Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số - Pdf 48

SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh

I.

Phần mở đầu:

1. Lý do chọn đề tài.

Trẻ em, thế hệ mầm non tương lai của đất nước, là những chủ nhân sẽ kế
thừa và phát huy những gì tốt đẹp nhất của loài người. Việc giáo dục trẻ ngay từ
khi còn nhỏ là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp giáo dục, nhằm hình thành và
phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ sau này. Sản phẩm của giáo dục là con
người mà con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển đất nước trong tương
lai đó chính là thế hệ trẻ.
Xã hội hiện nay đã và đang làm thay đổi cuộc sống của con người, nhiều
vấn đề phức tạp liên tục nảy sinh. Bên cạnh những tác động tích cực, còn có
những tác động tiêu cực, gây nguy hại cho con người, đặc biệt là trẻ em. Nếu
mỗi người trong đó có trẻ em không có những kiến thức cần thiết để biết lựa
chọn những giá trị sống tích cực, không có những năng lực để ứng phó, để vượt
qua những thách thức mà hành động theo cảm tính thì rất dễ gặp trở ngại, rủi ro
trong cuộc sống. Do đó, việc hình thành kỹ năng sống cho mọi người nói chung
và trẻ em nói riêng đang trở thành nhiệm vụ quan trọng. Giáo dục kỹ năng sống
phải được đo bằng sự vận dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống mỗi cá nhân
để sống tích cực, sống hạnh phúc, sống có ý nghĩa. Giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ mầm non nhằm giúp trẻ phát triển hài hòa, toàn diện về nhân cách. Cung cấp
cho mỗi trẻ những kiến thức cần thiết về kỹ năng sống để các em sống sao cho
lành mạnh và có ý nghĩa. Giúp các em hiểu, biến những kiến thức về kỹ năng
sống được cung cấp thành hành động cụ thể trong quá trình hoạt động thực tiễn
với bản thân, với người khác, với xã hội, ứng phó trước nhiều tình huống, học
cách giao tiếp, ứng xử với mọi người, giải quyết mâu thuẫn trong mối quan hệ

năng sống cho trẻ để đạt được hiệu quả cao hơn.
Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng tư vấn tuyên truyền
kiến thức nuôi dạy con theo khoa học với các bậc cha mẹ cho toàn thể đội ngũ
giáo viên và cán bộ quản lý của trường.
3. Đối tượng nghiên cứu.

Nghiên cứu một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở trường mầm non Bình
Minh- xã Đray Sáp- huyện Krông Ana- tỉnh Đăk Lăk.
4. Giới hạn của đề tài.

* Về nội dung: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo
dục kĩ năng sống cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở trường mầm non
Bình Minh- xã Đray Sáp- huyện Krông Ana- tỉnh Đăk Lăk.
* Đối tượng khảo sát: Giáo viên, học sinh trường mầm non Bình Minh- xã
Đray Sáp- huyện Krông Ana- tỉnh Đăk Lăk.
* Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2017 đến tháng 3/2018
5. Phương pháp nghiên cứu.

Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương Nam

2


SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh

Để thực hiện đề tài “ Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở trường mầm
non Bình Minh” Tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:



SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh

thụ, giúp trẻ biết xử lý hành vi của mình trong các tình huống khác nhau trong
cuộc sống
Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non, đó là những hoạt động tích cực,
hướng vào những hoạt động cá nhân hoặc một nhóm trẻ với mục đích giúp trẻ có
thể ứng phó hiệu quả với các tình huống, thách thức trong cuộc sống hàng ngày.
Định hướng của giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là giúp trẻ làm chủ bản thân, ứng
xử phù hợp với cộng đồng và xã hội, thích nghi, học tập hiệu quả, nâng cao sức
khỏe tinh thần và thể chất, ứng phó tích cực trong các tình huống của cuộc sống.
Theo một số nghiên cứu cho thấy, các kỹ năng sống khác nhau theo địa lý, thời
gian… Ví dụ như trẻ em vùng biển thì có một số kỹ năng sống khác với trẻ em
vùng núi, kỹ năng sống của trẻ em thành phố khác với kỹ năng sống trẻ em nông
thôn, kỹ năng sống của trẻ em ngày xưa khác với kỹ năng sống trẻ em bây giờ…
Tuy nhiên có thể thấy rất rõ ràng là kỹ năng sống luôn gắn bó với các giá trị.
Các giá trị sống đúng đắn là kết tinh được truyền lại như sự tôn trọng, sống trách
nhiệm, yêu thương, sự tự tin, sự sáng tạo, lòng ham hiểu biết…các giá trị này
được truyền lại nhằm giáo dục giúp cho con người sống có chuẩn mực và góp
phần vào sự tiến bộ của xã hội.
2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu

2.1 Ưu điểm: Trường được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của UBND huyện,
Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện, chính quyền địa phương, quý Sơ dòng nữ
vương Hòa Bình cùng các bậc cha mẹ học sinh.
Trường có 100% học sinh ăn ở bán trú, CSVC khang trang sạch đẹp.
Tập thể giáo viên đoàn kết nhất trí, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau trong
công tác cũng như trong đời sống.

chưa gương mẫu trong các hành vi tại gia đình. Điều đó dẫn đến việc giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ của giáo viên đối với trẻ tại trường gặp nhiều hạn chế.
Phòng học, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị ở một số lớp còn thiếu thốn
chưa đáp ứng được yêu cầu dạy và học vì vậy nên giáo viên gặp không ít khó
khăn trong dạy học là điều không thể tránh khỏi.
*Khảo sát đầu năm giáo viên:
Nội dung khảo sát

Số lượng

Tỷ lệ

+ Có những hiểu biết và nhận thức đúng đắn
trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.

02/08

25%

+ Có kế hoạch thực hiện nội dung giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ.

03/08

37.5%

+ Có nhiều đồ dùng, đồ chơi, thơ ca, truyện kể
có nội dung giáo dục kỹ năng sống.

03/08

35%

23%

42%

Kỹ năng trong giao tiếp

28%

20%

52%

Kỹ năng thích khám phá học hỏi

32%

21%

47%

Kỹ năng vệ sinh cá nhân và tự lập

24%

22%

54%


16/64

25%

Bình thường

31/64

48.4 %

Không quan trọng

09/64

14.1 %

Qua bảng tổng hợp trên ta thấy giáo viên đã nắm được nội dung giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ song chưa đầy đủ. Giáo viên đang còn tập trung vào việc
dạy trẻ theo chương trình giáo dục mầm non mới, chưa coi trọng việc dạy trẻ kĩ
năng sống cho học sinh nên việc tổ chức của giáo viên còn chung chung về nội
dung cũng như các hình thức và phương pháp dạy trẻ. Nhiều giáo viên còn mơ
hồ trong việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, chủ yếu dạy trẻ theo chương
Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương Nam

6


SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh



Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương Nam

7


SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh

Đa số giáo viên là người dân tộc thiểu số nên phần nào ảnh hưởng đến chất
lượng giảng dạy.
Thiếu các điều kiện tối thiểu để tiến hành giáo duc kỹ năng sống trong nhà
trường, trước hết là tài liệu cho giáo viên và cho học sinh.
Thực tế trên đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cho cán bộ quản lý nhà trường: Phải
tích cực tổ chức bồi dưỡng chuyên môn ngay và lâu dài để có đội ngũ giáo viên
vững vàng về việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp

Giúp trẻ phát triển toàn diện các lĩnh vực như: phát triển về
thể chất, tình cảm, nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ. Hình thành
những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp
1, hình thành ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và
phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết
phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả
năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở cấp học tiếp theo và
cho việc học suốt đời.
Giúp giáo viên làm tốt công tác giáo dục kĩ năng sống cho trẻ để đạt được
hiệu quả cao hơn. Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng tư vấn
tuyên truyền kiến thức nuôi dạy con theo khoa học với các bậc cha mẹ cho toàn

