Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mục tiêu giáo dục hiện nay là đào tạo con người phát triển toàn diện về đạo
đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mỹ và hình thành, bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng
lực của công dân đáp ứng yêu cầu đổi mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là rất cần thiết
phù hợp với mục tiêu giáo dục, nhằm góp phần đào tạo con người mới với đầy đủ các
mặt “đức, trí, thể, mỹ” để học sinh được phát triển toàn diện. Cũng như Bác Hồ từng
nói: “Có tài mà không có đức là vô dụng - Có đức mà không có tài làm việc gì cũng
khó”. Chúng ta không chỉ phải dạy kiến thức cho học sinh mà quan trọng hơn hết là
dạy người, dạy cách làm người, những con người đáp ứng đầy đủ những tố chất hiện
đại, năng động, hoạt bát, thích nghi tốt, ứng phó nhanh trong mọi tình huống nhưng
không đánh mất đi phẩm chất, đạo đức, giá trị nhân văn tốt đẹp, bản sắc văn hóa của
con người Việt Nam.
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học nhằm đạt mục tiêu trang bị những
kiến thức, giá trị, thái độ, kĩ năng phù hợp; tạo cơ hội thuận lợi cho trẻ sử dụng quyền,
bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức.
Một trong những tiêu chí được nêu trong Chỉ thị số 40/2008/CT BGDĐT, ngày
22 tháng 7 năm 2008 về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân
thiện học sinh tích cực” là rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. Đây là một chủ
trương cần thiết và đúng đắn. Tuy nhiên, để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đạt
hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu tố. Đặc biệt đối với học sinh lớp Một là lớp học đầu tiên
của bậc Tiểu học. Các em vừa bước qua ngưỡng cửa của trường Mầm Non, vừa
chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập. Môi trường thay đổi, hoạt động
thay đổi và kéo theo nhiều sự thay đổi lớn trong các em. Phần lớn các em chưa biết
ứng xử với mọi người xung quanh, chưa biết tự tin trước đám đông, lúng túng khi gặp
tình huống nguy hiểm. Bởi vậy việc giáo dục cho trẻ các kĩ năng tự phục vụ, tự quản,
giao tiếp, hợp tác, tự học là rất cần thiết. Các kĩ năng đó ta gọi tắt là kỹ năng sống.
Thực tế cho thấy toàn khối lớp Một trường Tiểu học Võ Thị Sáu có trên 96% là
Giúp học sinh có khả năng ứng xử trước các tình huống xảy ra trong cuộc sống
như tự tin, tự phục vụ, mạnh giao tiếp và hợp tác, trung thực, có khả năng tự giải quyết
vấn đề, hiểu biết và chấp hành pháp luật,....
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
1. Các định nghĩa, khái niệm về kỹ năng sống
Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc
nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó
phát sinh trong cuộc sống.
Kỹ năng sống là những trải nghiệm có hiệu quả nhất, giúp giải quyết hoặc đáp
ứng các nhu cầu cụ thể trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của con người như khả
năng ứng xử phù hợp với người khác, xã hội, khả năng úng phó tích cực trước các tình
huống của cuộc sống. Kỹ năng sống bao gồm cả hành vi vận động của cơ thể và tư duy
trong não bộ của con người như biến kiến thức thành thái độ, hành vi, thói quen tích
cực. Kỹ năng sống có thể hình thành một cách tự nhiên, thông qua giáo dục hoặc rèn
luyện của con người.
2. Quan niệm về kỹ năng sống
Cho đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng sống. Mỗi quan
niệm được diễn tả theo cách khác nhau:
Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc(UNESCO),
kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào
cuộc sống hằng ngày.
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), kỹ năng sống là những kĩ năng thiết thực mà
con người cần để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh. Đó là những kĩ năng mang tính
tâm lí xã hội và kĩ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hằng ngày
để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn
đề, những tình huống của cuộc sống hằng ngày.
Tuy diễn đạt về kỹ năng sống khác nhau nhưng giống nhau ở nội dung cơ bản
đó là những cách thức ứng xử, xử lý các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống một cách
linh hoạt, mềm dẻo, có hiệu quả. Từ đó giúp con người xác lập được mối quan hệ tốt
Rèn cách sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, đảm bảo mục tiêu giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh trong cộng đồng, mở ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực, tự tin,
tự quyết định và lựa chọn những hành vi đúng đắn. Đây là việc làm hết sức quan trọng
ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ.
Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp Một dân tộc thiểu số lại càng cần
thiết bởi hầu hết các em chưa có khả năng: Tự phục vụ, tự quản; Giao tiếp, hợp tác; Tự
học và giải quyết vấn đề; Chăm học, chăm làm, tích cực tham gia hoạt động xã hội; Tự
tin, tự chịu trách nhiệm; Trung thực, kỷ luật, đoàn kết; Yêu gia đình, bạn bè và những
người khác. Bên cạnh đó cần trang bị cho học sịnh các kĩ năng cần thiết cho cuộc sống
hiện nay như đề phòng hỏa hoạn, đuối nước, tự bảo vệ bản thân, phòng tránh bị xâm
hại, tai nạn giao thông, tai nạn thương tích,...
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1. Thuận lợi
Đảng ủy, chính quyền địa phương thuộc xã Ea Bông và Phòng Giáo dục- Đào
tạo là đơn vị thường xuyên thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến công tác giáo dục trong
nhà trường. Các cơ quan ban ngành đoàn thể tại địa phương cũng đã thể hiện sự quan
tâm đến chất lượng giáo dục và đặc biệt là việc huy động học sinh đúng 6 tuổi ra lớp.
Các em học sinh có cùng một độ tuổi, ham hiểu biết, ham học hỏi, tò mò và thích sáng
tạo, thích tự khẳng định mình. Đa số phụ huynh học sinh đều sử dụng điện thoại di
động nên giáo viên chủ nhiệm có thể liên lạc trao đổi bất cứ lúc nào.
2. Khó khăn
Trường tiểu học Võ Thị Sáu là một trường thuộc vùng khó khăn có ba phân
hiệu cách xa nhau từ 2 km đến 5 km. Số học sinh dân tộc thiểu số chiếm trên 97%.
Trình độ dân trí còn thấp, cuộc sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ
giáo viên trong tổ chưa đồng đều, số giáo viên người dân tộc thiểu số chiếm 33,3%,
kinh nghiệm giảng dạy còn hạn chế. Chất lượng giáo dục hàng năm còn thấp, tỉ lệ học
sinh có kỹ năng sống chưa cao.
GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu
3
chỉ hiểu đến đâu làm đến đấy, kế hoạch chưa cụ thể, rõ ràng nên chưa có được sự phối
hợp nhiệt tình của cha mẹ học sinh. Công tác kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế
hoạch còn mang tính chất chung chung, biện pháp động viên, khen thưởng chưa kịp
thời. 95% học sinh khi vào lớp Một rất rụt rè, chưa biết giao tiếp, ứng xử, chưa có các
kĩ năng thích nghi, hợp tác, chưa biết ứng phó, tự bảo vệ mình khi có tình huống xảy
ra. Nguyên nhân trực tiếp khiến học sinh gặp khó khăn trong xử lí với tình huống thực
của cuộc sống là do sự giáo dục của gia đình và nhà trường, sự phức tạp của xã hội
hiện nay. Giáo viên và người lớn chưa thật coi trọng việc giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ. Việc rèn kỹ năng sống qua các môn học, tiết sinh hoạt lớp, hoạt động giáo dục, vui
chơi còn chưa được chú trọng. Công tác tuyên truyền cho các bậc cha mẹ thực hiện
giáo dục kỹ năng sống cho các em chưa nhiều. Trước những khó khăn và tính cấp thiết
đó tôi luôn trăn trở làm thế nào giúp các em có được các kĩ năng cơ bản để vận dụng
trong cuộc sống. Kết quả khảo sát đầu các năm học như sau:.
Năm học
TS HS
Kĩ năng Kĩ năng giao tiếp, tự nhận thức, bảo vệ bản thân
Biết nói năng lễ Bạo dạn trong giao Ngại giao tiếp, trầm Tự nhận thức, bảo vệ
phép
tiếp
lặng, nhút nhát
bản thân
SL
%
SL
%
110
70
63,6
40
36,4
70
63,6
65
59,1
GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu
4
Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
Năm học
TSHS
79
57,7
2017 - 2018
110
4
3,6
38
34,6
68
61,8
Kĩ năng tham gia giao thông, phòng chống tai nạn thương tích
Năm học
TSHS
kĩ năng tốt
có kĩ năng
2017 - 2018
110
5
4,5
59
53,7
46
41,8
Từ tình hình thực tế trên cho thấy tỉ lệ học sinh phát triển toàn diện là rất ít. Đa
số các em còn thiếu các kĩ năng cơ bản trong cuộc sống hằng ngày như kĩ năng tự
nhận thức, rụt rè khi giao tiếp, ứng xử chưa có văn hóa. Tôi thiết nghĩ nếu trẻ có khả
năng giao tiếp tốt sẽ tạo điều kiện cho các em học tốt môn học cũng như tham gia các
hoạt động do trường, đội tổ chức. Chính vì thế tôi đã đưa ra các giải pháp cụ thể như
xác định nội dung và phạm vi giáo dục kĩ năng sống. Tìm hiểu tình hình thực tế. Qua
đó xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống thông qua các môn học. Rèn kĩ năng.
