Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mục tiêu giáo dục hiện nay là đào tạo con người phát triển tồn diện về đạo
đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mỹ và hình thành, bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất
năng lực của cơng dân đáp ứng u cầu đổi mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là
rất cần thiết phù hợp với mục tiêu giáo dục, nhằm góp phần đào tạo con người mới
với đầy đủ các mặt “đức, trí, thể, mỹ” để học sinh được phát triển tồn diện. Cũng
như Bác Hồ từng nói: “Có tài mà khơng có đức là vơ dụng Có đức mà khơng có tài
làm việc gì cũng khó”. Chúng ta khơng chỉ phải dạy kiến thức cho học sinh mà quan
trọng hơn hết là dạy người, dạy cách làm người, những con người đáp ứng đầy đủ
những tố chất hiện đại, năng động, hoạt bát, thích nghi tốt, ứng phó nhanh trong
mọi tình huống nhưng khơng đánh mất đi phẩm chất, đạo đức, giá trị nhân văn tốt
đẹp, bản sắc văn hóa của con người Việt Nam.
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học nhằm đạt mục tiêu trang bị
những kiến thức, giá trị, thái độ, kĩ năng phù hợp; tạo cơ hội thuận lợi cho trẻ sử
dụng quyền, bổn phận của mình và phát triển tồn diện về thể chất, trí tuệ, tinh
thần, đạo đức.
Một trong những tiêu chí được nêu trong Chỉ thị số 40/2008/CT BGDĐT,
ngày 22 tháng 7 năm 2008 về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường
học thân thiện học sinh tích cực” là rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. Đây là
một chủ trương cần thiết và đúng đắn. Tuy nhiên, để giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh đạt hiệu quả địi hỏi nhiều yếu tố. Đặc biệt đối với học sinh lớp Một là
lớp học đầu tiên của bậc Tiểu học. Các em vừa bước qua ngưỡng cửa của trường
Mầm Non, vừa chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập. Mơi trường
thay đổi, hoạt động thay đổi và kéo theo nhiều sự thay đổi lớn trong các em. Phần
lớn các em chưa biết ứng xử với mọi người xung quanh, chưa biết tự tin trước đám
đơng, lúng túng khi gặp tình huống nguy hiểm. Bởi vậy việc giáo dục cho trẻ các kĩ
năng tự phục vụ, tự quản, giao tiếp, hợp tác, tự học là rất cần thiết. Các kĩ năng đó
cao chất lượng kỹ năng sống cho học sinh.
Giúp học sinh có khả năng ứng xử trước các tình huống xảy ra trong cuộc
sống như tự tin, tự phục vụ, mạnh giao tiếp và hợp tác, trung thực, có khả năng tự
giải quyết vấn đề, hiểu biết và chấp hành pháp luật,....
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
1. Các định nghĩa, khái niệm về kỹ năng sống
Kỹ năng là năng lực hay khả năng chun biệt của một cá nhân về một hoặc
nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay cơng việc nào
đó phát sinh trong cuộc sống.
Kỹ năng sống là những trải nghiệm có hiệu quả nhất, giúp giải quyết hoặc
đáp ứng các nhu cầu cụ thể trong suốt q trình tồn tại và phát triển của con người
như khả năng ứng xử phù hợp với người khác, xã hội, khả năng úng phó tích cực
trước các tình huống của cuộc sống. Kỹ năng sống bao gồm cả hành vi vận động
của cơ thể và tư duy trong não bộ của con người như biến kiến thức thành thái độ,
hành vi, thói quen tích cực. Kỹ năng sống có thể hình thành một cách tự nhiên, thơng
qua giáo dục hoặc rèn luyện của con người.
2. Quan niệm về kỹ năng sống
Cho đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng sống. Mỗi quan
niệm được diễn tả theo cách khác nhau:
Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc(UNESCO),
kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia
vào cuộc sống hằng ngày.
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), kỹ năng sống là những kĩ năng thiết thực
mà con người cần để có cuộc sống an tồn, khỏe mạnh. Đó là những kĩ năng mang
tính tâm lí xã hội và kĩ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống
hằng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu
quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hằng ngày.
mãn những kĩ năng tương ứng. Nếu ngay từ lớp Một, các em có được những kĩ
năng tốt, cuộc sống sau này sẽ rộng mở với các em hơn. Giáo dục kỹ năng sống là
giúp trẻ biết làm chủ bản thân, có ý thức kỷ luật, ứng xử thân thiện, hợp tác, tự
phục vụ, tự bảo vệ bản thân, kĩ năng hoạt động xã hội, phịng ngừa tai nạn giao
thơng, tai nạn thương tích, đuối nước, các tệ nạn xã hội và biết cách ứng phó trước
những tình huống khó khăn trong cuộc sống hàng ngày. Rèn cách sống có trách
nhiệm với bản thân, gia đình, đảm bảo mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh trong cộng đồng, mở ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực, tự tin, tự quyết định
và lựa chọn những hành vi đúng đắn. Đây là việc làm hết sức quan trọng ảnh
hưởng đến q trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ.
Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp Một dân tộc thiểu số lại càng
cần thiết bởi hầu hết các em chưa có khả năng: Tự phục vụ, tự quản; Giao tiếp,
hợp tác; Tự học và giải quyết vấn đề; Chăm học, chăm làm, tích cực tham gia hoạt
động xã hội; Tự tin, tự chịu trách nhiệm; Trung thực, kỷ luật, đồn kết; u gia
đình, bạn bè và những người khác. Bên cạnh đó cần trang bị cho học sịnh các kĩ
năng cần thiết cho cuộc sống hiện nay như đề phịng hỏa hoạn, đuối nước, tự bảo
vệ bản thân, phịng tránh bị xâm hại, tai nạn giao thơng, tai nạn thương tích,...
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1. Thuận lợi
Đảng ủy, chính quyền địa phương thuộc xã Ea Bơng và Phịng Giáo dục Đào
tạo là đơn vị thường xun thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến cơng tác giáo dục
trong nhà trường. Các cơ quan ban ngành đồn thể tại địa phương cũng đã thể hiện
GV: Trần Thị Minh Trường TH Võ Thị Sáu
3
được cụ thể họ tên mình, họ tên bố mẹ, chưa phân biệt được anh em trong nhà với
anh em họ. Do khơng được quan tâm chu đáo và giáo dục tận tình nên trong con mắt
ngây thơ của các em đâu đâu cũng n bình, trong khi cuộc sống hiện đại xơ bồ với
vơ vàn nguy hiểm ln rình rập các em ở mọi lúc, mọi nơi.
Trong chương trình, lượng kiến thức mà các em phải học tập và hồn thành
trên lớp khá nhiều nên khơng cịn nhiều thời gian cho giáo dục kỹ năng sống. Các
em chưa có nhiều điều kiện để giao tiếp với mọi người nên chưa thật sự tự tin,
mạnh dạn bộc lộ bản thân trước đám đơng, trước bạn bè và thầy cơ giáo cũng như
ngồi xã hội. Cũng chính từ đó, các em chưa đủ khả năng vượt qua các tình huống
rủi ro trong cuộc sống. Thực tế trong giảng dạy và làm cơng tác chủ nhiệm lớp , tơi
thấy việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh cịn khá nhiều bỡ ngỡ về nội dung
giáo dục, phạm vi giáo dục mà chỉ hiểu đến đâu làm đến đấy, kế hoạch chưa cụ
thể, rõ ràng nên chưa có được sự phối hợp nhiệt tình của cha mẹ học sinh. Cơng tác
kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch cịn mang tính chất chung chung, biện
pháp động viên, khen thưởng chưa kịp thời . 95% học sinh khi vào lớp Một rất rụt
rè, chưa biết giao tiếp, ứng xử, chưa có các kĩ năng thích nghi, hợp tác, chưa biết
GV: Trần Thị Minh Trường TH Võ Thị Sáu
4
Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
ứng phó, tự bảo vệ mình khi có tình huống xảy ra. Ngun nhân trực tiếp khiến học
sinh gặp khó khăn trong xử lí với tình huống thực của cuộc sống là do sự giáo dục
của gia đình và nhà trường, sự phức tạp của xã hội hiện nay. Giáo viên và người
lớn chưa thật coi trọng việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Việc rèn kỹ năng sống
qua các mơn học, tiết sinh hoạt lớp, hoạt động giáo dục, vui chơi cịn chưa được
chú trọng. Cơng tác tun truyền cho các bậc cha mẹ thực hiện giáo dục kỹ năng
sống cho các em chưa nhiều. Trước những khó khăn và tính cấp thiết đó tơi ln
137
79
59,8
52
37,9
85
62,0
62
42,3
2017 2018
110
70
63,6
40
36,4
%
2016 2017
137
5
3,6
53
38,7
79
57,7
2017 2018
110
4
3,6
38
34,6
6
4,3
76
55,5
55
40,2
2017 2018
110
5
4,5
59
53,7
46
41,8
Từ tình hình thực tế trên cho thấy tỉ lệ học sinh phát triển tồn diện là rất ít.