- Tập trung bồi dưỡng cho giáo viên về lý thuyết những nội dung mà trẻ
còn yếu để giáo viên có kiến thức dạy trẻ. Bồi dưỡng cho giáo viên hiểu rõ thế
nào là dạy kỹ năng sống. Dạy kỹ năng sống là dạy cho trẻ những kỹ năng gì.
Dạy kỹ năng sống cho trẻ vào thời điểm nào là hiệu quả nhất. Đặc biệt nhấn
mạnh đến những kỹ năng: lao động tự phục vụ; hợp tác, chia sẻ; giao tiếp, lễ
giáo; khám phá, học hỏi; mạnh dạn tự tin.
+ Kỹ năng sống tự tin: Ngay từ khi đến lớp giáo viên nên khuyến khích
động viên trẻ giới thiệu tên của mình với các bạn trong lớp. Nghĩa là giúp trẻ
cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với những
người khác. Kỹ năng này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin trong mọi tình huống ở
mọi nơi, mọi lúc. Thể hiện khả năng, năng khiếu của bản thân trước tập thể như:
Biết tự giới thiệu về bản thân, tham gia các chương trình văn nghệ, biểu diễn
thời trang… Ví dụ: Trẻ tự tin đứng trước mọi người giới thiệu tên của mình và
hát 1 bài hát yêu thích.
+ Kỹ năng lao động tự phục vụ: Trẻ ở lứa tuổi MN còn rất vụng về, khi để
trẻ tự xúc ăn có thể bố, mẹ hoặc cô giáo thấy trẻ lúng túng thì lại đút cho trẻ ăn
để tránh rơi vãi, hoặc là khi đến lớp bố mẹ không để cho con cất giầy dép, cởi
bớt áo khoác, cất ba lô mà lại làm giúp cho con. Nhưng giáo viên phải xác định
rằng đó là cách trẻ học làm người lớn, để cho trẻ tự cần thìa xúc cơm ăn, lúc đầu
có thể chưa quen nhưng sau đó dần dần trẻ sẽ thành thục trong việc tự phục vụ
cho mình trong ăn uống. VD: Tự đi giày dép, uống nước, tự lấy nệm, lấy gối cho

Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương Nam

9


SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh


người lớn cho quà trẻ phải biết nhận bằng hai tay và nói lời “cảm ơn”, hoặc khi
không may lỡ làm bạn ngã thì phải biết dùng lời “xin lỗi” đối với bạn.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương Nam

10


SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh

- Bồi dưỡng về thực hành cho giáo viên:
Muốn giáo viên dạy được trẻ các kỹ năng sống thì đòi hỏi thao tác của giáo
viên phải chuẩn mực và có sự thống nhất, những kỹ năng này phải được các cô
giáo hướng dẫn giống nhau không có sự lệch lạc mỗi lớp hướng dẫn một kiểu thì
sẽ rất khó cho việc kế thừa từ lớp nhỏ đến lớp lớn. Hướng dẫn cho giáo viên
cách xây dựng các tiết học theo chủ đề, cách lồng ghép nội dung giáo dục kỹ
năng sống trong các hoạt động chung, nhất là cách tạo ra các tình huống để trẻ
giải quyết.
Chỉ đạo 100% các lớp có kế hoạch giáo dục kỹ năng sống. Ghi rõ những
yêu cầu cần giáo dục trẻ trong năm và những biện pháp sẽ thực hiện như thế
nào.
Hàng tháng tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn nhằm trao đổi về
chuyên môn, về cách lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Từ đó
tìm ra những mặt tích cực và khắc phục những mặt còn tồn tại.
Ban giám hiệu thường xuyên dự giờ dạy và các hoạt động của giáo viên có
lồng ghép nội dung này, từ đó đánh giá được đúng mức trình độ của từng giáo
viên để có kế hoạch bồi dưỡng, góp ý. Với những giáo viên khá, giỏi cần hướng
cho giáo viên cách tổ chức các tiết dạy và các hoạt động có lồng ghép nội dung
giáo dục kỹ năng sống với nhiều hình thức sáng tạo, hấp dẫn. Cách làm đồ dùng,
đồ chơi, sáng tác thơ ca, truyện kể có nội dung về giáo dục kỹ năng sống. Với