Phối hợp giữa nhà trường- gia đinh và xã hội. Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá
thi đua khen thưởng.
III. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Thứ nhất: Xác định nội dung và phạm vi giáo dục kĩ năng sống
Để nâng dần kỹ năng sống cho học sinh, ngoài việc phải cần sự hết sức nỗ lực
của thầy và trò, còn rất cần có sự lãnh đạo của Ban giám hiệu nhà trường và chính
quyền địa phương, chủ trương xã hội hoá giáo dục trong việc xây dựng và phát triển là
vào lớp 1 và thường xuyên nhắc nhở vào tiết sinh hoạt tập thể. Tự tin, hòa nhập với
môi trường mới, với bạn bè, thầy cô hướng dẫn động viên ngay từ những buổi tựu
trường đầu tiên. Hiểu được hiệu quả và rèn luyện thói quen phát biểu xây dựng bài
động viên, khuyến khích trong tất cả các tiết học. Hiểu được ý nghĩa và tự giác trả lại
của rơi cho người đánh rơi rèn luyện thường xuyên, hằng ngày trong lớp học và đặc
biệt là trong giờ chơi. Hiểu được ích lợi và có thói quen đi học đúng giờ thông báo giờ
vào học, tan trường ngay từ những buổi tựu trường đầu tiên, thường xuyên nhắc nhở,
giúp đỡ trong suốt năm học. Hiểu được ích lợi của người bạn tốt và biết ứng xử tốt với
bạn bè, chia nhóm học tập trong tất cả các môn học. Giáo dục lòng yêu trường lớp, kể
được những điều em thích ở trường lớp như trang trí lớp học đẹp mắt, thân thiện, có
tên trường và những nội dung liên quan đến trường, thể hiện hành động yêu quý
trường lớp hướng dẫn và nhắc nhở trong suốt năm học.
Ngoài các nội dung đã nêu ở trên, hằng năm, tùy vào tình hình thực tế ở địa
phương, tôi còn lồng ghép một số kĩ năng phòng đuối nước, hỏa hoạn, biết tự bảo vệ
mình và thực hiện an toàn giao thông cho học sinh ở mọi lúc, mọi nơi. Bởi vì theo tôi,
học sinh lớp Một còn quá nhỏ dại và phụ thuộc nhiều vào bố mẹ, thầy cô như đến
trường hay tan học các em cần có người đưa đón. Nhưng bên cạnh đó đa số phụ huynh
đều làm nông nghiệp, điều kiện kinh tế còn khó khăn, thiếu thốn nên có những hôm
không thể đưa đón con. Ngoài ra còn phải kể đến một số ít phụ huynh có điều kiện đã
trang bị cho con những vật dụng, trang sức đắt tiền thu hút sự chú ý của kẻ xấu. Chưa
kể đến an toàn giao thông hay các tệ nạn xã hội khác luôn rình rập, đe dọa các em mỗi
ngày. Những nội dung này có thể nói là tôi luôn nhắc nhở hằng ngày, hằng giờ.
Thứ hai: Tìm hiểu tình hình thực tế
Sau khi nhận lớp, việc đầu tiên cần làm của giáo viên là ổn định lớp, tìm hiểu
tâm lí học sinh ở lứa tuổi vào lớp Một. Đây là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường
học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30
– 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kì, tò mò sang tính hiểu biết, hứng thú
khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ
luật, nề nếp, chấp hành nội quy học tập. Tính nhạy và sức bền vững, tính khéo léo các
thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tất cả những điều đó đều là
sống như tự tin, tự chịu trách nhiệm, tự ra quyết định, phòng chống tai nạn thương
tích,... Thực hiện Công văn số 159/ PGDĐT – GDTH V/v Hướng dẫn thực hiện kế
hoạch giáo dục kỹ năng sống cho HS tiểu học. Ngay từ đầu năm học, chúng tôi họp tổ
xây dựng kế hoạch dạy lồng ghép giáo dục kỹ năng sống trong mỗi môn học. Làm sao
giáo viên phải giúp các em hiểu thế nào là kỹ năng, kỹ năng sống và tại sao phải giáo
dục kỹ năng sống, tác hại của việc chưa có kỹ năng sống. Từ đó các em nhận biết vai
trò của việc học tập kỹ năng sống.
Chúng ta đều biết, ngôn ngữ là công cụ của tư duy và giao tiếp. Việc giáo dục;
lời nói giao tiếp từ xưa đã được ông cha ta rất coi trọng:
“ Học ăn, học nói, học gói, học mở ”
“ Lời nói không mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
Để đánh giá một con người chúng ta cần phải có sự thử thách qua giao tiếp
hàng ngày với họ: “Chim khôn thử tiếng, người ngoan thử lời”. Mặt khác việc giao
tiếp, ứng xử khéo léo cũng giúp chúng ta thành công về nhiều lĩnh vực; “Khéo bán,
khéo mua cũng thua người khéo nói”. Với trẻ em, lứa tuổi đang hình thành nhân cách,
ngay từ khi các em còn rất nhỏ, chúng ta đã rất chú trọng: “Trẻ lên ba, cả nhà học nói”.
