Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học Võ Thị Sáu - Pdf 76

Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu

Phần thứ nhất:  MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mục tiêu giáo dục hiện nay là đào tạo con người phát triển tồn diện về đạo  
đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mỹ  và hình thành, bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất  
năng lực của cơng dân đáp ứng u cầu đổi mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ 
Tổ  quốc Việt Nam xã hội chủ  nghĩa. Việc giáo dục kỹ  năng sống cho học sinh là 
rất cần thiết phù hợp với mục tiêu giáo dục, nhằm góp phần đào tạo con người mới 
với đầy đủ các mặt “đức, trí, thể, mỹ” để học sinh được phát triển tồn diện. Cũng 
như Bác Hồ từng nói: “Có tài mà khơng có đức là vơ dụng ­ Có đức mà khơng có tài  
làm việc gì cũng khó”. Chúng ta khơng chỉ phải dạy kiến thức cho học sinh mà quan  
trọng hơn hết là dạy người, dạy cách làm người, những con người đáp ứng đầy đủ 
những tố  chất hiện đại, năng động, hoạt bát, thích nghi tốt,  ứng phó nhanh trong 
mọi tình huống nhưng khơng đánh mất đi phẩm chất, đạo đức, giá trị  nhân văn tốt 
đẹp, bản sắc văn hóa của con người Việt Nam. 
Giáo dục kỹ  năng sống cho học sinh tiểu học nhằm đạt mục tiêu trang bị 
những kiến thức, giá trị, thái độ, kĩ năng phù hợp; tạo cơ  hội thuận lợi cho trẻ sử 
dụng quyền, bổn phận của mình và phát triển tồn diện về  thể  chất, trí tuệ, tinh 
thần, đạo đức. 
Một trong những tiêu chí được nêu trong Chỉ  thị  số  40/2008/CT BGDĐT, 
ngày 22 tháng 7 năm 2008 về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường 
học thân thiện học sinh tích cực” là  rèn luyện kỹ  năng sống cho học sinh.  Đây là 
một chủ  trương cần thiết và đúng đắn. Tuy nhiên, để  giáo dục kỹ  năng sống cho 
học sinh đạt hiệu quả  địi hỏi nhiều yếu tố. Đặc biệt đối với học sinh lớp Một là 
lớp học đầu tiên của bậc Tiểu học. Các em vừa bước qua ngưỡng cửa của trường 
Mầm Non, vừa chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập. Mơi trường  
thay đổi, hoạt động thay đổi và kéo theo nhiều sự thay đổi lớn trong các em. Phần 
lớn các em chưa biết ứng xử với mọi người xung quanh, chưa biết tự tin trước đám 
đơng, lúng túng khi gặp tình huống nguy hiểm. Bởi vậy việc giáo dục cho trẻ các kĩ 
năng tự phục vụ, tự quản, giao tiếp, hợp tác, tự học  là rất cần thiết. Các kĩ năng đó 

cao chất lượng kỹ năng sống cho học sinh.
Giúp học sinh có  khả  năng  ứng xử  trước các tình huống xảy ra trong cuộc 
sống như tự tin, tự phục vụ, mạnh giao tiếp và hợp tác, trung thực, có khả  năng tự 
giải quyết vấn đề, hiểu biết và chấp hành pháp luật,....  
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ 
1. Các định nghĩa, khái niệm về kỹ năng sống

Kỹ năng là năng lực hay khả năng chun biệt của một cá nhân về một hoặc  
nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để  giải quyết tình huống hay cơng việc nào  
đó phát sinh trong cuộc sống.
Kỹ năng sống là những trải nghiệm có hiệu quả  nhất, giúp giải quyết hoặc  
đáp ứng các nhu cầu cụ thể trong suốt q trình tồn tại và phát triển của con người  
như  khả  năng  ứng xử  phù hợp với người khác, xã hội, khả  năng úng phó tích cực  
trước các tình huống của cuộc sống.  Kỹ  năng sống bao gồm cả  hành vi vận động 
của cơ thể và tư duy trong não bộ của con người như biến kiến thức thành thái độ,  
hành vi, thói quen tích cực. Kỹ năng sống có thể hình thành một cách tự nhiên, thơng 
qua giáo dục hoặc rèn luyện của con người.
2. Quan niệm về kỹ năng sống

Cho đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng sống. Mỗi quan  
niệm được diễn tả theo cách khác nhau:
Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc(UNESCO), 
kỹ  năng sống là năng lực cá nhân để  thực hiện đầy đủ  các chức năng và tham gia  
vào cuộc sống hằng ngày. 
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), kỹ năng sống là những kĩ năng thiết thực 
mà con người cần để có cuộc sống an tồn, khỏe mạnh. Đó là những kĩ năng mang  
tính tâm lí xã hội và kĩ năng về  giao tiếp được vận dụng trong những tình huống  
hằng ngày để  tương tác một cách hiệu quả  với người khác và giải quyết có hiệu 
quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hằng ngày.