“Những điều phụ huynh cần biết” trong đó gồm có các nội dung như: Danh sách
trẻ, Kết quả theo dõi cân đo hàng tháng, định kỳ, kết quả khám sức khỏe, các nội
dung tuyên truyền về dịch bệnh, về giáo dục kỷ năng sống theo chủ đề... Các nội
dung được trang trí đẹp mắt và nổi bật gây được sự chú ý của các bậc phụ huynh
khi đưa đón trẻ.
Trong lớp, chỉ đạo giáo viên trang trí các góc mở cho trẻ được trải nghiệm
và tham gia hoạt động. Ví dụ: Mảng tường trên lớp trang trí các hình ảnh làm
nổi bật chủ đề, bên cạnh đó có mảng tường được cắt bằng các ô bóng kính cho
trẻ tự ghép các hình ảnh vào... Góc địa phương, tôi cho giáo viên trang trí các
dụng cụ đồ dùng của người đồng bào Ê đê như nhà sàn, dao, gùi, quần áo thổ
cẩm...
Để đánh giá thực sự về khả năng hiểu biết và thói quen kỹ năng sống của
trẻ tôi đã phối hợp cùng với các giáo viên thường xuyên sưu tầm, phô tô các bức
tranh có nội dung về giáo dục kỹ năng sống và thay đổi theo tháng. Các hình ảnh
này bao gồm những hành vi đúng, hành vi sai, những hành vi nên làm và những
hành vi không nên làm. Giáo viên phải yêu cầu trẻ suy nghĩ và tìm được những
hình ảnh đúng, sai. Vào những giờ chơi giáo viên cùng trẻ xem tranh, đàm thoại
về các hành vi trong tranh. Những hình ảnh đúng thì tô màu, những hình ảnh sai
thì gạch bỏ. Để trẻ thực sự có cơ hội phát triển tư duy thì giáo viên phải thường
xuyên thay đổi các hình ảnh và đặc biệt các hình ảnh đó phải phong phú, phản
ánh được các hoạt động diễn ra trong cuộc sống hàng ngày.

Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương Nam

12


SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh


Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương Nam

13


SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh

Giáo viên tổ chức cho trẻ các vận động như : Bò qua chướng ngại vật, đi
trên ghế thể dục , chuyền bóng, bật qua vật cản, Nhảy từ độ cao 45cm, ném
trúng đích thẳng đứng, Bò díc dắc qua 7 điểm, đi nối gót, …qua đó rèn cho trẻ
các kỹ năng nhanh nhẹn, mạnh dạn, tự tin, khéo léo khi tham gia vận động, biết
bảo vệ sức khỏe, biết siêng năng rèn luyện để cơ thể khoẻ mạnh, trẻ biết trong
khi tập phải xếp hàng theo thứ tự không chen lấn xô đẩu nhau. Trẻ biết tự lấy đồ
dùng, dụng cụ thể dục của mình. Biết hợp tác với bạn để chơi trò chơi.
* Giờ học tạo hình:
Đề tài “ Vẽ một số phương tiện giao thông”. Giáo dục trẻ không vứt rác
xuống lòng đường, xuống sông khi đi trên các phương tiện giao thông, không
chơi dưới lòng đường và đường sắt, kĩ năng tự bảo vệ bản thân khi đi trên các
phương tiện giao thông và cách ứng xử có văn hóa khi đi trên các phương tiện
giao thông, kĩ năng thực hiện các luật giao thông bắt buộc, kĩ năng tự phục vụ
như biết giúp cô phát màu, giấy vẽ, cất dọn đò dùng…
* Giờ làm quen văn học:
Hướng dẫn giáo viện lựa chon những bài thơ câu chuyện có mang tính
giáo dục kỹ năng sống như : Tích Chu, Ba cô gái , Bác Gấu đen và 2 chú Thỏ,
Nhổ củ cải…
VD: Giáo dục trẻ kỹ năng hợp tác thông qua câu chuyện “ Nhổ củ cải”
Một mình ông lão thì không thể nhổ được củ cải khổng lồ mà phải cần sự hợp
tác của các thành viên trong gia đình thì mới nhổ được.
Với tiết kể chuyện “ Hai anh em”, tiết đóng kịch “Cây tre trăm đốt”, giáo