Bởi vậy ngành giáo dục đào tạo nói chung và ngành giáo dục tiểu học nói riêng đã
được xã hội trao cho trọng trách đáng tự hào là giáo dục trẻ em ngay từ những ngày
đầu bước chân tới trường. Từ bao đời nay, việc giáo dục ở nhà trường đã áp dụng
phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn”. Dạy tiếng Việt không có nghĩa là chỉ dạy các
em kỹ năng đọc, viết, nghe, nói mà dạy các em biết sử dụng những lời nói biểu cảm
trong giao tiếp là một mảng vô cùng quan trọng. Một người đọc thông, viết thạo tất cả
các loại văn bản, song khi giao tiếp lại để lại ấn tượng xấu, không gây được mối thiện
cảm đối với mỗi người thì con người đó có khả năng sống và làm việc có hiệu quả
không. Ở môn Tiếng Việt, tất cả các bài tập đọc đều có phần luyện nói theo chủ đề
như: Bé và bạn bè; Mai sau khôn lớn; Vâng lời cha mẹ; Giúp đỡ cha mẹ; Nghề nghiệp
của cha mẹ; Những người bạn tốt; Sức khỏe là vốn quý nhất. Các tình huống giao tiếp
cụ thể được lồng ghép trong quá trình dạy học, tôi chỉ gợi mở sau đó cho các em tự nói
một cách tự nhiên hoàn toàn không gò bó áp đặt. Tôi thường xuyên tổ chức cho trẻ
Trong khi dạy Tập đọc hoạt động nói câu có tiếng chứa vần đã học cũng có tác
dụng rất lớn. Dù đó không phải là giao tiếp trong tình huống cụ thể và mỗi em chỉ nói
một câu nhưng nó giữ vai trò rèn luyện cho học sinh nói đủ câu, diễn đạt tường minh
và dẫn đến nói câu hay. Khi đó, chúng ta có thể kịp thời điều chỉnh ngay những lỗi đặt
câu của các em. Rõ ràng qua các hình thức tổ chức như trên các em thường tỏ ra rất
hào hứng được nói cho bạn mình nghe và nói to, rõ ràng, mạch lạc.
Dạy đạo đức là dạy học sinh những hành vi ứng xử phù hợp với các chuẩn mực
đạo đức xã hội và quyền trẻ em trong các tình huống đơn giản cụ thể của cuộc sống
hằng ngày. Nội dung của môn học đạo đức kết hợp giữa giáo dục quyền với giáo dục
trách nhiệm bổn phận của học sinh. Hơn nữa môn đạo đức không chỉ giáo dục bổn
phận, trách nhiệm của học sinh đối với gia đình, nhà trường, xã hội và môi trường tự
nhiên, mà còn giáo dục trách nhiệm của các em đối với chính bản thân mình. Việc bồi
dưỡng hình thành cho các em những phẩm chất đạo đức không phải là một bài mẫu có
sẵn, áp đặt, khuôn mẫu để học sinh thực hiện theo. Mà nhiệm vụ của môn học đạo đức
lớp Một là giúp các em nắm được những điều sơ đẳng của phép ứng xử, chuẩn mực
hành vi đạo đức trong cuộc sống hằng ngày. Qua mỗi bài dạy các em nắm được nội
dung và ý nghĩa của chuẩn mực hành vi đạo đức trong các hoạt động. Dạy học đạo đức
phải là quá trình giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động, phát huy vốn kinh
nghiệm, thói quen đạo đức, tự khám phá và xác định các kỹ năng sống cần rèn luyện.
Ví dụ bài 1. Em là học sinh lớp Một, vở bài tập đạo đức lớp 1 trang 2, học sinh
biết quyền được đi học của mình, rèn kĩ năng tự giới thiệu họ tên, kĩ năng giao tiếp
trong cuộc sống. Cụ thể khi tổ chức trò chơi: Vòng tròn giới thiệu, giáo viên chia mỗi
nhóm 5 em, phổ biến cách chơi, cho học sinh thực hiện. Với trò chơi này các em đã tự
tin mạnh dạn trước tập thể, biết lắng nghe, có ý thức kỉ luật và nói mạch lạc như: Mình
tên là Y Ra Him Niê, nhà mình ở buôn Dham, năm nay mình 6 tuổi. Còn mình tên là
H’ Trăm Niê, mình cùng tuổi với các bạn, nhà mình ở buôn Dham, mình rất vui khi
được làm quen với các bạn. Bài 2. Gọn gàng sạch sẽ, rèn kĩ năng biết ăn mặc gọn
GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu
8
em những kiến thức cơ bản của bậc học góp phần bồi dưỡng nhân cách toàn diện cho
trẻ. Vậy làm thế nào để trẻ có các kĩ năng cơ bản vận dụng trong cuộc sống hằng ngày.