mãn những kĩ năng tương  ứng. Nếu ngay từ  lớp Một, các em có được những kĩ 
năng tốt, cuộc sống sau này sẽ rộng mở với các em hơn. Giáo dục kỹ năng sống là  
giúp trẻ  biết làm chủ  bản thân, có ý thức kỷ  luật,  ứng xử  thân thiện, hợp tác,  tự 
phục vụ, tự  bảo vệ  bản thân,  kĩ năng hoạt động xã hội, phịng ngừa tai nạn giao 
thơng, tai nạn thương tích, đuối nước, các tệ nạn xã hội và biết cách ứng phó trước 
những tình huống khó khăn trong cuộc sống hàng ngày. Rèn cách sống có trách 
nhiệm với bản thân, gia đình, đảm bảo mục tiêu giáo dục kỹ  năng sống cho học 
sinh trong cộng đồng, mở  ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực, tự tin, tự  quyết định  
và lựa chọn những hành vi đúng đắn. Đây là việc làm hết sức quan trọng  ảnh  
hưởng đến q trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. 
Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp Một dân tộc thiểu số lại càng 
cần thiết bởi hầu hết các em chưa có khả  năng: Tự  phục vụ, tự  quản; Giao tiếp, 
hợp tác; Tự học và giải quyết vấn đề; Chăm học, chăm làm, tích cực tham gia hoạt 
động xã hội;  Tự  tin, tự  chịu trách nhiệm;  Trung thực, kỷ  luật, đồn kết;  u gia 
đình, bạn bè và những người khác.  Bên cạnh đó cần trang bị  cho học sịnh các kĩ 
năng cần thiết cho cuộc sống hiện nay  như đề phịng hỏa hoạn, đuối nước, tự bảo 
vệ bản thân, phịng tránh bị xâm hại, tai nạn giao thơng, tai nạn thương tích,...
      

II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1. Thuận lợi

Đảng ủy, chính quyền địa phương thuộc xã Ea Bơng và Phịng Giáo dục­ Đào 
tạo là đơn vị  thường xun thể  hiện sự  quan tâm đặc biệt đến cơng tác giáo dục 
trong nhà trường. Các cơ quan ban ngành đồn thể tại địa phương cũng đã thể hiện 
GV: Trần Thị Minh ­ Trường TH Võ Thị Sáu

3



được cụ thể họ tên mình, họ tên bố mẹ, chưa phân biệt được anh em trong nhà với 
anh em họ. Do khơng được quan tâm chu đáo và giáo dục tận tình nên trong con mắt  
ngây thơ của các em đâu đâu cũng n bình, trong khi cuộc sống hiện đại xơ bồ với 
vơ vàn nguy hiểm ln rình rập các em ở mọi lúc, mọi nơi.
Trong chương trình, lượng kiến thức mà các em phải học tập  và hồn thành 
trên lớp khá nhiều nên khơng cịn nhiều thời gian cho  giáo dục kỹ  năng sống. Các 
em chưa  có nhiều điều kiện để  giao tiếp với mọi người nên chưa thật sự  tự  tin,  
mạnh dạn bộc lộ bản thân trước đám đơng, trước bạn bè và thầy cơ giáo cũng như 
ngồi xã hội. Cũng chính từ  đó, các em chưa đủ  khả  năng vượt qua các tình huống 
rủi ro trong cuộc sống. Thực tế trong giảng dạy và làm cơng tác chủ nhiệm lớp , tơi 
thấy việc giáo dục kỹ  năng sống cho học sinh cịn khá nhiều bỡ  ngỡ  về  nội dung 
giáo dục, phạm vi giáo dục mà chỉ  hiểu đến đâu làm đến đấy, kế  hoạch chưa cụ 
thể, rõ ràng nên chưa có được sự phối hợp nhiệt tình của cha mẹ học sinh. Cơng tác 
kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế  hoạch cịn mang tính chất chung chung, biện 
pháp động viên, khen thưởng chưa kịp thời . 95% học sinh khi vào lớp Một rất rụt  
rè, chưa biết giao tiếp,  ứng xử, chưa có các kĩ năng thích nghi, hợp tác, chưa biết  
GV: Trần Thị Minh ­ Trường TH Võ Thị Sáu

4


Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu

ứng phó, tự bảo vệ mình khi có tình huống xảy ra. Ngun nhân trực tiếp khiến học  
sinh gặp khó khăn trong xử lí với tình huống thực của cuộc sống là do sự giáo dục  
của gia đình và nhà trường, sự  phức tạp của xã hội hiện nay. Giáo viên và người  
lớn chưa thật coi trọng việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.  Việc rèn kỹ năng sống 
qua các mơn học, tiết sinh hoạt lớp, hoạt động giáo dục, vui chơi cịn chưa được 
chú trọng. Cơng tác tun truyền cho các bậc cha mẹ  thực hiện giáo dục kỹ  năng 
sống cho các em chưa nhiều.  Trước những khó khăn và tính cấp thiết đó tơi ln 

137

79

59,8

52

37,9

85

62,0

62

42,3

 2017 ­  2018

110

70

63,6

40

36,4


%

2016 ­  2017

137

5

3,6

53

38,7

79

57,7

2017 ­  2018

110

4

3,6

38

34,6



6

4,3

76

55,5

55

40,2

2017 ­  2018

110

5

4,5

59

53,7

46

41,8

Từ tình hình thực tế trên cho thấy tỉ lệ học sinh phát triển tồn diện là rất ít. 