năm 2005 đã qui định rõ về xã hội hố sự nghiệp giáo dục: “.... Mọi tổ chức, gia
đình và cơng dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà
trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng mơi trường giáo dục lành mạnh và an
tồn”. Xuất phát từ các ngun nhân trên, hàng năm, trong q trình giảng dạy, viêc̣
đâu tiên ma tơi làm đó là
̀
̀
xác định rõ những nội dung kỹ năng sống (những bài học)
cần giáo dục cho học sinh và phạm vi giáo dục, cụ thể như sau : Rèn thói quen tốt
trong học tập chú ý nghe giảng, sắp xếp sách vở gọn gàng, giáo dục ở tất cả các
mơn học. Biết chuẩn bị đồ dùng học tập, kiểm tra, nhắc nhở khi bắt đầu mỗi tiết
học, mỗi mơn học. Biết cách sắp xếp, có thói quen giữ gìn sách vở, dụng cụ học
tập và bàn ghế ngăn nắp, gọn gàng hướng dẫn ngay từ những buổi học đầu tiên vào
lớp 1 và thường xun nhắc nhở. Có tư thế ngồi học đúng cho học sinh đọc đồng
thanh tư thế ngồi viết trước khi viết bài và uốn nắn thường xun. Rèn thói quen
vệ sinh hằng ngày, biết được các thói quen tốt, khơng tốt để giữ vệ sinh hằng ngày
giáo dục vào các tiết lao động vệ sinh đầu buổi học , kiểm tra, nhắc nhở vào các tiết
sinh hoạt tập thể cuối tuần. Rèn thói quen tự tin, mạnh dạn, hợp tác khi giao tiếp
rèn luyện trong các tiết học như Đạo đức, Tự nhiên xã hội. Tự tin khi nói chuyện
với thầy cơ giáo, bạn bè và người thân rèn luyện khi đến trường, trong các tiết học
Tiếng Việt và khi gặp gỡ mọi người. Biết cách tự bày tỏ mong muốn của của mình
cho người khác hiểu rèn ngay từ những ngày đầu vào lớp 1. Có ý thức tập trung để
học tốt như biết tự rèn và thực hành kĩ năng tập trung học tập tốt rèn trong tất cả
các tiết học. Hiểu được sự cần thiết và biết cách đặt câu hỏi rèn trong tất cả các
tiết học.Hiểu được sự cần thiết và có thói quen đi học chun cần giáo dục ngay từ
những ngày đầu vào lớp 1 và thường xun nhắc nhở vào tiết sinh hoạt tập thể. Tự
tin, hịa nhập với mơi trường mới, với bạn bè, thầy cơ hướng dẫn động viên ngay
từ những buổi tựu trường đầu tiên. Hiểu được hiệu quả và rèn luyện thói quen phát
biểu xây dựng bài động viên, khuyến khích trong tất cả các tiết học. Hiểu được ý
nghĩa và tự giác trả lại của rơi cho người đánh rơi rèn luyện thường xun, hằng
liên tục từ 30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kì, tị mị sang tính hiểu
biết, hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để
chuyển thành tính kỷ luật, nề nếp, chấp hành nội quy học tập. Tính nhạy và sức
bền vững, tính khéo léo các thao tác của đơi bàn tay để tập viết được phát triển
nhanh. Tất cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được
tốt những thử thách đó thì giáo viên phải tạo sự gần gũi với học sinh ngay từ buổi
đầu nhận lớp. Giáo viên động viên khuyến khích các em chia sẻ, hịa đồng với nhau
thì ngay chính giáo viên phải coi các em như những người bạn, thường xun tiếp
xúc, chủ động trị chuyện để các em có thể cởi mở, bớt nhút nhát, dễ nói chuyện
với cơ. Khi thấy các em xưng hơ “mày – tao”, giáo viên phải nhắc nhở chỉnh sửa
cách xưng hơ cho phù hợp bằng “mình – bạn”, giải quyết cơng bằng những mâu
thuẫn xảy ra giữa các em học sinh trong lớp. Thường xun nhắc nhở các em giơ
tay khi phát biểu, khơng chen ngang khi giáo viên nói, khi nói phải “thưa cơ”, khơng
đùa giỡn trong lớp, khơng tự ý ra khỏi chỗ, khơng quay ngang quay dọc. Giáo viên
đưa ra những kí hiệu chung cho cả lớp thực hiện thay vì lời nói để tạo thói quen
cho các em:
+ Học sinh lấy bảng con “Gõ vào góc bảng 1 cái”
+ Ngồi khoanh tay“ gõ vào chữ o”
+ Lớp ồn ghi dấu “ –” ở góc bảng
+ Lớp học tốt ghi dấu “+” ở góc bảng
Gia đình là nơi các em sinh sống hằng ngày. Vì vậy, thơng qua cha mẹ học
sinh giáo viên tìm hiểu để nắm bắt xem ở nhà các em thường có thói quen gì, cách
ứng xử như thế nào, đã biết tự bảo vệ bản thân hay chưa, đã khi nào các em có
hành vi chưa tốt khơng. Qua đó, giáo viên nắm bắt và phân loại từng nhóm đối
tượng học sinh.