Đây chính là kết quả của quá trình giáo dục. Chính vì thế trong các bài học, giáo viên
lựa chọn tổ chức cho các em thực hành ngay, thông qua việc thực hành giúp các em
bước đầu có kĩ năng. Ví dụ với bài 5: Vệ sinh thân thể, sách giáo khoa Tự nhiên và Xã
hội lớp 1 trang 14, giáo viên cho các em quan sát tranh trao đổi với nhau về nội dung
trong tranh để nắm được các việc nên và không nên làm để giữ vệ sinh thân thể. Biết
vì sao phải tắm rửa, thay quần áo sạch sẽ và không nên tắm chung với trâu bò, những
việc cần làm để giữ chân, tay sạch sẽ như cắt móng tay, rửa chân, rửa tay bằng nước
sạch. Sau đó cho các em liên hệ việc đã làm để giữ vệ sinh thân thể rồi thực hành. Qua
bài học rèn kĩ năng tự phục vụ bản thân. Hay khi dạy bài 8: Ăn uống hằng ngày, trang
18, giáo viên cho học sinh quan sát tranh thảo luận nêu lên các loại thức ăn cần thiết
cho các bữa ăn trong ngày, vì sao phải ăn đủ các loại thức ăn đó, sau đó kể về bữa ăn
của gia đình mình. Cuối cùng tổ chức trò chơi “đi chợ”. Mỗi đội cử một bạn đi chợ,
nhiệm vụ của bạn là mua đầy đủ các loại thức ăn đảm bảo các chất đạm, chất béo, vi ta
min, khoáng,… theo quy định. Sau khi đi chợ, các em phải nói được vì sao trong một
bữa ăn cần đảm bảo các chất dinh dưỡng. Từ đó các em biết được vì sao cần ăn uống
đầy đủ hằng ngày để mau lớn, khỏe mạnh, biết ăn nhiều loại thức ăn và uống đủ nước.
Ở bài này rèn kĩ năng làm chủ bản thân, phát triển kĩ năng tư duy. Đối với bài 9: Hoạt
động và nghỉ ngơi, các em nắm được tác dụng của một số hoạt động nghỉ ngơi đúng
cách có lợi cho sức khỏe từ đó biết sắp xếp thời gian biểu để học tập và vui chơi cho
phù hợp. Ở hoạt động 1, giáo viên cho học sinh kể về hoạt động mà mình đã làm hoặc
GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu
9
Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
chơi cùng với bạn, thông qua đó giáo dục kĩ năng tìm kiếm và xử lí. Sang hoạt động 3,
chung” để “khái quát” và “kết luận”.
Thứ tư: Rèn kĩ năng
Trong giờ học, cần rèn cho các em những kĩ năng như có tư thế ngồi học đúng,
chú ý nghe giảng, vệ sinh hằng ngày ngay từ những việc làm nhỏ nhất, trong phạm vi
nhỏ nhất như gia đình, lớp học. Sau mỗi bài học, môn học, giáo viên cho các em liên
hệ thực tế bằng những câu hỏi Em đã làm gì? Sẽ làm gì? và đưa ra các tình huống cụ
thể để học sinh mình trải nghiệm. Các em thích tham gia vào một số hoạt động xã hội
mang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình). Đặc biệt là các em
muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình. Hãy cho
các em cơ hội làm người lớn, được đóng vai “thầy giáo”, “cha mẹ”. Hãy cho các em
những trọng trách lớn: làm lớp trưởng, tổ trưởng, nhóm trưởng, đội trưởng để các em
được khẳng định bản thân. Kỹ năng sống sẽ hình thành một cách tự nhiên và hiệu quả
trong những môi trường hoạt động cụ thể chứ không từ những bài giảng trên lớp. Chỉ
từ những bài giảng, các em không thể tự hình thành kỹ năng sống cho mình mà chỉ có
thể hình dung chung về nó. Vì vậy, khi cho các em được sắm vai để trải nghiệm đó là
GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu
10
Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
cách giáo dục tốt nhất. Từ làm đến hiểu, hãy cho học sinh được chơi, được tham gia,
rồi các em sẽ hiểu. Cái hiểu như thế sâu sắc và nhớ lâu hơn.
Ví dụ: Mỗi lần thảo luận nhóm, tôi lại cho các em bầu nhóm trưởng, các em
thay nhau tập điều khiển nhóm mình hoạt động, có như vậy mới tạo cơ hội để các em
mạnh dạn tự tin.
