sinh dân tộc các vùng miền, năm phương án về chủ đề này đã được
trình bày, và trao đổi ý kiến rộng rãi. Đó là: Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo
trước tuổi đến trường (Vụ GD Mầm non). Dạy tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ
trong chương trình song ngữ Ê- đê - Việt (Vụ GD Dân tộc). Nghiên cứu thử
nghiệm giáo dục song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ (Trung tâm Nghiên cứu GD dân
tộc). Dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 1(Nhóm
tăng cường năng lực dạy và học- Dự án PEDC). Dạy học lớp 1 cho học sinh dân
tộc chưa biết nói tiếng Việt (Trung tâm Công nghệ GD). Công văn số 8114/
BGD&ĐT- GDTH V/v nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số
ban hành ngày 15 tháng 9 năm 2009.
Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu
100% học sinh được học 8 buổi / tuần.
* Khó khăn
Về nhà trường: Cơ sở vật chất chưa đáp ứng với nhu cầu giảng dạy.
Về giáo viên: Năng lực không đồng đều, số giáo viên là người dân tộc thiểu
số trong khối chiếm 75% .
Tranh ảnh minh họa có sẵn cho môn Tiếng Việt còn hạn chế. Giáo viên còn
mất thời gian đầu tư vào làm đồ dùng dạy học.
Về học sinh
Năm học 2016 – 2017, học sinh dân tộc thiểu số không được cấp phát đầy đủ
sách vở nên một số em đi học còn thiếu sách vở, đồ dùng học tập. Trong lớp có
85% học sinh là người đồng bào dân tộc thiểu số, tỉ lệ học sinh con hộ nghèo 45%.
Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều. Bên cạnh những em phát triển,
học tốt, tiếp thu nhanh vẫn còn một số em khó khăn về thể chất, bé nhỏ hơn so với
các bạn bình thường kèm theo phát triển chậm về trí nhớ, học trước quên sau, chậm
tiến. Một số em chưa biết cách cầm bút, chưa nhớ các chữ cái, không có khả năng
ghi nhớ. Một số em chưa có ý thức trong học tập và không muốn đi học.
Do đặc trưng người dân tộc Ê- đê các em chủ yếu phát âm sai ở dấu thanh,
một số phụ âm đầu như p / ph ; r/d và vần như êch/ êt; eo/oe,…
Đa số các em con nhà nông nên chưa được cha mẹ quan tâm đúng mức đến
việc học tập, chưa tạo điều kiện tốt để kèm cặp con em mình học bài, đọc bài ở
nhà.
Trong quá trình truyền thụ kiến thức một số học sinh hay nghỉ học, tiếp thu
bài chậm cộng với số học sinh lưu ban của năm học trước, số học sinh ham chơi
không học bài làm cho giáo viên lớp một vốn đã khó khăn nay lại càng khó khăn
hơn.
b. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Trong những năm gần đây nhờ sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Phòng
GD&ĐT, sự quan tâm phối hợp của địa phương, sự chỉ đạo linh hoạt của Ban lãnh
Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Một số giáo viên chưa chú ý đến việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức
dạy học làm thế nào để các đối tượng học sinh nắm được kiến thức biết đọc ,
biết viết.
Nguyên nhân là do giáo viên phải dạy nhiều môn, một số giáo viên tuổi cao
nên chưa theo kịp sự đổi mới, chưa chịu khó tìm tòi những phương pháp dạy
học hữu hiệu trong giảng dạy. Vì thế chưa tạo hứng thú lôi cuốn được sự tập
trung chú ý nghe giảng của học sinh. Bên cạnh đó tiếng Việt lại là ngôn ngữ thứ
hai của các em học sinh dân tộc thiểu số, đây là kiến thức mới mẻ đối với các
em.
c. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra
GV: Trần Thị Minh Năm học 2016 - 2017
7
Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Năm học 2016 – 2017, tôi được phân công dạy lớp 1A và trực tiếp giảng dạy
môn Tiếng Việt. Khả năng học tập của các em chưa đồng đều, có em đọc viết
rất tốt nhưng vẫn có em chỉ biết đánh vần, có em chưa biết đọc. Tuy nhiên với
các em học sinh lớp Một dân tộc thiểu số thì tiếng Việt là môn học mà các em
gặp rất nhiều khó khăn. Cho nên, khi dạy môn Tiếng Việt nhất là trong thời
gian đầu năm, các em rất lúng túng khi sử dụng đồ dùng học tập và tham gia
đọc, viết bài. Thực tế cho ta thấy việc giúp học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số học
người đang trực tiếp tham gia giảng dạy trong vùng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó
một số gia đình còn cho con em nghỉ học đi nương đi rẫy trong dịp mùa màng. Một
số em ít được cha mẹ quan tâm nhắc nhở các em đi học, còn đổ lỗi và đẩy trách
nhiệm cho giáo viên. Việc đi học không đều cũng ảnh hưởng đến việc học tập của
GV: Trần Thị Minh Năm học 2016 - 2017
8
Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu
các em. Lớp học có nhiều đối tượng khác nhau, việc phân chia kiến thức trong một
tiết học còn nhiều khó khăn và hạn chế.
Đặc biệt ở lớp tôi dạy với 85% là học sinh dân tộc thiểu số, hoàn cảnh gia
đình nhiều em gặp không ít khó khăn do đó các em đi học còn thiếu thốn nhiều thứ
cụ thể có em chưa có sách vở, có em chưa có bộ quần áo đồng phục, có em đến lớp
quên bút, quên chì, quên bảng con. Thậm chí có em còn không có cặp đựng sách
mà chỉ đựng sách vở bằng chiếc túi ni lông nên việc mất đồ dùng học tập xảy ra
thường xuyên,… Do ảnh hưởng của tiếng mẹ nên đa số các em tiếp thu bài chưa
tốt, khả năng ghi nhớ chậm. Do đó việc dạy học tiếng Việt cho các em lại càng khó
hơn.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp
a. Mục tiêu của giải pháp
Việc rèn kĩ năng đọc đúng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là việc
làm cấp bách nhằm giúp các em học tốt môn Tiếng Việt. Thông qua đó phát triển
các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho các em. Giúp học sinh hiểu nội dung kiến thức
được học, mở rộng vốn từ, khắc sâu kiến thức, nắm chắc âm vần vừa học, biết vận
dụng vào từng trường hợp cụ thể. Từ đó nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng
Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số, biết sử dụng tiếng phổ thông vào trong
cuộc sống hằng ngày, giúp các em hòa nhập với cộng đồng. Đó cũng là giúp các
Biết 2 – 5 chữ cái
:
3 em
Biết 6 – 10 chữ cái
:
9 em
Nhận biết hết bảng chữ cái
:
8 em
Nhận biết âm hai chữ cái
:
3 em
Như vậy tỉ lệ học sinh nhận diện một cách chắc chắn chính xác bảng chữ cái
còn thấp dẫn đến kết quả học tập còn gặp nhiều khó khăn.
Một trong những lý do dễ thấy là vì các em còn quá nhỏ, chưa có ý thức tự
giác trong học tập. Vì vậy giáo viên chúng ta phải biết được đặc điểm của từng đối
tượng, khả năng tiếp thu của từng em để phát huy tính tích cực ham học cho học
10
Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Từ thực trạng trên tôi đã tiến hành họp cha mẹ học sinh đầu năm học, thông
qua buổi họp tôi đề nghị và yêu cầu các bậc cha mẹ học sinh trang bị đầy đủ sách
vở, đồ dùng cần thiết phục vụ cho môn học và thường xuyên nhắc nhở việc học bài
đọc bài ở nhà của con em mình, đồng thời hướng dẫn phụ huynh cơ bản về cách
đọc, cách phát âm chữ cái, cách đánh vần vần, đánh vần tiếng …để phụ huynh nắm
rõ cách dạy học hỗ trợ giáo viên kèm cặp con em mình ở nhà.
Tham mưu với nhà trường mua sắm đầy đủ tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy
học, tự làm thêm tranh ảnh mô hình, sưu tầm thêm những mô hình vật thật để tiết
dạy vui, sinh động. Mượn đồ dùng học tập, sách giáo khoa cho học sinh có hoàn
cảnh khó khăn. Đồng thời tăng cường vận dụng ứng dụng công nghệ thông tin
trong dạy học, qua những hình ảnh động cũng góp phần gây hứng thú giúp các em
hưng phấn trong luyện đọc .
Xây dựng đôi bạn cùng tiến, em có năng khiếu giúp em còn khó khăn trong
học tập.