năm 2005 đã qui định rõ về  xã hội hố sự  nghiệp giáo dục: “.... Mọi tổ  chức, gia  
đình và cơng dân có trách nhiệm chăm lo sự  nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà 
trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng mơi trường giáo dục lành mạnh và an 
tồn”. Xuất phát từ các ngun nhân trên, hàng năm, trong q trình giảng dạy,  viêc̣  
đâu tiên ma tơi làm đó là 
̀
̀
xác định rõ những nội dung kỹ năng sống (những bài học)  
cần giáo dục cho học sinh và phạm vi giáo dục, cụ  thể như sau : Rèn thói quen tốt 
trong học tập chú ý nghe giảng, sắp xếp sách vở  gọn gàng, giáo dục  ở  tất cả  các 
mơn học. Biết chuẩn bị đồ  dùng học tập, kiểm tra, nhắc nhở khi bắt đầu mỗi tiết 
học, mỗi mơn học. Biết cách sắp xếp, có thói quen giữ  gìn sách vở, dụng cụ học 
tập và bàn ghế ngăn nắp, gọn gàng hướng dẫn ngay từ những buổi học đầu tiên vào 
lớp 1 và thường xun nhắc nhở.  Có tư thế ngồi học đúng cho học sinh đọc đồng  
thanh tư  thế  ngồi viết trước khi viết bài và uốn nắn thường xun. Rèn thói quen 
vệ sinh hằng ngày, biết được các thói quen tốt, khơng tốt để giữ vệ sinh hằng ngày 
giáo dục vào các tiết lao động vệ sinh đầu buổi học , kiểm tra, nhắc nhở vào các tiết 
sinh hoạt tập thể  cuối tuần.  Rèn thói quen tự  tin, mạnh dạn, hợp tác khi giao tiếp 
rèn luyện trong các tiết học như  Đạo đức, Tự  nhiên xã hội. Tự  tin khi nói chuyện 
với thầy cơ giáo, bạn bè và người thân rèn luyện khi đến trường, trong các tiết học  
Tiếng Việt và khi gặp gỡ mọi người. Biết cách tự bày tỏ mong muốn của của mình 
cho người khác hiểu rèn ngay từ những ngày đầu vào lớp 1.  Có ý thức tập trung để 
học tốt như biết tự  rèn và thực hành kĩ năng tập trung học tập tốt rèn trong tất cả 
các tiết học. Hiểu được sự  cần thiết và biết cách đặt câu hỏi rèn trong tất cả  các 
tiết học.Hiểu được sự cần thiết và có thói quen đi học chun cần giáo dục ngay từ 
những ngày đầu vào lớp 1 và thường xun nhắc nhở vào tiết sinh hoạt tập thể.  Tự 
tin, hịa nhập với mơi trường mới, với bạn bè, thầy cơ hướng dẫn động viên ngay  
từ những buổi tựu trường đầu tiên. Hiểu được hiệu quả và rèn luyện thói quen phát 
biểu xây dựng bài động viên, khuyến khích trong tất cả  các tiết học. Hiểu được ý 
nghĩa và tự  giác trả  lại của rơi cho người đánh rơi rèn luyện thường xun, hằng 

liên tục từ 30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kì, tị mị sang tính hiểu  
biết, hứng thú khám phá. Trẻ  bắt đầu kiềm chế  dần tính hiếu động, bột phát để 
chuyển thành tính kỷ  luật, nề  nếp, chấp hành nội quy học tập. Tính nhạy và sức 
bền vững, tính khéo léo các thao tác của đơi bàn tay để  tập viết được phát triển  
nhanh. Tất cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được 
tốt những thử thách đó thì giáo viên phải tạo sự gần gũi với học sinh ngay từ buổi  
đầu nhận lớp. Giáo viên động viên khuyến khích các em chia sẻ, hịa đồng với nhau 
thì ngay chính giáo viên phải coi các em như những người bạn, thường xun tiếp  
xúc, chủ  động trị chuyện để  các em có thể  cởi mở, bớt nhút nhát, dễ  nói chuyện 
với cơ. Khi thấy các em xưng hơ “mày – tao”, giáo viên phải nhắc nhở  chỉnh sửa 
cách xưng hơ cho phù hợp bằng “mình – bạn”, giải quyết cơng bằng những mâu  
thuẫn xảy ra giữa các em học sinh trong lớp. Thường xun nhắc nhở  các em giơ 
tay khi phát biểu, khơng chen ngang khi giáo viên nói, khi nói phải “thưa cơ”, khơng 
đùa giỡn trong lớp, khơng tự  ý ra khỏi chỗ, khơng quay ngang quay dọc. Giáo viên 
đưa ra những kí hiệu chung cho cả  lớp thực hiện thay vì lời nói để  tạo thói quen 
cho các em: 
+ Học sinh lấy bảng con “Gõ vào góc bảng 1 cái”
+ Ngồi khoanh tay“ gõ vào chữ o”
+ Lớp ồn ghi dấu “ –” ở góc bảng
+ Lớp học tốt ghi dấu “+” ở góc bảng 
Gia đình là nơi các em sinh sống hằng ngày. Vì vậy, thơng qua cha mẹ  học  
sinh giáo viên tìm hiểu để nắm bắt xem  ở nhà các em thường có thói quen gì, cách 
ứng xử  như  thế  nào, đã biết tự  bảo vệ  bản thân hay chưa, đã khi nào các em có  
hành vi chưa tốt khơng.  Qua đó, giáo viên nắm bắt và phân loại từng nhóm đối 
tượng học sinh.
Thứ ba. Giáo dục kỹ năng sống thơng qua các mơn học
Việc hình thành kỹ  năng sống cho học sinh khơng phải ngày một ngày hai,  
cũng khơng phải tự nhiên sinh ra là có mà phải trải qua thời gian rèn dũa. Khi vào  
lớp Một, chúng ta khơng chỉ dạy cho các em học chữ mà cịn dạy các kĩ năng cơ bản 
trong cuộc sống như tự tin, tự chịu trách nhiệm, tự  ra quyết định, phịng chống tai  