Thứ ba. Giáo dục kỹ năng sống thơng qua các mơn học
Việc hình thành kỹ năng sống cho học sinh khơng phải ngày một ngày hai,
cũng khơng phải tự nhiên sinh ra là có mà phải trải qua thời gian rèn dũa. Khi vào
lớp Một, chúng ta khơng chỉ dạy cho các em học chữ mà cịn dạy các kĩ năng cơ bản
trong cuộc sống như tự tin, tự chịu trách nhiệm, tự ra quyết định, phịng chống tai
đọc thơng, viết thạo tất cả các loại văn bản, song khi giao tiếp lại để lại ấn tượng
xấu, khơng gây được mối thiện cảm đối với mỗi người thì con người đó có khả
năng sống và làm việc có hiệu quả khơng. Ở mơn Tiếng Việt, tất cả các bài tập
đọc đều có phần luyện nói theo chủ đề như: Bé và bạn bè; Mai sau khơn lớn; Vâng
lời cha mẹ; Giúp đỡ cha mẹ; Nghề nghiệp của cha mẹ; Những người bạn tốt; Sức
khỏe là vốn q nhất. Các tình huống giao tiếp cụ thể được lồng ghép trong q
trình dạy học, tơi chỉ gợi mở sau đó cho các em tự nói một cách tự nhiên hồn tồn
khơng gị bó áp đặt. Tơi thường xun tổ chức cho trẻ luyện nói theo nhóm nhằm
mục đích giúp tất cả các em có thể giao tiếp trực tiếp với nhau. Khuyến khích các
em cịn nhút nhát nói nhiều hơn, bước đầu là nói một, hai câu ngắn sau đó dần dần
các em nói nhiều câu hơn. Sau thời gian quen dần, tơi định hướng cho các em cách
hỏi lẫn nhau để kiểm tra thơng tin cũng như khích lệ bạn.
Ví dụ: Khi dạy luyện nói chủ đề: Bé tự giới thiệu bài 41: iêu, u, sách giáo
khoa Tiếng Việt lớp 1, tập 1 trang 85, tơi đưa ra nội dung: Em hãy làm quen với bạn
bằng cách tự giới thiệu. Mở đầu cơ giáo tự giới thiệu mình với lớp, sau đó tổ chức
cho các em đứng thành vịng trịn tự giới thiệu về tên và sở thích của mình. Lúc đầu
các em rất ái ngại khơng tự tin khi nói về mình nhưng tơi nhắc nhở những điều cần
chú ý trong khi giao tiếp, cộng thêm một mơi trường hịa đồng, thân thiện các em đã
thực hiện rất tốt, khơng cịn những cái nhìn ái ngại. Thay vào đó là những cánh tay
tự tin cùng câu nói ngắn gọn “Mình tên là .., mình học ở…, mình thích và khơng
thích điều gì, mình rất vui khi được làm quen với bạn”. Trong bài 48: in, un trang 99,
các em biết đi học muộn làm ảnh hưởng đến các bạn, cơ giáo và chính bản thân
mình, từ đó nhận lỗi và nói lời xin lỗi. Với chủ đề luyện nói Giúp đỡ cha mẹ bài
88: ip, up trang 13. Các em thực hành hỏi đáp về những việc mình đã giúp đỡ cha
mẹ. Qua chủ đề luyện nói khơng những tạo cơ hội cho các em mạnh dạn giao tiếp
GV: Trần Thị Minh Trường TH Võ Thị Sáu
8
tiếp trong cuộc sống. Cụ thể khi tổ chức trị chơi: Vịng trịn giới thiệu, giáo viên
chia mỗi nhóm 5 em, phổ biến cách chơi, cho học sinh thực hiện. Với trị chơi này
các em đã tự tin mạnh dạn trước tập thể, biết lắng nghe, có ý thức kỉ luật và nói
mạch lạc như: Mình tên là Y Ra Him Niê, nhà mình ở bn Dham, năm nay mình 6
tuổi. Cịn mình tên là H’ Trăm Niê, mình cùng tuổi với các bạn, nhà mình ở bn
Dham, mình rất vui khi được làm quen với các bạn. Bài 2. Gọn gàng sạch sẽ, rèn kĩ
năng biết ăn mặc gọn gàng sạch sẽ, biết giữ vệ sinh cá nhân đầu tóc quần áo gọn
gàng trong mọi lúc mọi nơi. Giáo viên quy định cách xếp đồ dùng sách vở trong
ngăn bàn, chỗ treo cặp rõ ràng, cụ thể, vị trí treo mũ. Giáo viên phân cơng các tổ
trưởng theo dõi kiểm tra, cuối mỗi giờ học nhận xét tun dương những em đã thực
hiện tốt. Giáo viên giúp đỡ động viên những em cịn lúng túng chưa thật gọn gàng.
Dần dần hành vi trở thành thói quen gọn gàng đối với các em. Khi dạy bài Gia đình
em, thơng qua tiểu phẩm Chuyện của bạn Long, học sinh biết nhận xét về việc làm
của bạn Long, dự đốn việc sẽ xảy ra với bạn Long để từ đó liên hệ với bản thân
và ra quyết định cho việc làm của mình. Đến hoạt động 2, các em nói lên được sự
quan tâm của bố mẹ với mình, từ đó phải làm gì để đáp lại tình cảm của cha mẹ,
qua đây rèn kĩ năng ứng xử. Bài 11. Đi bộ đúng quy định, sau khi quan sát tranh, trao
GV: Trần Thị Minh Trường TH Võ Thị Sáu
9
Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
đổi thảo luận các em nêu được quy định đối với người đi bộ ở đường nơng thơn,
đường phố và hậu quả của việc đi bộ khơng đúng quy định. Từ đó phân biệt được
những hành vi đi bộ đúng quy định và sai quy định. Liên hệ bản thân và nhắc nhở
bạn mình đi bộ đúng quy định phù hợp với điều kiện giao thơng địa phương. Ở bài
này rèn kĩ năng an tồn khi đi bộ, kĩ năng phê phán đánh giá hành vi đi bộ khơng
đúng quy định. Khi dạy bài Chào hỏi và tạm biệt tuần 28, 29, rèn kĩ năng giao tiếp,
ngơi, các em nắm được tác dụng của một số hoạt động nghỉ ngơi đúng cách có lợi
cho sức khỏe từ đó biết sắp xếp thời gian biểu để học tập và vui chơi cho phù hợp.
