I. MỞ ĐẦU
1 . Lý do chọn đề tài:
Xã hội hiện nay đã và đang làm thay đổi cuộc sống của con người, nhiều
vấn đề phức tạp liên tục nảy sinh. Bên cạnh những tác động tích cực, còn có
những tác động tiêu cực, gây nguy hại cho con người, đặc biệt là trẻ em. Nếu
mỗi người trong đó có trẻ em không có những kiến thức cần thiết để biết lựa
chọn những giá trị sống tích cực, không có những năng lực để ứng phó, để vượt
qua những thách thức mà hành động theo cảm tính thì rất dễ gặp trở ngại, rủi ro
trong cuộc sống.
Việc hình thành kỹ năng sống cho mọi người nói chung và trẻ em nói
riêng đang trở thành nhiệm vụ quan trọng. Giáo dục kỹ năng sống phải được đo
bằng sự vận dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống mỗi cá nhân để sống tích
cực, sống hạnh phúc, sống có ý nghĩa. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ nhằm giúp
trẻ phát triển hài hòa, toàn diện về nhân cách. Cung cấp cho mỗi trẻ những kiến
thức cần thiết về kỹ năng sống để các em sống sao cho lành mạnh và có ý nghĩa.
Giúp các em hiểu, biến những kiến thức về kỹ năng sống được cung cấp thành
hành động cụ thể trong quá trình hoạt động thực tiễn với bản thân, với người
khác, với xã hội, ứng phó trước nhiều tình huống, học cách giao tiếp, ứng xử với
mọi người, giải quyết mâu thuẫn trong mối quan hệ và thể hiện bản thân một
cách tích cực.
Ở các nước trên thế giới, từ nhiều năm qua giáo dục kỹ năng sống đã được đưa
vào chương trình giảng dạy và là một môn học. Ở Việt Nam, năm học 20092010, lần đầu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh vào dạy thí điểm ở một số trường mầm non và tiểu học. Có thể nói
việc trang bị kỹ năng sống cho trẻ em là một phương pháp giáo dục cần thiết để
trẻ bớt thụ động trong việc học và giao tiếp xã hội.
Song trên thực tế, việc dạy kỹ năng sống cho trẻ trong các trường mầm non
còn chưa được quan tâm nhiều và rất nhiều giáo viên còn chưa hiểu rõ được tầm
quan trọng của vấn đề hoặc thiếu kỹ năng giảng dạy để có thể truyền đạt cho trẻ
hiểu và hình thành những kỹ năng sống cần thiết cho trẻ.
Là người cán bộ quản lý, nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống
đối với sự phát triển của trẻ, tôi đã luôn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để giáo
bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng.
* Bản chất của kĩ năng sống
Bản chất của kĩ năng sống là kỹ năng tự quản bản thân và kỹ năng xã hội cần
thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả.
* Sự cần thiết giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non
- Dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non là ta nhằm giúp trẻ có kinh nghiệm trong
cuộc sống, biết được những điều nên làm và không nên làm.
- Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em phải hết sức đơn giản và gần
gũi với trẻ.
- Chúng ta dạy kỹ năng sống cho trẻ chính là chúng ta dạy trẻ biết sự hợp tác,
tự kiểm tra, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp.
- Trẻ sẽ học cách có được những mối liên kết mật thiết với các bạn khác trong
lớp, biết chia sẻ, chăm sóc, lắng nghe, trình bày và diễn đạt được ý của mình
trong nhóm bạn.
- Và điều quan trọng và chúng ta mong muốn là sẽ giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin
khi tiếp nhận các thử thách mới qua việc phát triển các kỹ năng cho trẻ.Nếu chỉ
suy ngẫm và trò chuyện thôi thì chưa đủ , cần có các kỹ năng ứng dụng vào thực
tế. Ngày nay trẻ cần được trải nghiệm , hiểu kết quả của hành vi ứng xử và
muốn chủ
Các hoạt động giáo duc kĩ năng sống trong trường mầm non
- Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ có thể tiến hành trong tất cả các hoạt động giáo
dục hàng ngày như: Vui chơi, học tập, chăm sóc sức khỏe, lao động vừa sức, lễ
hội, tham quan...Mỗi hoạt động có ưu thế riêng đối với việc dạy những kĩ năng
sống cần thiết với cuộc sống của trẻ. Để có được kĩ năng sống trẻ cần phải có
thời gian, trong một quá trình tập luyện thường xuyên với sự hỗ trợ của người
lớn và bạn bè.