đọc thơng, viết thạo tất cả các loại văn bản, song khi giao tiếp lại để lại ấn tượng 
xấu, khơng gây được mối thiện cảm đối với mỗi người thì con người đó có khả 
năng sống và làm việc có hiệu quả  khơng.  Ở  mơn Tiếng Việt, tất cả  các bài tập 
đọc đều có phần luyện nói theo chủ đề như: Bé và bạn bè; Mai sau khơn lớn; Vâng 
lời cha mẹ; Giúp đỡ cha mẹ; Nghề nghiệp của cha mẹ; Những người bạn tốt; Sức  
khỏe là vốn q nhất. Các tình huống giao tiếp cụ  thể  được lồng ghép trong q  
trình dạy học, tơi chỉ gợi mở sau đó cho các em tự nói một cách tự  nhiên hồn tồn 
khơng gị bó áp đặt. Tơi thường xun tổ  chức cho trẻ  luyện nói theo nhóm nhằm 
mục đích giúp tất cả các em có thể giao tiếp trực tiếp với nhau. Khuyến khích các 
em cịn nhút nhát nói nhiều hơn, bước đầu là nói một, hai câu ngắn sau đó dần dần  
các em nói nhiều câu hơn. Sau thời gian quen dần, tơi định hướng cho các em cách 
hỏi lẫn nhau để kiểm tra thơng tin cũng như khích lệ bạn. 
Ví dụ: Khi dạy luyện nói chủ đề: Bé tự giới thiệu bài 41: iêu, u, sách giáo 
khoa Tiếng Việt lớp 1, tập 1 trang 85, tơi đưa ra nội dung: Em hãy làm quen với bạn 
bằng cách tự giới thiệu. Mở đầu cơ giáo tự giới thiệu mình với lớp, sau đó tổ  chức 
cho các em đứng thành vịng trịn tự giới thiệu về tên và sở thích của mình. Lúc đầu  
các em rất ái ngại khơng tự tin khi nói về mình nhưng tơi nhắc nhở những điều cần 
chú ý trong khi giao tiếp, cộng thêm một mơi trường hịa đồng, thân thiện các em đã 
thực hiện rất tốt, khơng cịn những cái nhìn ái ngại. Thay vào đó là những cánh tay  
tự  tin cùng câu nói ngắn gọn “Mình tên là .., mình học  ở…, mình thích và khơng 
thích điều gì, mình rất vui khi được làm quen với bạn”. Trong bài 48: in, un trang 99, 
các em biết đi học muộn làm  ảnh hưởng đến các bạn, cơ giáo và chính bản thân 
mình, từ  đó nhận lỗi và nói lời xin lỗi. Với chủ đề  luyện nói Giúp đỡ  cha mẹ  bài 
88: ip, up trang 13. Các em thực hành hỏi đáp về  những việc mình đã giúp đỡ  cha  
mẹ. Qua chủ đề luyện nói khơng những tạo cơ hội cho các em mạnh dạn giao tiếp 
GV: Trần Thị Minh ­ Trường TH Võ Thị Sáu

8



tiếp trong cuộc sống. Cụ  thể  khi tổ  chức trị chơi: Vịng trịn giới thiệu, giáo viên 
chia mỗi nhóm 5 em, phổ biến cách chơi, cho học sinh thực hiện. Với trị chơi này  
các em đã tự  tin mạnh dạn trước tập thể, biết lắng nghe, có ý thức kỉ  luật và nói 
mạch lạc như: Mình tên là Y Ra Him Niê, nhà mình ở bn Dham, năm nay mình 6 
tuổi. Cịn mình tên là H’ Trăm Niê, mình cùng tuổi với các bạn, nhà mình  ở  bn 
Dham, mình rất vui khi được làm quen với các bạn. Bài 2. Gọn gàng sạch sẽ, rèn  kĩ 
năng biết ăn mặc gọn gàng sạch sẽ, biết giữ vệ sinh cá nhân đầu tóc quần áo gọn 
gàng trong mọi lúc mọi nơi. Giáo viên quy định cách xếp đồ  dùng sách vở  trong  
ngăn bàn, chỗ  treo cặp  rõ ràng, cụ  thể, vị  trí treo mũ. Giáo viên phân cơng các tổ 
trưởng theo dõi kiểm tra, cuối mỗi giờ học nhận xét tun dương những em đã thực 
hiện tốt. Giáo viên giúp đỡ động viên những em cịn lúng túng chưa thật gọn gàng.  
Dần dần hành vi trở thành thói quen gọn gàng đối với các em. Khi dạy bài Gia đình 
em, thơng qua tiểu phẩm Chuyện của bạn Long, học sinh biết nhận xét về việc làm  
của bạn Long, dự đốn việc sẽ xảy ra với bạn Long để  từ đó liên hệ với bản thân  
và ra quyết định cho việc làm của mình. Đến hoạt động 2, các em nói lên được sự 
quan tâm của bố  mẹ với mình, từ  đó phải làm gì để  đáp lại tình cảm của cha mẹ,  
qua đây rèn kĩ năng ứng xử. Bài 11. Đi bộ đúng quy định, sau khi quan sát tranh, trao  
GV: Trần Thị Minh ­ Trường TH Võ Thị Sáu