Ở hoạt động 1, giáo viên cho học sinh kể về hoạt động mà mình đã làm hoặc chơi
cùng với bạn, thơng qua đó giáo dục kĩ năng tìm kiếm và xử lí. Sang hoạt động 3,
các em được đóng vai về các hoạt động làm việc, nghỉ ngơi, đứng ngồi đúng tư thế.
Thơng qua trị chơi đóng vai giáo dục kĩ năng quan sát phân tích, kĩ năng tự nhận
thức, phát triển kĩ năng giao tiếp cho các em. Ở bài 10: Ơn tập con người và sức
khỏe, để khắc sâu kiến thức cơ bản về các bộ phận bên ngồi và các giác quan của
cơ thể, giáo viên chia lớp thành ba đội, phổ biến luật chơi, quy đinh thời gian, tiến
hành cho các em chơi trị chơi “Ai gọi tên các bộ phận bên ngồi cơ thể nhanh
GV: Trần Thị Minh Trường TH Võ Thị Sáu
10
Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
nhất?”, hết thời gian, đội nào nói được đầy đủ tên các bộ phận bên ngồi của cơ
thể trước thì đội đó thắng cuộc. Thơng qua trị chơi rèn cho các em kĩ năng hợp tác,
mạnh dạn trước tập thể. Từ đó có ý thức tự giác thực hiện nếp sống hợp vệ sinh,
khắc phục những hành vi có hại cho sức khỏe và nêu được việc thường làm vào các
buổi trong ngày để giữ vệ sinh thân thể hằng ngày. Việc giúp các em có kĩ năng xử
lí những tình huống khi có tai nạn thương tích cũng rất quan trọng. Bởi khi ở nhà có
những lúc các em sử dụng dao để gọt quả hoặc đến gần bếp lửa khơng may bị đứt
tay, bị bỏng. Qua bài 14: An tồn khi ở nhà, trong hoạt động 1, tơi cho các em thảo
luận nhóm giúp các em có kĩ năng ra quyết định nên hay khơng nên làm gì để phịng
tránh đứt tay chân, bỏng, điện giật, kĩ năng tự bảo vệ, ứng phó với các tình huống
khi ở nhà, phát triển kĩ năng giao tiếp thơng qua tham gia các hoạt động học tập.
Hoạt động 2, các em được đóng vai xử lí tình huống khi có tai nạn như: Cầm dao
nhọn cắt quả bị chảy máu, trơng em giúp mẹ nhưng em đến gần bếp lửa. Các nhóm
GV: Trần Thị Minh Trường TH Võ Thị Sáu
11
Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
Ví dụ: Mỗi lần thảo luận nhóm, tơi lại cho các em bầu nhóm trưởng, các em
thay nhau tập điều khiển nhóm mình hoạt động, có như vậy mới tạo cơ hội để các
em mạnh dạn tự tin.
Vào giờ chơi, tơi tổ chức cho các em đọc những mẩu truyện tranh về giáo
dục kỹ năng sống. Lúc đó thấy các em rất hào hứng. Khi các em xếp hàng ra về,
khơng bao giờ tơi qn dặn các em đi đúng phần đường của mình hoặc nhớ đội mũ
bảo hiểm khi ngồi trên xe máy, và nhớ kể cơ nghe những hoạt động con làm ở nhà
vào sáng hơm sau. Học sinh lớp một mà, các em sẽ kể hết những gì xảy ra ở gia
đình và chúng ta phải biết rằng khi trẻ kể mọi chuyện với mình là chúng đã đặt
niềm tin tuyệt đối vào ta. Khi đó cơng tác giáo dục sẽ thuận lợi hơn nhiều.
Với học sinh lớp Một, chẳng gì bằng những thứ mà hằng ngày các em nhìn
thấy, nghe thấy sẽ có hiệu quả hơn là những lời nói xáo rỗng. Bằng hình ảnh, các
em sẽ dễ dàng hình dung ra những việc mình nên làm và khơng nên làm. Bởi vì thế,
ngay những buổi tựu trường đầu năm học, hay những tiết sinh hoạt lớp các em lại
cùng cơ giáo trang trí lớp học của mình. Đặc biệt học sinh lớp Một có một điểm
chung là ưa hoạt động, thích làm việc nhưng lại mau chán. Tơi ln cùng các em
qt lớp, nhặt rác, nhổ cỏ, rửa tay, chỉ các em cách đi vệ sinh và giữ gìn vệ sinh. Khi
có giáo viên cùng làm, các em làm việc nghiêm túc hơn, tự giác hơn và rất có hiệu
quả. Bởi thế trước mắt các em, tơi ln là người chị, người mẹ hơn là một cơ giáo.