Vào giờ chơi, tôi tổ chức cho các em đọc những mẩu truyện tranh về giáo dục
kỹ năng sống. Lúc đó thấy các em rất hào hứng. Khi các em xếp hàng ra về, không bao
giờ tôi quên dặn các em đi đúng phần đường của mình hoặc nhớ đội mũ bảo hiểm khi
gọt phấn để viết chữ có nét thanh nét đậm. Thế rồi, bẵng đi một thời gian, vào các buổi
dạy tôi thường thấy ở lớp có nhiều bụi phấn. Ban đầu tôi rất ngạc nhiên, nhưng sau
một hồi hỏi han, tôi phát hiện học trò đã dùng kéo gọt phấn để luyện viết bảng con.
Lúc đó, tôi đã hiểu, có những thứ tôi không cần dạy mà học trò vẫn học được từ tôi.
Như chúng ta đã biết ở học sinh lớp 1, các em tham gia các hoạt động học tập
dưới hình thức: "Chơi mà học, học mà chơi". Không có cách giáo dục nào hiệu quả
hơn là tổ chức các trò chơi học tập. Khi tham gia trò chơi, các em sẽ cảm thấy hứng
thú, thoải mái, phát huy tính độc lập, khả năng tư duy sáng tạo, sự nhanh trí và cả tinh
GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu
11
Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
thần tập thể. Có rất nhiều trò chơi có thể sử dụng để giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh lớp Một như Ai nhanh ai đúng. Ở trò chơi này giáo viên đưa ra một số câu hỏi
hoặc tình huống về bài học, về trường lớp, gia đình cho học sinh chọn đáp án đúng, sai
hoặc câu trả lời phù hợp. Trò chơi sẽ rèn kĩ năng phát biểu xây dựng bài, yêu trường
lớp. Trò chơi Đi theo tín hiệu giao thông thường tổ chức vào các tiết sinh hoạt tập thể
hoặc ngoài giờ lên lớp, ở ngoài sân trường, giáo viên có thể cho các em đứng thành
hàng, hai tay của em đứng sau đưa lên hai vai em đứng trước làm thành một đoàn tàu
và quy ước: tay đưa ngang đèn xanh được quyền đi nhanh, tay đưa cao lên đầu đèn đỏ
phải dừng lại, tay đưa chéo đèn vàng đi chậm lại. Qua đây sẽ rèn cho các em kĩ năng
an toàn giao thông. Với các bài học, các tình huống trong cuộc sống như bạn bè rủ
nhau đi chơi xa, đi tắm suối, hoặc người lạ dụ dỗ, giáo viên có thể tổ chức trò chơi
“đóng vai”. Lúc này, các em tha hồ sáng tạo về lời thoại, cách xử lý tình huống, thái
độ, hành vi, qua đó sẽ giáo dục các em một cách hiệu quả về kĩ năng phòng chống
đuối nước, tự bảo vệ bản thân. Hoặc với bất kỳ một nội dung bài học nào ta cũng có
thể tổ chức trò chơi “đối đáp” với nhau dưới hình thức thi đua theo nhóm. Cụ thể khi
bên cạnh cuộc sống gia đình. Còn xã hội là môi trường thực tế, giúp trẻ hoàn thiện một
số kỹ năng sống, chi phối một phần rất lớn trong suy nghĩ và hành động của các em.
GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu
12
Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
Giống như chiếc kiềng ba chân, đơn giản, vững chắc và không thể thiếu bất kì chân
nào.
Ngay từ đầu năm học, giáo viên xây dựng kế hoạch rèn luyện cho các em lớp
mình phụ trách và triển khai ngay trong buổi họp phụ huynh học sinh đầu năm học.
Tại buổi họp, giáo viên và cha mẹ học sinh trao đổi biện pháp phối hợp trong việc giáo
dục kỹ năng sống cho các em. Đồng thời khen thưởng kịp thời động viên các em có
động cơ tốt trong việc duy trì thực hiện. Hằng ngày giáo viên theo dõi em nào có biểu
hiện tốt, em nào còn chưa thực hiện tốt ghi vào sổ tay. Cuối mỗi buổi học dành thời
gian để động viên, nhắc nhở các em kịp thời. Trong tiết sinh hoạt cuối tuần cho các em
bình chọn những bạn thực hiện tốt sẽ được thưởng một bông hoa. Cứ như vậy, các em
thi đua nhau “nói lời hay, làm việc tốt” và cuối tuần nào cũng có rất nhiều em được
bông hoa niềm vui.
Gia đình có vai trò và tác động vô cùng quan trọng, là trọng tâm của hoạt động
kết hợp. Gia đình là nơi trẻ được sinh ra, lớn lên và hình thành nhân cách của mình.