vần điệu, những bài đồng dao, ca dao phù hợp với chủ đề được đưa vào để trẻ dễ
dàng tiếp thu trong quá trình học tập. Bên cạnh đó giáo viên đóng vai trò là
người hỗ trợ giúp trẻ phát huy khả năng, thế mạnh của mình từ đó phát triển
những ứng xử tích cực và tự tin trong cuộc sống.
Biện pháp 4: Chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho trẻ
thông qua các hoạt động trong ngày
* Thông qua giờ đón và trả trẻ : Giúp cho giáo viên nhận thấy rằng việc
dậy kỹ năng chủ yếu ở hoạt động này là kỹ năng tự phục vụ: Cất giầy dép, ba
lô…., ngoài ra còn dạy trẻ kỹ năng giáo dục lễ giáo như: biết chào hỏi, biết nói
lời xin lỗi, biết nói cảm ơi, không nói leo khi người khác nói, không tự tiện lấy
đồ và sử dụng đồ của người khác…
* Thông qua hoạt động ngoài trời : Một trong những kỹ năng đầu tiên mà
giáo viên cần chú tâm là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ. Nghĩa là giúp
trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với
những người khác. Kỹ năng sống này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin trong mọi
tình huống ở mọi nơi.

Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương Nam

15


SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh

Ví dụ: Cô tổ chức cho 2 đội chơi trò chơi “Kéo co” ở trò chơi này cháu
thực hiện đúng luật chơi. Mỗi đội luôn tự tin mình sẽ chiến thắng và tìm mọi
cách động viên khích lệ trong nhóm cố gắng có ý chí vươn lên.
Khi cho trẻ chơi tự do trong hoạt động ngoài trời, giáo viên vừa quan sát trẻ
chơi vừa hướng dẫn trẻ cách chơi an toàn như: Cách leo lên xuống thang, cách



SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh

+ Cách chơi: Cho trẻ đứng thành hai hàng ngang. Lần lượt từng trẻ gánh
quang gánh có đựng hoa đi qua ghế thể dục. Ai ngã khỏi cầu, làm rơi hoa phải ra
ngoài một lần chơi.
Trẻ đứng ở 2 hàng cổ vũ cho bạn và đọc đồng dao.
* Thông qua hoạt động góc :Trẻ mầm non bằng chơi – bằng trải nghiệm.
Các góc chơi mang tính tích hợp cao trong giáo dục trẻ, đáp ứng nhu cầu của trẻ,
đồng thời tích hợp nội dung giáo dục, trong đó có nội dung giáo dục kĩ năng
sống nên giáo viên lồng ghép giáo dục các kĩ năng sống thông qua nội dung từng
trò chơi đặc biệt là các trò chơi phân vai . Ví dụ : Trò chơi bác sĩ : qua trò chơi
này cô giáo dạy trẻ biết cảm thông chia sẻ với người ốm, với người thiệt thòi …
* Thông qua hoạt động lao động - vệ sinh : Giáo dục trẻ đi đại tiện, tiểu
tiện đúng chỗ và khi đi xong biết dội nước, các đồ dùng vệ sinh được dùng để
ngăn nắp … Điều này giúp trẻ tự khẳng định mình, nhận thức được khả năng
của mình, góp phần tham gia vào lao động thực sự của người lớn và các bạn
cùng tuổi nhằm bảo vệ môi trường và trường mầm non sạch, đẹp. Trẻ biết phân
loại rác, sống tiết kiệm: Giữ gìn đồ chơi, đồ dùng, tiết kiệm điện, nước trong
sinh hoạt ở lớp và ở nhà dùng chậu, cốc lấy nước không để vòi nước chảy liên
tục khi đánh răng, rửa mặt. . . Biết cùng cô làm đồ dùng, đồ chơi từ các nguyên
vật liệu phế thải, biết giữ gìn quần áo, tay chân sạch sẽ, trẻ tham gia quyết dọn
sân trường.
*Phát triển các kỹ năng sống qua việc tổ chức các hoạt động tập thể vui
tươi, lành mạnh trong nhà trường.
Trong năm học nhà trường phối hợp với các đoàn thể xây dựng kế hoạch
và chỉ đạo thực hiện nhiều hoạt động một cách thiết thực, khuyến khích sự tham
gia chủ động, tự giác của trẻ như: tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao nhân