2.2 Thực trạng của vấn đề:
* Thuận lợi :
Trường mầm non Hợp Thắng được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp
uỷ Đảng và chính quyền địa phương, phòng giáo dục & đào tạo Triệu Sơn và
nhau, biết trao đổi ý kiến của mình với các bạn, biết tìm
Kỹ năng hợp tác
cách để giải quyết mâu thuẫn, biết cảm thông và giúp đỡ
bạn trong quá trình làm việc.
– Trẻ biết diễn đạt ý tưởng của mình cho người khác hiểu,
biết điều chỉnh giọng nói và sử dụng từ ngữ phù hợp với
Kỹ năng giao tiếp
hoàn cảnh giao tiếp, chăm chú lắng nghe người khác nói và
chờ đến lượt trong giao tiếp, trò chuyện.
Kỹ năng xử lý tình – Trẻ có những hành động ứng phó đúng với các tình
huống
huống xảy ra trong cuộc sống
Sự tò mò và khả
– Trẻ hứng thú học hỏi, khám phá, tìm tòi cái mới, hay đặt
năng sáng tạo
câu hỏi: Vì sao? Như thế nào?
– Trẻ biết kêu cứu khi gặp nguy hiểm, biết đề nghi sự giúp
Kỹ năng giữ an toàn
đỡ của người khác khi cần thiết, biết tránh xa những đồ vật
cá nhân
và những nơi gây nguy hiểm
Dựa vào các tiêu chí trên tôi đã hướng dẫn giáo viên tiến hành khảo sát kỹ
năng sống của trẻ đầu năm và thu được kết quả như sau:
Bảng 1: Kết quả khảo sát thực trạng:
Đạt
Chưa đạt
Tổng số
STT Kỹ năng sống
trẻ
Số trẻ Tỉ lệ % Số trẻ Tỉ lệ %
6 Kỹ năng giữ an toàn cá nhân
81
32
39,5
49
60,5
Nhìn vào bảng kết quả thực trạng ta thấy: Việc dạy trẻ kĩ năng sống ở trường
mầm non Hợp Thắng trong những năm qua chưa được sự chỉ đạo cụ thể của
ngành . Nhà trường tập trung chỉ đạo việc dạy trẻ theo chương trình giáo dục
4
mầm non mới chưa coi trọng việc dạy trẻ kĩ năng sống cho học sinh nên việc chỉ
đạo giáo viên còn chung chung về nội dung cũng như các hình thức và phương
pháp dạy trẻ,da số giáo viên còn mơ hồ trong việc giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh, chủ yếu dạy trẻ theo chương trình với các chủ đề trong năm, việc lồng
ghép giáo dục kĩ năng sống cho học sinh giáo viên còn lúng túng hoặc nội dung
giáo dục chưa cụ thể . Lập kế hoạch giáo dục kĩ năng sống tích hợp theo chủ đề
trong năm học chưa linh hoạt vào điều kiện thực tế nhà trường. Kỹ năng sống
của học sinh còn nghèo nàn đa số trẻ còn chưa biết cách ứng xử với các tình
huống bất thường sảy ra cũng như sự tò mò ,khả năng sáng tạo và kỹ năng giữ
an toàn cá nhân còn thấp . Phụ huynh nhận thức được tầm quan trọng của việc
dạy kĩ năng sống cho con nhưng chưa thường xuyên phối hợp với nhà
trường ,với giáo viên chủ nhiệm để cùng thống nhất giáo dục kĩ năng sống cho
con về nội dung cũng như phương pháp . Một số phụ huynh chưa biết nội dung
sẽ dạy gì và dạy như thế nào . Trẻ các kĩ năng sống còn hạn chế qua việc ứng sử
giao tiếp, chưa biết cách cảm thông chia sẻ hợp tác với các bạn với người lớn
hoặc kỹ năng tự phục vụ hay tự bảo vệ bản thân chưa biết cách.
Trong những năm qua việc chỉ đạo chuyên môn ở trường chỉ tập trung chỉ đạo
giáo viên các khối lớp thực hiện dạy trẻ theo chương trình giáo dục mầm non
Thông qua giờ đón và trả trẻ : Chỉ đạo hướng dẫn giáo viên trò chuyện hoặc
kể cho trẻ nghe các câu chuyện thông quá đó giáo dục và khắc sâu các kĩ năng
sống cho trẻ :
Ví dụ : Cô hỏi trẻ : Kĩ năng ứng sử : Hôm qua nghỉ ở nhà con làm gì ? Ở nhà
chơi như thế nào là an toàn nhất ? Khi đi thăm ông bà ốm cùng bố mẹ con phải
như thế nào?.... Kế cho trẻ nghe các câu chuyện mang tính giáo dục kỹ năng
sống như : Tích Chu, ba cô gái , bác gấu đen và 2 chú Thỏ , củ cải trắng .