Phát động các phong trào thi đua có tổng kết khen thưởng bằng những vật
thật.
Sắp xếp chỗ ngồi đảm bảo thuận tiện cho việc học tập của các em như em có
năng khiếu ngồi bên em còn khó khăn trong học tập để bạn có năng khiếu sẽ giúp
bạn còn khó khăn trong học tập khi chỉ chữ đọc bài, giúp bạn đánh vần, đọc tiếng
và giúp bạn trong thao tác cài chữ để ghép vần, ghép tiếng.
Giải pháp thứ tư. Giúp học sinh nắm vững các âm, vần
Ngay từ đầu năm, sau khi phân loại học sinh, tiến hành bồi dưỡng, luyện tập
cho học sinh theo các mức năng khiếu, khó khăn. Đối với các học sinh còn khó
khăn trong học tập, các em chưa nhận diện được mặt chữ cái hoặc chưa nhớ đủ 29
nét cong trên
nét cong dưới
+ Nhóm nét móc:
nét móc xuôi phải
nét móc xuôi trái
nét móc ngược phải
nét móc ngược trái
nét móc hai đầu
nét móc hai đầu có thắt ở giữa
+ Nhóm nét khuyết: nét khuyết trên
nét khuyết dưới
+ Nhóm nét thắt:
nét thắt
nét móc hai đầu có thắt ở giữa
Khi các em đã học thuộc tên các nét cơ bản, tôi cùng các em phân chia các
chữ cái theo nhóm các chữ cái đồng dạng để dễ dàng luyện đọc.
- Các chữ viết thường
+ Nhóm 1: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét cong: c, o, ô, ơ, e, ê, x.
gồm 7 chữ cái)
+ Nhóm 2: Những chữ cái có nét cơ bản là nét cong phối hợp với nét móc
(hoặc nét thẳng): a, â, ă, d, đ, q. (gồm 6 chữ cái)
+ Nhóm 3: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét móc: i, t, u, u, p, n, m
(gồm 7 chữ cái)
+ Nhóm 4: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét khuyết (hoặc nét cong)
phối hợp với nét móc: l, h, k, b, y, g (gồm 6 chữ cái)
Ví dụ:
Âm: a – a
;
g–g
+ Âm a (âm a in thường) gồm hai nét: nét cong kín và nét sổ thẳng;
+ Âm a (âm a viết thường) cũng gồm hai nét đó là nét cong kín và nét móc
dưới.
+ Âm g (âm g in thường) gồm: nét cong kín và nét móc dưới;
+ Âm g (âm g viết thường) cũng gồm nét cong kín và nét khuyết dưới.
Vì vậy, khi các em đã nắm các nét chữ cơ bản thật kỹ và tỉ mỉ sẽ giúp các
em phân tích được cấu tạo của các âm, từ đó các em dễ phân biệt được sự khác
nhau về cấu tạo lẫn tên gọi của bốn âm quen thuộc sau: d; b; p; q.
Ví dụ:
+ Âm d gồm hai nét: nét cong kín (nằm bên trái) và nét sổ thẳng (nằm bên
phải). Đọc là: “dờ”.
GV: Trần Thị Minh Năm học 2016 - 2017
13
Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu
+ Âm b gồm hai nét: nét sổ thẳng (nằm bên trái) và nét cong kín (nằm bên
phải). Đọc là: “bờ”.
+ Âm p gồm hai nét: nét sổ thẳng (nằm bên trái) và nét cong kín (nằm bên
phải). Đọc là: “pờ”.
+ Âm q gồm hai nét: nét cong kín (nằm bên trái) và nét sổ thẳng (nằm bên
– gh
* Phần học vần
Sang giai đoạn học vần, học sinh đã nắm vững các âm, các em còn được làm
quen với các kiểu chữ hoa: chữ viết hoa, chữ in hoa nên tôi tập cho học sinh nhận
biết các kiểu chữ hoa một cách chính xác để các em đọc đúng.
Để giúp trẻ học tốt phần vần, tôi tập cho học sinh thói quen nhận diện, phân
tích cấu tạo của vần, nhận biết vị trí các âm trong vần.
GV: Trần Thị Minh Năm học 2016 - 2017
14
Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Ví dụ : Bài 72: et – êt.