lớn và cha mẹ trẻ là những người lớn gần gũi trẻ nhất vì vậy các bậc làm cha làm
mẹ đừng vô tình bỏ qua những cơ hội đơn giản và thuận lợi hàng ngày để hướng
dẫn con những thói quen tốt để rồi sau đó lại bắt trẻ mất thời gian học lại những
điều này ở một nơi khác với những người xa lạ. Cha mẹ trẻ hãy chú ý giúp trẻ
hình thành những kỹ năng sống tốt như kỹ năng giao tiếp xã hội để tự khám phá,
đánh giá bản thân mình và người khác.
VD: Cha hãy mẹ cho phép trẻ vui chơi bày biện đồ chơi theo theo ý thích
của trẻ, đừng bao giờ cấm đoán hay la mắng. Điều quan trọng là hãy để trẻ tự
thu dọn đồ chơi sau khi chơi xong. Cha mẹ có thể cùng con thu dọn nhưng tuyệt
đối không bao giờ được làm thay trẻ.
Đầu năm học chỉ đạo các lớp họp phụ huynh học sinh. Nêu rõ yêu cầu và
mục đích của nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong năm học. Phân tích
để cha mẹ hiểu rõ việc nên tham gia vào các buổi trao đổi với giáo viên, tham
gia các buổi họp của nhà trường và đã giúp phụ huynh hiểu rằng trẻ học là phải
học cả đời. Mọi thành viên trong gia đình cần chú ý đến việc dạy trẻ những nghi
thức văn hóa trong ăn uống rất cần thiết. Để trẻ có được những kỹ xảo, thói quen
Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương Nam

18


SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh

sử dụng đồ dùng một cách chính xác và thuần thục và khéo léo, không chỉ đòi
hỏi trẻ phải thường xuyên luyện tập, mà còn phải đáp ứng được những nhu cầu
của trẻ, đó là cung cấp cho trẻ những mẫu hành vi văn hóa, những hành vi đúng,
đẹp, văn minh của chính cha mẹ và những người xung quanh trẻ. Cha mẹ trẻ cần
phối hợp vớp giáo viên một cách chặt chẽ và hợp lý bằng việc tham gia tình
nguyện vào quá trình giáo dục trong nhà trường. Cha mẹ nên tham gia vào các



SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh

sinh lý của trẻ sẽ góp phần tích cực trong việc hình thành những kỹ năng sống
cho trẻ, giúp trẻ ghi nhớ và vận dụng hành vi đúng vào xử lý tình huống trong
cuộc sống hàng ngày một cách tự ý thức, mà không cần người lớn nhắc.
Để rèn luyện tốt kỹ năng sống cơ bản cho trẻ mầm non vùng đồng bào dân
tộc thiểu số thì phải phối hợp nhiều giải pháp, biện pháp với nhau. Tuy mỗi biện
pháp có những đặc điểm về tính chất, nội dung cụ thể khác nhau, nhưng luôn có
sự liên kết chặt chẽ với nhau, là một quá trình thống nhất không thể tách rời, có
tác dụng hỗ trợ lẫn nhau và nội dung cùng hướng tới việc thực hiện mục tiêu
giáo dục trong nhà trường. Tùy điều kiện tình hình của từng lớp, học sinh mà
giáo viên áp dụng cho phù hợp
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu,

phạm vi và hiệu quả ứng dụng.
Qua thực tế ở trường Mầm non Bình Minh thuộc Buôn tuôr A, xã DraySap,
tôi đã áp dụng một số biện pháp để rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ tại trường đã
thu được kết quả như sau.
-Kết quả khảo nghiệm học sinh cuối năm:

Nội dung

Trước khi thực
hiện đề tài

Sau khi thực hiện đề
tài


20%

52%

82%

16%

6%

Kỹ năng thích khám phá
học hỏi

32%

21%

47%

87%

7%

6%

Kỹ năng vệ sinh cá nhân
và tự lập

24%



SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh

Trước khi thực
hiện đề tài

Nội dung khảo sát

Số
lượng
+ Có những hiểu biết và nhận
thức đúng đắn trong việc giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ.

Sau khi thực
hiện đề tài

Tỷ lệ

Số
lượng

Tỷ lệ

02/08

25%



25%

07/08

87.5%

+ Có kế hoạch thực hiện nội
dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.