Tơi ln lắng nghe những tâm tư tình cảm của các em để từ đó có hướng giáo dục
tốt nhất. Người ta thường nói: “Gieo suy nghĩ gặt hành động. Gieo hành động gặt
thói quen. Gieo thói quen gặt tính cách. Gieo tính cách gặt số phận”. Vào những tiết
hứng thú, thoải mái, phát huy tính độc lập, khả năng tư duy sáng tạo, sự nhanh trí và
cả tinh thần tập thể. Có rất nhiều trị chơi có thể sử dụng để giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh lớp Một như Ai nhanh ai đúng. Ở trị chơi này giáo viên đưa ra
một số câu hỏi hoặc tình huống về bài học, về trường lớp, gia đình cho học sinh
chọn đáp án đúng, sai hoặc câu trả lời phù hợp. Trị chơi sẽ rèn kĩ năng phát biểu
xây dựng bài, u trường lớp. Trị chơi Đi theo tín hiệu giao thơng thường tổ chức
vào các tiết sinh hoạt tập thể hoặc ngồi giờ lên lớp, ở ngồi sân trường, giáo viên
có thể cho các em đứng thành hàng, hai tay của em đứng sau đưa lên hai vai em
đứng trước làm thành một đồn tàu và quy ước: tay đưa ngang đèn xanh được quyền
đi nhanh, tay đưa cao lên đầu đèn đỏ phải dừng lại, tay đưa chéo đèn vàng đi chậm
lại. Qua đây sẽ rèn cho các em kĩ năng an tồn giao thơng. Với các bài học, các tình
huống trong cuộc sống như bạn bè rủ nhau đi chơi xa, đi tắm suối, hoặc người lạ
dụ dỗ, giáo viên có thể tổ chức trị chơi “đóng vai”. Lúc này, các em tha hồ sáng tạo
về lời thoại, cách xử lý tình huống, thái độ, hành vi, qua đó sẽ giáo dục các em một
cách hiệu quả về kĩ năng phịng chống đuối nước, tự bảo vệ bản thân. Hoặc với
bất kỳ một nội dung bài học nào ta cũng có thể tổ chức trị chơi “đối đáp” với nhau
dưới hình thức thi đua theo nhóm. Cụ thể khi dạy học bài “Âm b” (Tiếng Việt lớp
1, tập 1), giáo viên chia lớp thanh hai đội chơi, một đội mang tên bà ba, đội kia mang
tên bà bảy. Hai bên sẽ nói câu có chữ đầu là chữ “ B” và cuối câu là tên của đội kia.
Đội này nói trước thì đội kia đáp và người lại. Đội nào bí khơng nói được là đội đó
thua. Thí dụ: Đội 1 nói Bà ba buồn bà bảy, đội 2 đối lại Bà bảy bán bà ba. Hay Bà
ba bu bà bảy Bà bảy bạn bà ba. Trị chơi sẽ luyện cho các em kĩ năng mạnh dạn,
hợp tác trong giao tiếp, tự tin, hịa nhập với mơi trường mới, với bạn bè, thầy cơ.
Hàng tháng, vào tiết hoạt động tập thể cuối cùng, tơi thường tổ chức cho các
em thi đua theo chủ đề “Em là hướng dẫn viên du lịch” hoặc thi ca hát, diễn kịch để
các em có nhiều cơ hội được biết về bạn bè trong lớp cũng như hoạt động của địa
phương, làng xóm. Các em có cơ hội được thể hiện mình trước tập thể. Qua đó rèn
cho các em kĩ năng mạnh dạn, tự tin.
Ngồi các hoạt động nêu trên, vào cuối mỗi đợt thi đua hay cuối mỗi kỳ học,
nếu có điều kiện là giáo viên lại cho các em tham gia các chiến dịch như vệ sinh
giáo dục kỹ năng sống cho các em. Đồng thời khen thưởng kịp thời động viên các
em có động cơ tốt trong việc duy trì thực hiện. Hằng ngày giáo viên theo dõi em nào
có biểu hiện tốt, em nào cịn chưa thực hiện tốt ghi vào sổ tay. Cuối mỗi buổi học
dành thời gian để động viên, nhắc nhở các em kịp thời. Trong tiết sinh hoạt cuối
tuần cho các em bình chọn những bạn thực hiện tốt sẽ được thưởng một bơng hoa.
Cứ như vậy, các em thi đua nhau “nói lời hay, làm việc tốt” và cuối tuần nào cũng
có rất nhiều em được bơng hoa niềm vui.