Việc đầu tiên tôi yêu cầu học sinh tìm trong bộ đồ dùng tiếng Việt rồi ghép
vần et. Sau đó cho học sinh nhận diện về cấu tạo vần et: vần et gồm 2 âm, âm e
đứng trước và âm t đứng sau. Nếu em nào ghép chưa đúng thì ghép lại và nêu vị trí
âm trong vần: âm e đứng trước, âm t đứng sau.
Việc thứ hai là đánh vần vần et, tôi gọi 1 em đánh vần rồi nêu cách đánh
vần âm e đứng trước ta đọc e trước, âm t đứng sau ta đọc t sau : e – t – et .
Việc thứ ba là đọc trơn vần et
Với cách dạy trên tôi đã tạo cho các em kỹ năng phân tích, nhận diện và
ghép vần từ đó các em có kĩ năng đánh vần, đọc trơn vần một cách dễ dàng và
thành thạo. Khi đã nắm được cấu tạo của vần thì các em sẽ vận dụng để đọc các từ
ngữ và câu ứng dụng. Lúc này tôi tiến hành đưa ra câu hỏi gợi mở giúp các em
nhận biết và đọc tiếng mới cụ thể như muốn có tiếng tét, ta thêm âm và dấu thanh
gì? ( ta thêm âm t và dấu thanh sắc). Dựa vào đó học sinh ghép tiếng tét rồi phân
vần chỉ nhìn vào bài là các em đọc được ngay tiếng, từ hoặc câu khá nhanh vì khả
năng nhận biết tốt. Đối với học sinh còn khó khăn trong học tập khả năng nhận biết
còn chậm, chưa xác định vần chính xác nên ghép tiếng rất chậm, ghép tiếng chậm
dẫn đến đọc từ chậm và đọc câu rất khó khăn. Vì thế đối với các em này, giáo viên
cần hết sức kiên nhẫn, giành nhiều cơ hội cho các em tập đọc giúp các em đọc bài
từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều. Không nên nóng vội đọc trước cho các em đọc lại
dẫn đến tình trạng đọc vẹt và tính ỷ lại thụ động của học sinh. Giáo viên nên cho
học sinh nhẩm đánh vần lại từng tiếng trong câu, đánh vần xong đọc trơn lại tiếng
đó nhiều lần để nhớ sau đó nhẩm đánh vần tiếng kế tiếp lại đọc trơn tiếng vừa đánh
vần rồi đọc lại từng cụm từ.
Ví dụ: Dạy bài tập đọc Trường em (sách giáo khoa Tiếng Việt 1, tập 2 )
Đây là bài tập đọc đầu tiên trong phần tập đọc. Sau khi đọc mẫu xong, tôi
gạch chân dưới những tiếng khó đọc rồi hướng dẫn cách đọc từ khó. Thường
thường tiếng có dấu thanh các em đọc không có dấu thanh, tiếng không có dấu
thanh thì lại đọc có dấu thanh. Cụ thể từ trường em đọc là trương em. Làm thế nào
để giúp các em đọc đúng dấu thanh, tôi tiến hành cho các em đánh vần tiếng trường
bằng cách phân tích như sau:
Tiếng trường gồm có âm gì và ghép với vần gì? Có dấu thanh gì? (Tiếng
trường gồm có âm tr ghép với vần ương và dấu thanh huyền)
Vậy tiếng trường đánh vần thế nào? (trờ - ương – trương – huyền – trường).
Như vậy khi đánh vần tiếng trường ta đọc phụ âm đầu rồi đến vần, đến dấu thanh,
cuối cùng là tiếng hoàn chỉnh.
Đọc trơn tiếng này thế nào? (trường)
Rồi cho học sinh đọc nối tiếp:
trường em.
Đối với các em còn khó khăn trong học tập chưa đọc được tiếng trường, tôi
cho học sinh ôn lại cấu tạo vần ương trong tiếng trường.
cách phát âm cho đúng. Tôi tiếp tục nêu câu hỏi Muốn có tiếng súng ta thêm âm và
dấu thanh gì? Thêm âm “s” , dấu thanh sắc. Dựa vào câu hỏi gợi mở, các em ghép
tiếng súng, phân tích cấu tạo rồi đánh vần. Khi thấy các em phát âm chưa đúng, tôi
yêu cầu em đó phát âm lại âm “s” hoặc nhắc lại cách mở môi, uốn lưỡi phát âm cho
đúng. Sau đó đọc lại tiếng “súng”.