9


Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu

đổi thảo luận các em nêu được quy định đối với người đi bộ   ở  đường nơng thơn,  
đường phố và hậu quả của việc đi bộ khơng đúng quy định. Từ  đó phân biệt được 
những hành vi đi bộ  đúng quy định và sai quy định. Liên hệ  bản thân và nhắc nhở 
bạn mình đi bộ đúng quy định phù hợp với điều kiện giao thơng địa phương. Ở bài 
này rèn kĩ năng an tồn khi đi bộ, kĩ năng phê phán đánh giá hành vi đi bộ  khơng 
đúng quy định. Khi dạy bài Chào hỏi và tạm biệt tuần 28, 29, rèn kĩ năng giao tiếp, 

ngơi, các em nắm được tác dụng của một số hoạt động nghỉ ngơi đúng cách có lợi  
cho sức khỏe từ đó biết sắp xếp thời gian biểu để học tập và vui chơi cho phù hợp.  
Ở hoạt động 1, giáo viên cho học sinh kể về hoạt động mà mình đã làm hoặc chơi 
cùng với bạn, thơng qua đó giáo dục kĩ năng tìm kiếm và xử  lí. Sang hoạt động 3,  
các em được đóng vai về các hoạt động làm việc, nghỉ ngơi, đứng ngồi đúng tư thế. 
Thơng qua trị chơi đóng vai giáo dục kĩ năng quan sát phân tích, kĩ năng tự  nhận 
thức, phát triển kĩ năng giao tiếp cho các em.  Ở  bài 10: Ơn tập con người và sức  
khỏe, để khắc sâu kiến thức cơ bản về các bộ phận bên ngồi và các giác quan của  
cơ thể, giáo viên chia lớp thành ba đội, phổ biến luật chơi, quy đinh thời gian, tiến 
hành cho các em chơi trị chơi “Ai gọi tên các bộ  phận bên ngồi cơ  thể  nhanh 
GV: Trần Thị Minh ­ Trường TH Võ Thị Sáu

10


Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu

nhất?”, hết thời gian, đội nào nói được đầy đủ  tên các bộ  phận bên ngồi của cơ 
thể trước thì đội đó thắng cuộc. Thơng qua trị chơi rèn cho các em kĩ năng hợp tác, 
mạnh dạn trước tập thể. Từ đó có ý thức tự giác thực hiện nếp sống hợp vệ sinh,  
khắc phục những hành vi có hại cho sức khỏe và nêu được việc thường làm vào các 
buổi trong ngày để giữ vệ sinh thân thể hằng ngày. Việc giúp các em có kĩ năng xử 
lí những tình huống khi có tai nạn thương tích cũng rất quan trọng. Bởi khi ở nhà có  
những lúc các em sử dụng dao để gọt quả hoặc đến gần bếp lửa khơng may bị đứt  
tay, bị bỏng. Qua bài 14: An tồn khi ở nhà, trong hoạt động 1, tơi cho các em thảo 
luận nhóm giúp các em có kĩ năng ra quyết định nên hay khơng nên làm gì để phịng  
tránh đứt tay chân, bỏng, điện giật, kĩ năng tự  bảo vệ,  ứng phó với các tình huống 
khi  ở  nhà, phát triển kĩ năng giao tiếp thơng qua tham gia các hoạt động học tập.  
Hoạt động 2, các em được đóng vai xử  lí tình huống khi có tai nạn như: Cầm dao  
nhọn cắt quả bị chảy máu, trơng em giúp mẹ nhưng em đến gần bếp lửa. Các nhóm 


GV: Trần Thị Minh ­ Trường TH Võ Thị Sáu

11


Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu

Ví dụ: Mỗi lần thảo luận nhóm, tơi lại cho các em bầu nhóm trưởng, các em 
thay nhau tập điều khiển nhóm mình hoạt động, có như vậy mới tạo cơ hội để các  
em mạnh dạn tự tin.
Vào giờ  chơi, tơi  tổ  chức cho các em đọc  những  mẩu truyện tranh về  giáo 
dục kỹ  năng sống. Lúc đó thấy các em rất hào hứng. Khi các em xếp hàng ra về, 
khơng bao giờ tơi qn dặn các em đi đúng phần đường của mình hoặc nhớ đội mũ 
bảo hiểm khi ngồi trên xe máy, và nhớ kể cơ nghe những hoạt động con làm ở nhà 
vào sáng hơm sau. Học sinh lớp một mà, các em sẽ  kể  hết những gì xảy ra  ở  gia  
đình và chúng ta phải biết rằng khi trẻ  kể  mọi chuyện với mình là chúng đã đặt  
niềm tin tuyệt đối vào ta. Khi đó cơng tác giáo dục sẽ thuận lợi hơn nhiều.
Với học sinh lớp Một, chẳng gì bằng những thứ  mà hằng ngày các em nhìn  
thấy, nghe thấy sẽ có hiệu quả hơn là những lời nói xáo rỗng. Bằng hình ảnh, các  
em sẽ dễ dàng hình dung ra những việc mình nên làm và khơng nên làm. Bởi vì thế,  
ngay những buổi tựu trường đầu năm học, hay những tiết sinh hoạt lớp các em lại 
cùng cơ giáo trang trí lớp học của mình. Đặc biệt học sinh lớp Một có một điểm  
chung là  ưa hoạt động, thích làm việc nhưng lại mau chán. Tơi ln cùng các em 
qt lớp, nhặt rác, nhổ cỏ, rửa tay, chỉ các em cách đi vệ sinh và giữ gìn vệ sinh. Khi  
có giáo viên cùng làm, các em làm việc nghiêm túc hơn, tự giác hơn và rất có hiệu 
quả. Bởi thế trước mắt các em, tơi ln là người chị, người mẹ hơn là một cơ giáo. 
Tơi ln lắng nghe những tâm tư tình cảm của các em để từ đó có hướng giáo dục 
tốt nhất. Người ta thường nói: “Gieo suy nghĩ gặt hành động. Gieo hành động gặt 
thói quen. Gieo thói quen gặt tính cách. Gieo tính cách gặt số phận”. Vào những tiết 