Gia đình có vai trị và tác động vơ cùng quan trọng, là trọng tâm của hoạt
động kết hợp. Gia đình là nơi trẻ được sinh ra, lớn lên và hình thành nhân cách của
mình. Ảnh hưởng giáo dục của gia đình đến với trẻ là đầu tiên và sớm nhất. Giáo
dục con cái trong gia đình khơng phải chỉ là việc riêng tư của bố mẹ, mà cịn là trách
nhiệm đạo đức và nghĩa vụ cơng dân của những người làm cha mẹ. Nó được xác
định trong nhiều văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay như trong Hiến pháp, Luật
Hơn nhân và gia đình, Luật Bảo vệ chăm sóc trẻ em, gắn với quan hệ máu mủ ruột
thịt và tình u thương sâu sắc của ơng bà, cha mẹ với con cái nên giáo dục gia đình
mang tính xúc cảm mạnh mẽ, có khả năng cảm hóa lớn nhất. Đây là một trong các
yếu tố khơng thể thiếu trong ba yếu tố để thực hiện cơng tác giáo dục học sinh.
Thực tế nhiều cha mẹ vì q u thương, bao bọc làm hết tất cả mọi việc cho con
em mà khơng biết rằng điều đó vơ tình dẫn đến việc trẻ thiếu hụt kỹ năng sống,
khơng biết cách tự phục vụ bản thân, đơi khi việc giáo dục kỹ năng sống cũng chưa
được phụ huynh học sinh quan tâm đúng mức điều này khiến các em gặp phải khó
khăn khi trưởng thành. Vì vậy trong các buổi họp phụ huynh học sinh lớp, họp phụ
huynh học sinh trường cùng với việc triển khai các nội dung khác thì nhà trường
đặc biệt chú ý đến vấn đề phối hợp để giáo dục kỹ năng sống cho các em. Có thể
nói rằng gia đình là cái nơi giáo dục tối quan trọng để hình thành kỹ năng sống cho
các em. Một số nội dung nhà trường trao đổi, phối hợp để phụ huynh thực hiện
như: Cơ giáo, cha mẹ ln khuyến khích các em nói lên quan điểm của mình, nói
chuyện với các thành viên trong lớp, trong gia đình về cảm giác và về những lựa
chọn của mình, cần giúp các em hiểu rằng nên có thơng số để theo đó mà lựa chọn
cố gắng khơng chỉ trích các quyết định của các em. Việc này sẽ hình thành kĩ năng
cịn rèn tính trung thực, kỉ luật. Bên cạnh đó cần phối hợp với địa phương tổ chức
cho học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động văn hóa xã hội như : đền ơn đáp
nghĩa, xây dựng gia đình văn hóa mới nhằm góp phần cải tạo mơi trường gia đình
và xã hội.
Ví dụ: Em Y Thinh Mlơ thường xun đi học muộn, sách vở dụng cụ học tập
khơng đầy đủ, ăn mặc lm thuộm, hơi hám. Thấy vậy, tơi đã đến trực tiếp gia đình
gặp mẹ của em trao đổi tác hại của việc giữ vệ sinh thân thể, đi học muộn và thiếu
đồ dùng học tập. Thứ nhất, em khơng thể tiếp thu được bài khi các bạn đã học
được một lượng kiến thức em mới tới lớp, bên cạnh đó cịn ảnh hưởng đến cả lớp.
Thứ hai, em thiếu kĩ năng tự phục vụ bản thân khơng gọn gàng sạch sẽ, ảnh hưởng
đến sức khỏe. Vì vậy, cha mẹ hãy cùng giáo viên nhắc nhở em cần sắp xếp ngăn
nắp góc học tập, đi học đúng giờ khơng la cà dọc đường, soạn sách vở đồ dùng học
tập, vệ sinh thân thể ăn mặc gọn gàng trước khi đến lớp. Một thời gian sau, em đến
lớp đúng giờ, có đủ đồ dùng học tập và vệ sinh thân thể gọn gàng, sạch sẽ hơn.
Cịn em Y Kian Bkrơng, một học sinh khó khăn đặc biệt. Em chưa biết nói tiếng
phổ thơng, khi cơ giáo hỏi em chỉ “ơ”, “hở” rồi nhìn cơ khơng nói gì. Cơ cho gì cũng
chỉ nhận bằng một tay, khơng nói lời xin hoặc cảm ơn. Với trường hợp này, giáo
viên phải dùng những kí hiệu để hướng dẫn như gật đầu, lắc đầu, rồi nói “ dạ,
vâng” và đưa hai tay nhận khi được cho q sau đó nói lời “xin, cảm ơn”. Cứ như
vậy dần dần em cũng đã biết trả lời khi cơ hỏi, khi cơ phát vở đã biết dùng hai tay
để nhận. Khi được cho bánh kẹo, đã nói được “em xin cơ, cảm ơn cơ”.
Tóm lại, sự phối hợp chặt chẽ ba mơi trường giáo dục là sự thống nhất trong
nhận thức cũng như trong hoạt động giáo dục cùng một hướng, một mục đích,
đồng tâm tạo sức mạnh kích thích, thúc đẩy q trình phát triển nhân cách của trẻ.
Nó là một ngun tắc cơ bản.