Để dạy cho các em phát âm đúng quả là rất khó, không phải chỉ một vài hôm
là xong. Như chúng ta đã biết việc phát âm liên quan tới các cơ quan phát âm. Nếu
chúng ta giúp học sinh vừa được nghe, vừa được quan sát sự phối hợp các cơ quan
phát âm như hình dạng của môi, vị trí của răng, lưỡi thì các em sẽ dễ dàng phát âm
đúng những âm cần học hơn là chỉ được nghe. Vì vậy, khi dạy học sinh phát âm,
chúng ta cần kết hợp sử dụng nhiều phương pháp, vừa nhìn (quan sát) kết hợp với
nghe rồi làm theo mẫu và luyện tập thực hành ngay trên lớp. Trong quá trình dạy
học cần sử dụng đồ dùng trực quan để hướng dẫn các em quan sát, so sánh,…Đồ
dùng không phải lúc nào cũng đòi hỏi những thiết bị hiện đại mà có khi đơn thuần
chỉ là môi, miệng, lưỡi, răng của giáo viên khi dạy các em phát âm.
* Ví dụ: Khi dạy các em phát âm vần oa, tôi cho các em quan sát tranh vẽ
hoặc vật thật “cái loa” để nhận diện vần oa, so sánh với cách đọc âm a trong tiếng
“la” (la hét). Từ quan sát tranh, HS nghe tôi phát âm kết hợp với nhìn động tác từ
miệng của tôi để nhận ra cách đọc và làm theo mẫu. Nhất là khi phát âm những âm
có liên quan nhiều tới môi, đầu lưỡi, răng. Chẳng hạn như các âm b, đ, g, l, m, n, p,
r, s, t, v, x, tr, ch, kh,…Đây chính là các phụ âm.
Đối với những âm khó nhớ, qua việc phát âm mẫu, tôi chú trọng tới việc so
sánh các âm đó với âm khác về cách đọc giống nhau.
*Ví dụ: s – x ; tr – ch ; p – ph; l - n
Ngoài ra, với những âm không thể dùng phương pháp khẩu hình – so sánh,
tôi mô tả bằng hình vẽ hoặc bằng động tác cho dễ phân biệt. Chẳng hạn như khi
GV: Trần Thị Minh Năm học 2016 - 2017
17
những sở thích, những niềm vui hoặc những khó khăn của các em trong học tập hay
trong sinh hoạt hàng ngày.
Việc hướng dẫn HS phát âm được tiến hành ở trong giờ dạy âm, vần cũng
như khi dạy đọc, ta cần biết lựa chọn và sử dụng các phương pháp, hình thức tổ
chức dạy học một cách hợp lí bởi mỗi phương pháp mang lại một hiệu quả, không
có phương pháp nào là vạn năng. Nhất thiết các em phải được nhìn, nghe, làm theo
mẫu; luyện tập nhiều lần qua các hình thức: cá nhân, nhóm, lớp và tích hợp trong
các môn học khác mới hình thành kĩ năng để vận dụng trong giao tiếp được.
Song song với việc giúp học sinh phát âm đúng để viết đúng thì chúng ta cần
phải giúp cho các em hiểu nghĩa của từ. Để tăng cường Tiếng Việt cho học sinh đòi
hỏi người giáo viên phải chuẩn bị và sử dụng linh hoạt và phù hợp các phương tiện
hỗ trợ tiết dạy học như khai thác triệt để tranh ảnh trong sách giáo khoa, tận dụng
những vật thật, tranh ảnh có sẵn trong thực tế để các em quan sát tìm hiểu. Sưu tầm
GV: Trần Thị Minh Năm học 2016 - 2017
18
Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu
thêm một số tranh ảnh, mẫu vật có liên quan đến bài dạy. Sử dụng thường xuyên bộ
tranh Tiếng Việt, bộ đồ dùng học Tiếng Việt của học sinh và giáo viên nhằm giúp
học sinh tích cực và ham học.
Ví dụ: Dạy bài 40: iu, êu
Tôi đã cho học sinh quan sát lưỡi rìu và cái phễu thật và tranh trong sách
giáo khoa, sử dụng bộ đồ dùng học Tiếng Việt, ….