Ảnh hưởng giáo dục của gia đình đến với trẻ là đầu tiên và sớm nhất. Giáo dục con cái
trong gia đình không phải chỉ là việc riêng tư của bố mẹ, mà còn là trách nhiệm đạo
đức và nghĩa vụ công dân của những người làm cha mẹ. Nó được xác định trong nhiều
văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay như trong Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình,
Luật Bảo vệ chăm sóc trẻ em, gắn với quan hệ máu mủ ruột thịt và tình yêu thương sâu
sắc của ông bà, cha mẹ với con cái nên giáo dục gia đình mang tính xúc cảm mạnh mẽ,
có khả năng cảm hóa lớn nhất. Đây là một trong các yếu tố không thể thiếu trong ba
Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
01 giải nhì, 01 giải ba. Khi ở nhà, cha mẹ cần dạy các em những nghi thức văn hóa
trong ăn uống, biết cách sử dụng các đồ dùng ăn uống. Cụ thể như cho các em được
làm quen với những đồ dùng, vật dụng khác nhau (bộ đồ bếp, bộ đồ ăn, bộ đồ uống).
Dạy nếp sống sạch sẽ, gọn gàng đây là một thói quen nề nếp, sự sắp đặt ngăn nắp,
ngay ngắn những đồ dùng, vật dụng, thái độ ăn uống từ tốn không vội vã, không khí
cởi mở, thoải mái và đầm ấm, những cuộc trao đổi nhẹ nhàng, dễ chịu, tất cả những
yếu tố trên sẽ giúp các em có thói quen tốt để hình thành kĩ năng tự phục vụ và ý nghĩa
hơn là kỹ năng sống tự lập sau này. Bằng những câu hỏi: Con đã chào mẹ chưa? Hãy
kể cho mẹ nghe, hôm nay con đã làm được việc gì tốt?, không những rèn cho các em
ứng xử lễ phép mà còn rèn tính trung thực, kỉ luật. Bên cạnh đó cần phối hợp với địa
phương tổ chức cho học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động văn hóa xã hội như :
đền ơn đáp nghĩa, xây dựng gia đình văn hóa mới nhằm góp phần cải tạo môi trường
gia đình và xã hội.
Ví dụ: Em Y Thinh Mlô thường xuyên đi học muộn, sách vở dụng cụ học tập
không đầy đủ, ăn mặc luôm thuộm, hôi hám. Thấy vậy, tôi đã đến trực tiếp gia đình
gặp mẹ của em trao đổi tác hại của việc giữ vệ sinh thân thể, đi học muộn và thiếu đồ
dùng học tập. Thứ nhất, em không thể tiếp thu được bài khi các bạn đã học được một
lượng kiến thức em mới tới lớp, bên cạnh đó còn ảnh hưởng đến cả lớp. Thứ hai, em
thiếu kĩ năng tự phục vụ bản thân không gọn gàng sạch sẽ, ảnh hưởng đến sức khỏe.
Vì vậy, cha mẹ hãy cùng giáo viên nhắc nhở em cần sắp xếp ngăn nắp góc học tập, đi
học đúng giờ không la cà dọc đường, soạn sách vở đồ dùng học tập, vệ sinh thân thể
ăn mặc gọn gàng trước khi đến lớp. Một thời gian sau, em đến lớp đúng giờ, có đủ đồ
dùng học tập và vệ sinh thân thể gọn gàng, sạch sẽ hơn. Còn em Y Kian Bkrông, một
học sinh khó khăn đặc biệt. Em chưa biết nói tiếng phổ thông, khi cô giáo hỏi em chỉ
“ơ”, “hở” rồi nhìn cô không nói gì. Cô cho gì cũng chỉ nhận bằng một tay, không nói
lời xin hoặc cảm ơn. Với trường hợp này, giáo viên phải dùng những kí hiệu để hướng
dẫn như gật đầu, lắc đầu, rồi nói “ dạ, vâng” và đưa hai tay nhận khi được cho quà sau
sống. Các em luôn tự tin trước tập thể, chuẩn bị và tham gia các hoạt động giáo dục do
nhà trường đề ra một cách tốt nhất. Và đặc biệt hơn nữa, khi ra đường, khi về gia đình
và địa phương chúng đều tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp, tính trung thực đoàn kết cao
hơn, bình tĩnh vượt qua những khó khăn trở ngại trong cuộc sống như khi ra về không
có người đưa đón các em vẫn thực hiện đúng luật giao thông và về nhà an toàn, không
để người lạ dụ dỗ, nhớ số điện thoại của cô giáo và bố mẹ.