hứng thú, thoải mái, phát huy tính độc lập, khả năng tư duy sáng tạo, sự nhanh trí và 
cả  tinh thần tập thể.  Có rất nhiều  trị chơi có thể  sử  dụng để  giáo dục kỹ  năng 
sống cho học sinh lớp Một  như  Ai nhanh ai đúng. Ở trị chơi này giáo viên đưa ra 
một số  câu hỏi hoặc tình huống về  bài học, về  trường lớp, gia đình cho học sinh  
chọn đáp án đúng, sai hoặc câu trả  lời phù hợp. Trị chơi sẽ  rèn kĩ năng  phát biểu 
xây dựng bài, u trường lớp. Trị chơi Đi theo tín hiệu giao thơng thường tổ  chức 
vào các tiết sinh hoạt tập thể hoặc ngồi giờ lên lớp, ở ngồi sân trường, giáo viên  
có thể  cho các em đứng thành hàng, hai tay của em đứng sau đưa lên hai vai em 
đứng trước làm thành một đồn tàu và quy ước: tay đưa ngang đèn xanh được quyền  
đi nhanh, tay đưa cao lên đầu đèn đỏ phải dừng lại, tay đưa chéo đèn vàng đi chậm 
lại. Qua đây sẽ rèn cho các em kĩ năng an tồn giao thơng. Với các bài học, các tình 
huống trong cuộc sống như bạn bè rủ  nhau đi chơi xa, đi tắm suối, hoặc người lạ 
dụ dỗ, giáo viên có thể tổ chức trị chơi “đóng vai”. Lúc này, các em tha hồ sáng tạo  
về lời thoại, cách xử lý tình huống, thái độ, hành vi, qua đó sẽ giáo dục các em một 
cách hiệu quả  về  kĩ năng phịng chống đuối nước, tự  bảo vệ  bản thân. Hoặc với 
bất kỳ một nội dung bài học nào ta cũng có thể tổ chức trị chơi “đối đáp” với nhau 
dưới hình thức thi đua theo nhóm. Cụ thể khi dạy học bài “Âm b” (Tiếng Việt lớp 
1, tập 1), giáo viên chia lớp thanh hai đội chơi, một đội mang tên bà ba, đội kia mang 
tên bà bảy. Hai bên sẽ nói câu có chữ đầu là chữ “ B” và cuối câu là tên của đội kia.  
Đội này nói trước thì đội kia đáp và người lại. Đội nào bí khơng nói được là đội đó 
thua. Thí dụ: Đội 1 nói  Bà ba buồn bà bảy, đội 2 đối lại Bà bảy bán bà ba. Hay Bà 
ba bu bà bảy ­ Bà bảy bạn bà ba. Trị chơi sẽ luyện cho các em kĩ năng mạnh dạn, 
hợp tác trong giao tiếp, tự tin, hịa nhập với mơi trường mới, với bạn bè, thầy cơ.
Hàng tháng, vào tiết hoạt động tập thể cuối cùng, tơi thường tổ chức cho các 
em thi đua theo chủ đề “Em là hướng dẫn viên du lịch” hoặc thi ca hát, diễn kịch để 
các em có nhiều cơ hội được biết về bạn bè trong lớp cũng như hoạt động của địa 
phương, làng xóm. Các em có cơ hội được thể hiện mình trước tập thể. Qua đó rèn 
cho các em kĩ năng mạnh dạn, tự tin.
Ngồi các hoạt động nêu trên, vào cuối mỗi đợt thi đua hay cuối mỗi kỳ học,  
nếu có điều kiện là giáo viên lại cho các em tham gia các chiến dịch như  vệ  sinh 