- Kết quả khảo sát phụ huynh về mức độ quan trọng của việc dạy kỹ năng
sống cho trẻ
Trước khi thực hiện đề tài
Mức độ

Số lượng

%

Sau khi thực hiện đề tài
Số lượng

%

Rất quan trọng

08

12.5 %


0

0%

Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương Nam

21


SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh

* Giá trị khoa học: Từ kết quả khát sát cho thấy vấn đề đang nghiên cứu
đã mang lại giá trị khoa học cho việc dạy kỹ năng sống cho trẻ như sau.
Giáo viên ngày càng rút ra nhiều bài học kinh nghiệm cho chính bản thân
khi thực hiện các hoạt động dạy trẻ. 100% giáo viên có kế hoạch thực hiện nội
dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, 87.5 % giáo viên có những hiểu biết và
nhận thức đúng đắn trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, có nhiều hình
thức, các hoạt động để lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Phát
huy được tính tích cực của trẻ. Có nhiều đồ dùng, đồ chơi, thơ ca, truyện kể có
nội dung giáo dục kỹ năng sống. Qua tỉ lệ trên cho cúng ta thấy đối với việc dạy
kỹ năng sống cho trẻ mầm non, nếu giáo viên biết lựa chọn đúng phương pháp,
áp dụng vào trong hoạt động học, hoạt động chơi và tích hợp nhuần nhuyễn ở
mọi lúc, mọi nơi sẽ mang lại hiệu quả cao cho công tác giảng dạy. Đó cũng là
tiền đề quan trọng ban đầu cho việc phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ.
100% trẻ đều được cô giáo và cha mẹ tạo mọi điều kiện khuyến khích khơi
dậy tình tò mò, phát triển trí tưởng tượng, năng động, mạnh dạn, tự tin, 100% trẻ
được rèn luyện khả năng sẳn sàng học tập hiệu quả ngày càng cao.
Tỷ lệ trẻ mạnh dạn tự tin tăng 52% đạt loại tốt, kĩ năng trong giao tiếp tăng
54%, kỹ năng thích khám phá học hỏi tăng 55%, kỹ năng vệ sinh cá nhân và tự

động của con người về môi trường rồi đến các học liệu, vật liệu như: hạt rau, củ
giống, rau, củ quả, bóng bay, nến, cát, sỏi... để cho giáo viên và học sinh trải
nghiệm trồng, chăm sóc cây. Bản thân các bậc phụ huynh cũng ý thức cao và
trách nhiệm cao hơn rất nhiều về việc giáo dục kỹ năng sống trong và ngoài
trường mầm non.
III. Phần kết luận, kiến nghị
1. Kết luận:

Việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đóng một vai trò vô cùng quan trọng,
không chỉ giúp trẻ phát triển tư duy, óc quan sát, ghi nhớ, chú ý có chủ định mà
còn giúp trẻ so sánh, phân tích, tổng hợp… Tạo cho trẻ những kinh nghiệm bổ
ích đối với cuộc sống thực tiển hàng ngày diễn ra xung quanh trẻ. Giúp trẻ có
một hành trang vững vàng, một tâm thế tự tin để bước vào cuộc sống.
Giáo viên đóng vai trò rất quan trọng trong việc dạy kỹ năng sống cho trẻ.
Vì vậy, cô giáo phải là tấm gương sáng để trẻ soi vào, để trẻ học làm người.
Không phương pháp nào hiệu quả bằng phương pháp Dùng nhân cách để giáo
dục nhân cách. Yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng với trẻ, mẫu mực về
hành vi, lời ăn tiếng nói, cách ứng xử, giải quyết vấn đề.
Nghiên cứu các hoạt động nhằm tích hợp và lồng ghép nội dung giáo dục
kỹ năng sống vào các hoạt động sao cho phù hợp với đặc điểm nhận thức của
trẻ.
Tạo nhiều cơ hội cho trẻ được tiếp xúc, giao tiếp với bạn, với người xung
quanh, hành vi ứng xử của giáo viên phải nhất quán để tạo thành những cảm
nhận rõ ràng, chắc chắn nơi trẻ.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương Nam

23


SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống


Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương Nam

24


SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại trường Mầm non Bình Minh

Nguyễn Thị Phương Nam
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

MỤC LỤC
I. Phần mở đầu.............................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài:....................................................................................1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu..............................................................................2
4. Giới hạn của đề tài...................................................................................2
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................2
II. Phần nội dung.........................................................................................3
1. Cơ sở lí luận ...........................................................................................3
Người thực hiện: Nguyễn Thị Phương Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status