Kết quả cụ thể vào cuối các năm học như sau:
Tỉ lệ học sinh đọc thông viết thạo và nắm được các phép tính cộng, trừ không
nhớ trong phạm vi 100, các kiến thức về môi trường xung quanh như cơ thể con người,
gia đình, nhà ở, lớp học và cuộc sống xung quanh tăng dần. Năm học 2016 – 2017,
hoàn thành chương trình lớp học131/137 em đạt tỉ lệ 95,6%. Năm học 2017 – 2018 có
106/110 em hoàn thành chương trình lớp học đạt tỉ lệ 96,4%
Tỉ lệ học sinh có các kỹ năng tự phục vụ, tự quản, giao tiếp, hợp tác, tự học,
biết chấp hành an toàn giao thông tăng dần.
Năm học
TS HS
Kĩ năng giao tiếp, tự nhận thức, bảo vệ bản thân
Biết nói năng lễ Bạo dạn trong giao Ngại giao tiếp, trầm Tự nhận thức, bảo vệ
phép
tiếp
lặng, nhút nhát
bản thân:
SL
%
SL
2017 - 2018
110
13
11,8
103
93,6
7
6,4
104
94,5
Kĩ năng hợp tác, tự quản, tự học
Năm học
TSHS
kĩ năng tốt
có kĩ năng
chưa có kĩ năng
110
10
9,1
92
83,6
8
7,3
Kĩ năng tham gia giao thông, phòng chống tai nạn thương tích
Năm học
TSHS
kĩ năng tốt
có kĩ năng
chưa có kĩ năng
SL
%
10,0
90
81,8
9
8,2
GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu
15
Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
Thành tích đạt được trong các hội thi như sau:
Năm học 2016 – 2017
Năm học 2017- 2018
- Thi chữ viết đẹp cấp trường đạt 15 em - Thi chữ viết đẹp cấp trường đạt 20 em
trong đó 01 giải nhất, 01 giải nhỉ, 01 giải tham gia trong đó 01giải nhất, 01 giải nhì,
ba, 01 giải khuyến khích.
02 giải ba, 03 giải khuyến khích.
- Thi chữ viết đẹp cấp huyện được công - 01 giải nhì, 03 giải khuyến khích Hội thi
nhận 4/4 em dự thi.
trang trí lớp học thân thiện.
- Giải nhì Hội thi kéo co.
II. KIẾN NGHỊ
- Về phía nhà trường
Thường xuyên tổ chức các cuộc thi theo chủ đề “Em là hướng dẫn viên du
lịch”, “Phát thanh măng non” cho học sinh và các buổi sinh hoạt chuyên đề về giáo
dục kỹ năng sống để bồi dưỡng và nâng cao trình độ cho giáo viên.
GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu
16
Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
- Về giáo viên
Có lòng yêu nghề, mến trẻ, tận tâm với nghề nghiệp và hết lòng nhiệt tình với
học sinh. Sự hiểu biết tâm sinh lý học sinh, hoàn cảnh sống của mỗi học sinh cộng với
sự vận dụng khéo léo các phương pháp giáo dục.
Nắm được đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh khối lớp mình quản lý.
Xác định được nhiệm vụ năm học và mục tiêu giáo dục học sinh ngay từ đầu
năm học.
Luôn tạo sự thân thiện, gần gũi giữa thầy và trò để học sinh mạnh dạn thể hiện
khả năng của bản thân. Tạo cho các em cảm giác tự tin ở mọi lúc, mọi nơi.
Phối hợp với cha mẹ học sinh, thường xuyên bồi dưỡng kỹ năng sống cho các
em thông qua trải nghiệm thực tế nhằm giúp các em hiểu thêm, hiểu sâu sắc hơn về thế
giới xung quanh để các em luôn có những kĩ năng tốt để thể hiện mình là những chủ
nhân tương lai của đất nước.
- Về phía phụ huynh học sinh
Tự học tập, nghiên cứu để nâng cao hiểu biết về kỹ năng sống của học sinh Tiểu
học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng.
Quan tâm hơn đến việc giáo dục con em mình.
Phối hợp chặt chẽ với giáo viên để kết quả giáo dục ngày một tốt hơn.
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
(Ký tên, đóng dấu)
GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu
18
Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
Tên tài liệu
Tác giả
1
Chỉ thị số 40/2008/CT BGDĐT về việc phát động
phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện
học sinh tích cực”.
BGDĐT
nhiệm vụ năm học 2016 – 2017 cấp tiểu học. 1.2,
tr.11,
Công văn số: 24/HD-PGDĐT /PGDĐT – GDTH
ngày 18 tháng 9 năm 2017 về việc hướng dẫn thực
hiện nhiệm vụ năm học 2017 – 2018,
Số: 25/HD-PGDĐT ngày 24 tháng 9 năm 2018
năm học 2018 - 2019 của Phòng Giáo dục và Đào
tạo.
GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu
19
Phòng Giáo dục và
Đào tạo Krông Ana