giáo dục kỹ năng sống cho các em. Đồng thời khen thưởng kịp thời động viên các  
em có động cơ tốt trong việc duy trì thực hiện. Hằng ngày giáo viên theo dõi em nào 
có biểu hiện tốt, em nào cịn chưa thực hiện tốt ghi vào sổ tay. Cuối mỗi buổi học  
dành thời gian để  động viên, nhắc nhở  các em kịp thời. Trong tiết sinh hoạt cuối  
tuần cho các em bình chọn những bạn thực hiện tốt sẽ được thưởng một bơng hoa.  
Cứ như vậy, các em thi đua nhau “nói lời hay, làm việc tốt” và cuối tuần nào cũng 
có rất nhiều em được bơng hoa niềm vui.  
Gia đình có vai trị và tác động vơ cùng quan trọng, là trọng tâm của hoạt 
động kết hợp. Gia đình là nơi trẻ được sinh ra, lớn lên và hình thành nhân cách của 
mình.  Ảnh hưởng giáo dục của gia đình đến với trẻ  là đầu tiên và sớm nhất. Giáo 
dục con cái trong gia đình khơng phải chỉ là việc riêng tư của bố mẹ, mà cịn là trách  
nhiệm đạo đức và nghĩa vụ  cơng dân của những người làm cha mẹ. Nó được xác  
định trong nhiều văn bản pháp luật ở  nước ta hiện nay như trong Hiến pháp, Luật  
Hơn nhân và gia đình, Luật Bảo vệ chăm sóc trẻ em, gắn với quan hệ máu mủ ruột 
thịt và tình u thương sâu sắc của ơng bà, cha mẹ với con cái nên giáo dục gia đình 
mang tính xúc cảm mạnh mẽ, có khả năng cảm hóa lớn nhất. Đây là một trong các 
yếu tố  khơng thể  thiếu trong ba yếu tố  để  thực hiện cơng tác giáo dục học sinh.  
Thực tế nhiều cha mẹ vì q u thương, bao bọc làm hết tất cả mọi việc cho con  
em mà khơng biết rằng điều đó vơ tình dẫn đến việc trẻ  thiếu hụt kỹ  năng sống,  
khơng biết cách tự phục vụ bản thân, đơi khi việc giáo dục kỹ năng sống cũng chưa  
được phụ huynh học sinh quan tâm đúng mức điều này khiến các em gặp phải khó 
khăn khi trưởng thành. Vì vậy trong các buổi họp phụ huynh học sinh lớp, họp phụ 
huynh học sinh trường cùng với việc triển khai các nội dung khác thì nhà trường  
đặc biệt chú ý đến vấn đề phối hợp để giáo dục kỹ năng sống cho các em. Có thể 
nói rằng gia đình là cái nơi giáo dục tối quan trọng để hình thành kỹ năng sống cho 
các em. Một số  nội dung nhà trường trao đổi, phối hợp để  phụ  huynh thực hiện 
như: Cơ giáo, cha mẹ  ln khuyến khích các em nói lên quan điểm của mình, nói 
chuyện với các thành viên trong lớp, trong gia đình về  cảm giác và về  những lựa  
chọn của mình, cần giúp các em hiểu rằng nên có thơng số để theo đó mà lựa chọn 
cố gắng khơng chỉ trích các quyết định của các em. Việc này sẽ hình thành kĩ năng 

cịn rèn tính trung thực, kỉ luật. Bên cạnh đó cần phối hợp với địa phương tổ  chức  
cho học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động văn hóa xã hội như : đền ơn đáp  
nghĩa, xây dựng gia đình văn hóa mới nhằm góp phần cải tạo mơi trường gia đình  
và xã hội.
       Ví dụ: Em Y Thinh Mlơ thường xun đi học muộn, sách vở dụng cụ học tập 
khơng đầy đủ, ăn mặc lm thuộm, hơi hám. Thấy vậy, tơi đã đến trực tiếp gia đình 
gặp mẹ của em trao đổi tác hại của việc giữ vệ sinh thân thể, đi học muộn và thiếu  
đồ  dùng học tập. Thứ  nhất, em khơng thể  tiếp thu được bài khi các bạn đã học 
được một lượng kiến thức em mới tới lớp, bên cạnh đó cịn ảnh hưởng đến cả lớp. 
Thứ hai, em thiếu kĩ năng tự phục vụ bản thân khơng gọn gàng sạch sẽ, ảnh hưởng  
đến sức khỏe. Vì vậy, cha mẹ  hãy cùng giáo viên nhắc nhở  em cần sắp xếp ngăn 
nắp góc học tập, đi học đúng giờ khơng la cà dọc đường, soạn sách vở đồ dùng học  
tập, vệ sinh thân thể ăn mặc gọn gàng trước khi đến lớp. Một thời gian sau, em đến 
lớp đúng giờ, có đủ  đồ  dùng học tập và vệ  sinh thân thể  gọn gàng, sạch sẽ  hơn.  
Cịn em Y Kian Bkrơng, một học sinh khó khăn đặc biệt. Em chưa biết nói tiếng 
phổ thơng, khi cơ giáo hỏi em chỉ “ơ”, “hở” rồi nhìn cơ khơng nói gì. Cơ cho gì cũng 
chỉ  nhận bằng một tay, khơng nói lời xin hoặc cảm  ơn. Với trường hợp này, giáo  
viên phải dùng những kí hiệu để  hướng dẫn như  gật đầu, lắc đầu, rồi nói “ dạ, 
vâng” và đưa hai tay nhận khi được cho q sau đó nói lời “xin, cảm  ơn”. Cứ như 
vậy dần dần em cũng đã biết trả lời khi cơ hỏi, khi cơ phát vở đã biết dùng hai tay  
để nhận. Khi được cho bánh kẹo, đã nói được “em xin cơ, cảm ơn cơ”. 
Tóm lại, sự phối hợp chặt chẽ ba mơi trường giáo dục là sự thống nhất trong  
nhận thức cũng như  trong hoạt động giáo dục cùng một hướng, một mục  đích, 
đồng tâm tạo sức mạnh kích thích, thúc đẩy q trình phát triển nhân cách của trẻ. 
Nó là một ngun tắc cơ bản. 
IV. TÍNH MỚI CỦA GIẢI PHÁP 
GV: Trần Thị Minh ­ Trường TH Võ Thị Sáu

15


2017 – 2018 có 106/110 em hồn thành chương trình lớp học đạt tỉ lệ 96,4% 
   
Tỉ  lệ  học sinh có  các kỹ  năng tự  phục vụ, tự  quản, giao tiếp, hợp tác, tự 
học, biết chấp hành an tồn giao thơng tăng dần. 
Năm học