Giải pháp thứ sáu. Tổ chức trò chơi có hiệu quả trong các tiết học
Như chúng ta đã biết học sinh lớp Một rất hiếu động hay bắt chước và học
theo. Trò chơi học tập là một loại hoạt động không thể thiếu được trong mọi lứa
tuổi. Trò chơi giúp các em phát triển cả về năng khiếu lẫn tư duy. Trò chơi học tập
19
Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu
*Ví dụ: Bài 64: im-um
Tôi đưa ra các từ sau: chim, cá, tôm, hùm, bồ câu, kìm
Yêu cầu HS nối thành các cụm từ có nghĩa trong thời gian 3 phút hoàn thành
bài tập đem đính lên bảng lớp để tôi tổ chức lớp kiểm tra, bổ sung, đánh giá được
kết quả như sau:
chim
hùm
cá
bồ câu
tôm
kìm
Với trò chơi “Thi tìm tiếng có âm, vần vừa học” tôi tổ chức cho các em
chơi vào cuối tiết 1, tiết 2 sau khi đã học xong vần uôn, ươn. Thông qua trò chơi
giúp học sinh mở rộng vốn từ, khắc sâu kiến thức, nắm chắc vần vừa học, biết vận
dụng vào từng trường hợp cụ thể. Trước khi chơi, tôi cho các em chuẩn bị phấn
viết, bảng con, giẻ lau.
Ví dụ: Khi dạy bài 50: uôn , ươn sách giáo khoa Tiếng Việt 1, tập 1 trang
102, sau khi đã nhận biết hai vần, tôi chia nhóm, phổ biến luật chơi, quy định thời
gian và tiến hành trò chơi. Với thời gian 2 phút các nhóm thi đua tìm tiếng có vần
Trò chơi này nhằm củng cố kiến thức đồng thời rèn luyện cho học sinh tính
nhanh nhẹn.
Ở phần luyện viết, tôi tổ chức Trò chơi “Nét chữ nết người” giúp học sinh
viết đúng các chữ ghi âm, vần, tiếng đã học. Rèn luyện đức tính chăm chỉ, cẩn thận
và kiên nhẫn trong học tập.
Ví dụ: Dạy bài 67 : Ôn tập, sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1, tập 1 trang 136.
Sau khi các em đã đọc thành thạo các vần có âm m ở cuối, tôi phát cho mỗi em một
quyển vở trong đó đã viết mẫu để các em viết theo. Phổ biến cách thực hiện: trong
cùng thời gian nhất định, khi có lệnh của GV các em thi đua viết theo mẫu; yêu cầu
viết đúng, thẳng dòng, đẹp. Em nào có bài viết đủ nội dung theo yêu cầu, viết đúng
và đẹp (không tẩy xoá) em đó được lớp khen là “Bạn có nết tốt nhất”. Nghe xong
lệnh các em thi đua viết. Vì thế em nào cũng viết xong bài ngay tại lớp, chữ viết
cũng có nhiều tiến bộ hơn.
c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các giải pháp, biện pháp trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, giải pháp này
thúc đẩy sự phát triển của giải pháp kia và ngược lại. Chúng là cầu nối tạo nên
thành công trong công tác giảng dạy nhằm giúp các em đọc đúng trong môn Tiếng
Việt. Nếu như giáo viên nắm bắt được thực trạng, tình hình của lớp mà không lập
kế hoạch giúp đỡ các em, không hướng dẫn các em nắm bắt chắc chắn các âm, vần
thì hiệu quả giảng dạy, học tập sẽ không cao. Nắm được các âm, vần nhưng không
hướng dẫn cách phát âm, không kiểm tra đánh giá, khen thưởng kịp thời cũng
không phát hiện và điều chính khiếm khuyết của học sinh. Mặc dù nắm bắt được
thực trạng, tình hình của lớp, lập kế hoạch giúp đỡ, hướng dẫn cách phát âm, kiểm
tra đánh giá, khen thưởng kịp thời nhưng không biết tổ chức các trò chơi trong giờ
học thì cũng không tạo hứng thú học tập cho các em. Chính vì thế các biện pháp
luôn hỗ trợ cho nhau.