IV. TÍNH MỚI CỦA GIẢI PHÁP
GV: Trần Thị Minh Trường TH Võ Thị Sáu
15
2017 – 2018 có 106/110 em hồn thành chương trình lớp học đạt tỉ lệ 96,4%
Tỉ lệ học sinh có các kỹ năng tự phục vụ, tự quản, giao tiếp, hợp tác, tự
học, biết chấp hành an tồn giao thơng tăng dần.
Năm học
TS HS
Kĩ năng giao tiếp, tự nhận thức, bảo vệ bản thân
Biết nói năng lễ Bạo dạn trong giao Ngại giao tiếp, Tự nhận thức, bảo vệ
phép
tiếp
trầm lặng, nhút nhát bản thân:
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
2016 2017
7
6,4
104
94,5
Kĩ năng hợp tác, tự quản, tự học
Năm học
2016 2017
TSHS
137
kĩ năng tốt
chưa có kĩ năng
có kĩ năng
SL
%
SL
%
92
83,6
8
7,3
Kĩ năng tham gia giao thơng, phịng chống tai nạn thương tích
Năm học
kĩ năng tốt
TSHS
có kĩ năng
chưa có kĩ năng
SL
%
SL
%
SL
%
8,2
Thành tích đạt được trong các hội thi như sau:
Năm học 2016 – 2017
Năm học 2017 2018
Thi chữ viết đẹp cấp trường đạt 15 Thi chữ viết đẹp cấp trường đạt 20 em
em trong đó 01 giải nhất, 01 giải nhỉ, 01 tham gia trong đó 01giải nhất, 01 giải
giải ba, 01 giải khuyến khích.
nhì, 02 giải ba, 03 giải khuyến khích.
Thi chữ viết đẹp cấp huyện được 01 giải nhì, 03 giải khuyến khích Hội
cơng nhận 4/4 em dự thi.
thi trang trí lớp học thân thiện.
Giải nhì Hội thi kéo co.
01 giải nhất, 01 giải ba Hội thi trị chơi
dân gian.
Giải nhất Hội thi “Đố vui hoc tập”
Đề tài tiếp tục thực hiện có hiệu quả trong năm học 2018 – 2019.
Phần thứ ba: KẾT LUẬN
I. KẾT LUẬN
Trẻ em là tương lai của đất nước, là hạnh phúc của mỗi gia đình. Chúng ta
hãy trang bị cho các em một hệ thống tri thức cơ bản, vững chắc để các em tự tin
bước vào thời đại mới thời đại cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Và ở thời
đại của các em thì vấn đề kỹ năng sống là vơ cùng quan trọng và cấp thiết.
Trong giáo dục Tiểu học, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là điều
Thường xun tổ chức các cuộc thi theo chủ đề “Em là hướng dẫn viên du
lịch”, “Phát thanh măng non” cho học sinh và các buổi sinh hoạt chun đề về giáo
dục kỹ năng sống để bồi dưỡng và nâng cao trình độ cho giáo viên.
Về giáo viên
Có lịng u nghề, mến trẻ, tận tâm với nghề nghiệp và hết lịng nhiệt tình
với học sinh. Sự hiểu biết tâm sinh lý học sinh, hồn cảnh sống của mỗi học sinh
cộng với sự vận dụng khéo léo các phương pháp giáo dục.
lý.
Nắm được đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh khối lớp mình quản
Xác định được nhiệm vụ năm học và mục tiêu giáo dục học sinh ngay từ đầu
năm học.
Ln tạo sự thân thiện, gần gũi giữa thầy và trị để học sinh mạnh dạn thể
hiện khả năng của bản thân. Tạo cho các em cảm giác tự tin ở mọi lúc, mọi nơi.
Phối hợp với cha mẹ học sinh, thường xun bồi dưỡng kỹ năng sống cho
các em thơng qua trải nghiệm thực tế nhằm giúp các em hiểu thêm, hiểu sâu sắc
hơn về thế giới xung quanh để các em ln có những kĩ năng tốt để thể hiện mình
là những chủ nhân tương lai của đất nước.
Về phía phụ huynh học sinh
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
(Ký tên, đóng dấu)
ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CẤP
HUYỆN
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
GV: Trần Thị Minh Trường TH Võ Thị Sáu
19
Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
(Ký tên, đóng dấu)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
Điều 12 Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 ngày
14/6/2005 của Quốc hội nước cộng hịa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XI về ban hành Luật Giáo
dục luật
5
Số 61/BCPGDĐT ngày 03 tháng 10 năm 2016 về
GV: Trần Thị Minh Trường TH Võ Thị Sáu
20
PGDĐT – GDTH
QH11
Phịng Giáo dục và
Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu
báo cáo tổng kết năm học 2015 – 2016, triển khai
nhiệm vụ năm học 2016 – 2017 cấp tiểu học. 1.2,
tr.11 ,
Cơng văn số: 24/HDPGDĐT /PGDĐT – GDTH
ngày 18 tháng 9 năm 2017 về việc hướng dẫn thực
hiện nhiệm vụ năm học 2017 – 2018,
Số: 25/HDPGDĐT ngày 24 tháng 9 năm 2018
năm học 2018 2019 của Phịng Giáo dục và Đào