TS HS

Kĩ năng giao tiếp, tự nhận thức, bảo vệ bản thân
Biết   nói   năng   lễ  Bạo dạn trong giao  Ngại giao tiếp,  Tự  nhận thức, bảo vệ 
phép   
tiếp 
trầm lặng, nhút nhát bản thân: 
SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

2016 ­  2017


7

6,4

104

94,5

Kĩ năng hợp tác, tự quản, tự học
Năm học
2016 ­  2017

TSHS
137

kĩ năng tốt

chưa có kĩ năng

có kĩ năng

SL

%

SL

%


92

83,6

8

7,3

Kĩ năng tham gia giao thơng, phịng chống tai nạn thương tích
Năm học

kĩ năng tốt

TSHS

có kĩ năng

chưa có kĩ năng

SL

%

SL

%

SL

%


8,2

Thành tích đạt được trong các hội thi như sau:
Năm học 2016 – 2017

Năm học 2017­ 2018

­ Thi chữ  viết đẹp cấp trường đạt 15  ­ Thi chữ viết đẹp cấp trường đạt 20 em  
em trong đó 01 giải nhất, 01 giải nhỉ, 01   tham  gia   trong   đó   01giải  nhất,   01  giải 
giải ba, 01 giải khuyến khích.
nhì, 02 giải ba, 03 giải khuyến khích.
­   Thi   chữ   viết   đẹp   cấp   huyện   được  ­ 01 giải nhì, 03 giải khuyến khích Hội 
cơng nhận 4/4 em dự thi.
thi trang trí lớp học thân thiện.
­ Giải nhì Hội thi kéo co.

­ 01 giải nhất, 01 giải ba Hội thi trị chơi 
dân gian.
­ Giải nhất Hội thi “Đố vui hoc tập”

Đề tài tiếp tục thực hiện có hiệu quả trong năm học 2018 – 2019. 
Phần thứ ba: KẾT LUẬN
I. KẾT LUẬN  
Trẻ  em là tương lai của đất nước, là hạnh phúc của mỗi gia đình. Chúng ta 
hãy trang bị cho các em một hệ thống tri thức cơ bản, vững chắc để  các em tự  tin 
bước vào thời đại mới ­ thời đại cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Và ở thời  
đại của các em thì vấn đề kỹ năng sống là vơ cùng quan trọng và cấp thiết.
   
Trong giáo dục Tiểu học, việc giáo dục kỹ  năng sống cho học sinh là điều 

        Thường xun tổ  chức các cuộc thi theo chủ đề  “Em là hướng dẫn viên du 
lịch”, “Phát thanh măng non” cho học sinh và các buổi sinh hoạt chun đề về giáo  
dục kỹ năng sống để bồi dưỡng và nâng cao trình độ cho giáo viên. 
   

­ Về giáo viên

   
Có lịng u nghề, mến trẻ, tận tâm với nghề  nghiệp và hết lịng nhiệt tình 
với học sinh. Sự  hiểu biết tâm sinh lý học sinh, hồn cảnh sống của mỗi học sinh 
cộng với sự vận dụng khéo léo các phương pháp giáo dục.
   
lý.

Nắm được đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh khối lớp mình quản 

   
Xác định được nhiệm vụ năm học và mục tiêu giáo dục học sinh ngay từ đầu  
năm học.
   
Ln tạo sự thân thiện, gần gũi giữa thầy và trị để  học sinh mạnh dạn thể 
hiện khả năng của bản thân. Tạo cho các em cảm giác tự tin ở mọi lúc, mọi nơi.
   
Phối hợp với cha mẹ  học sinh, thường xun bồi dưỡng kỹ  năng sống cho  
các em thơng qua trải nghiệm thực tế  nhằm giúp các em hiểu thêm, hiểu sâu sắc  
hơn về thế giới xung quanh để các em ln có những kĩ năng tốt để thể hiện mình 
là những chủ nhân tương lai của đất nước.
   

­ Về phía phụ huynh học sinh

……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
                         (Ký tên, đóng dấu)

ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CẤP 
HUYỆN
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
GV: Trần Thị Minh ­ Trường TH Võ Thị Sáu

19


Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu

……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
                         (Ký tên, đóng dấu)

TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT

Điều   12  Luật   Giáo   dục   số   38/2005/QH11   ngày 
14/6/2005 của Quốc hội nước cộng hịa xã hội chủ 
nghĩa Việt Nam khóa XI về  ban hành Luật Giáo 
dục luật 

5

Số 61/BC­PGDĐT ngày 03 tháng 10 năm 2016  về 
GV: Trần Thị Minh ­ Trường TH Võ Thị Sáu

20

PGDĐT – GDTH

QH11

Phịng Giáo dục và 


Một vài giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu

báo cáo tổng kết năm học 2015 – 2016, triển khai 
nhiệm vụ năm học 2016 – 2017 cấp tiểu học.  1.2, 

tr.11 ,
Cơng văn số: 24/HD­PGDĐT /PGDĐT – GDTH 
ngày 18 tháng 9 năm 2017 về việc hướng dẫn thực 
hiện nhiệm vụ năm học 2017 – 2018, 
Số: 25/HD­PGDĐT ngày  24   tháng 9 năm 2018 
năm học 2018 ­ 2019 của Phịng Giáo dục và Đào 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status