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
- Kết quả khảo nghiệm: Nhờ các biện pháp trên mà khả năng đọc của các
em tốt hơn. Mặc dù với 85% học sinh là người dân tộc thiểu số, khả năng nhận
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
SL
Tỉ lệ
3
10%
8
26,7%
9
30%
SL
Tỉ lệ
Giữa học kì I
30
4
13,3%
19
63,3%
7
23,3%
Cuối học kì I
30
5
16,7%
22
phục những khó khăn trong giảng dạy, từng bước nâng cao chất lượng dạy học
môn Tiếng Việt cho học sinh. Sau khi nghiên cứu và thực hiện các giải pháp trên
cho thấy chất lượng đọc, viết của các em đúng và thành thạo hơn. Hạn chế đọc sai
dấu thanh và khả năng nghe viết từng bước nâng lên. Phát huy tích cực chủ động,
hứng thú học tập. Khả năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt và kĩ năng sống trong
giao tiếp tốt hơn. Phát huy được tính năng động sáng tạo của giáo viên. Rõ ràng
qua cách làm này, tôi thấy kết quả giáo dục của học sinh ngày càng tiến bộ rõ rệt.
Tạo điều kiện để học sinh phát huy tối đa những khả năng vốn có của mình trong
học tập cũng như trong giao tiếp.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
GV: Trần Thị Minh Năm học 2016 - 2017
22
Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu
1. Kết luận
Nhiệm vụ và mục tiêu đào tạo trong trường Tiểu học là tạo ra những con
người toàn diện làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại có tư duy sáng tạo
biết áp dụng vào thực tiễn để học tập, lao động. Để nâng cao chất lượng dạy học
môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số không phải là việc làm một
sớm, một chiều mà là cả một quá trình rèn luyện gian nan, bền bỉ, một mình ngành
Giáo dục và Đào tạo không thể làm được mà cần phải có sự tham gia tích cực của
cộng đồng phối hợp với các thầy, cô giáo trong việc vận động học sinh ra lớp và
giáo dục học sinh; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, sự chỉ
đạo của các cấp chính quyền địa phương trong việc chỉ đạo, quan tâm xây dựng cơ
sở vật chất.
Dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là một vấn đề lớn và khó, là
việc làm thường xuyên và lâu dài. Yêu cầu người giáo viên phải có lòng yêu nghề
Một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho HS lớp 1 DTTS ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Với giáo viên: Tăng cường công tác tự học tự rèn, nhiệt tình, thực sự quan
tâm yêu thương, gần gũi và tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong các buổi học
để giúp các em ham học và yêu thích môn học. Giáo viên chủ nhiệm lớp phải nắm
vững đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, phải yêu học sinh như chính con mình,
biết rõ mặt mạnh, mặt yếu của học sinh để bồi dưỡng, luyện tập. Trong từng tiết
dạy giáo viên phải xác định khối lượng kiến thức cần truyền thụ, chuẩn bị đồ dùng
dạy học, cần lựa chọn nhiều phương pháp phù hợp, vận dụng việc đổi mới phương
pháp trong giảng dạy đó là lấy học sinh làm trung tâm, phải khơi gợi cho học sinh
tính chủ động, ham thích học, đọc bài.
Với học sinh: Có đầy đủ đồ dùng học tập, có ý thức tự giác trong học tập .
Trên đây là một vài kinh nghiệm rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh lớp 1
dân tộc thiểu số ở trường tiểu học Võ Thị Sáu mà tôi đã thực hiện. Tuy nhiên vẫn
còn những hạn chế nhất định nhưng tôi hy vọng với kết quả đạt được ở trên sẽ góp
phần nhỏ bé nâng dần chất lượng dạy và học của nhà trường ngày một tốt hơn. Rất
mong được sự góp ý của lãnh đạo và các đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Ea Bông, ngày 10 tháng 3 năm 2017
Người thực hiện
Trần Thị Minh
ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CẤP TRƯỜNG
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Trường Đại học Sư phạm
Đà Nẵng; Nguyển Sinh
Huy-NXBGD- 1997) Vụ
Giáo dục Tiểu học –NXB
Giáo dục Việt Nam
1
Giáo trình Giáo dục học
2
4
Một số vấn đề về đổi mới phương pháp NXB Giáo dục;
dạy học ở Tiểu học
3.Tài liệu bồi dưỡng chuyên môn theo
hè 2009
chuẩn kiến thức, kĩ năng
Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên
BGD-ĐT
5
Trò chơi thực hành Tiếng Việt lớp một
3
GHI
CHÚ