Thông qua hoạt động ngoài trời : Thông qua hoạt động này chỉ đạo giáo viên
bằng các đối tượng trẻ được quan sát, cô tận dụng các cơ hội để giáo dục kĩ năng
sống cho trẻ .
Ví dụ : Khi cho trẻ thăm quan khu nhà bia của xã giáo viên phải dạy cho trẻ
biết tri ân các anh hùng liệt sĩ, không vứt rác thải các nơi công cộng, không ngắt
lá bẻ cành cây các khu vui chơi, nhà bia, khu di tích …
Thông qua hoạt động vui chơi :Trẻ mầm non chơi mà học – Học bằng chơi .
Hoạt động vui chơi mang tính tích hợp cao trong giáo dục trẻ. Hoạt động chơi
được tổ chức đáp ứng nhu cầu của trẻ, đồng thời tích hợp nội dung giáo dục,
trong đó có nội dung giáo dục kĩ năng sống nên giáo viên lồng ghép giáo dục
các kĩ năng sống thông qua nội dung từng trò chơi đặc biệt là các trò chơi phân
vai .
Vi dụ : Trò chơi bác sĩ : Qua trò chơi này cô giáo dạy tre biết cảm thông chia
sẻ với người ốm, với người thiệt thòi …
Thông qua hoạt động lao động - vệ sinh : Giáo dục trẻ đi đại tiện, tiểu tiện
đúng chỗ và khi đi xong biết dội nước, các đồ dùng vệ sinh được dùng để ngăn
nắp … Điều này giúp trẻ tự khẳng định mình, nhận thức được khả năng của
mình, góp phần tham gia vào lao động thực sự của người lớn và các bạn cùng
tuổi nhằm bảo vệ môi trường và trường mầm non sạch, đẹp . . .
Lao động chăm sóc vât nuôi, cây trồng: đây chính là những việc làm tốt cho
môi trường, ngoài ra còn hình thành lòng tự hào ở trẻ khi được góp công sức của
mình vào việc làm cho môi trường xanh - Sạch - đẹp thông qua các hoạt động
này Giáo viên giáo dục trẻ các kĩ năng tự phục vụ bản thân. . . , kỹ năng biết
mốc, tiếng ồn, nhiều cây xanh. . .
+ Môi trường bị ô nhiễm: các đồ dùng sắp xếp không ngăn nắp, bụi bẩn, môi
trường bị ô nhiễm bởi ; rác, nước thải sinh hoạt của người lớn và trẻ, tiếng ồn,
các hoá chất, phân người và vật nuôi . . .
- Xây dựng môi trường bằng hành vi phù hợp
+ Vứt rác đúng nơi quy định, không khạc nhổ bừa bãi, lau mạng nhện, lau bụi
các đồ dùng, lau bụi cửa sổ
+ Sắp xếp các đồ dùng ngăn nắp
+ Yêu quý, giữ gìn, bảo vệ chăm sóc đồ dùng các nhân và đồ dùng gia đình và
trường mầm non
+ Chăm sóc các con vật nuôi và các cây trồng ở gia đình và trường mầm non:
lau lá, tưới nước, xới đất. . .
+ Lao động hàng ngày : Trực nhật phòng học, góc thiên nhiên, chuẩn bị giờ
học. .
- Biết quý trọng và giữ gìn đồ dùng, đồ chơi và áo quần sạch sẽ và dùng lâu bền
- Các hoạt động giải trí bằng những phương tiện khác nhau và mỗi người cần
chú ý bảo vệ chúng khi sử dụng .
- Có ý thức tiết kiệm nước trong sinh hoạt hàng ngày
- Trẻ biết suy nghĩ và giải quyết vấn đề trong cuộc sống có liên quan đến bảo vệ
môi trường: điều gì sẽ sảy ra không bỏ rác vào thùng rác, ra khỏi phòng phải tắt
- Rửa tay trước khi ăn, ăn chín, uống chín, đeo khẩu trang khi đi ngoài đường,
khi ngửi thấy mùi lạ không ăn, không uống, không uống nước pha nhiều phẩm
màu. . .
- Không cho trẻ chơi các thứ độc hại ( hoá chất, các đồ dẽ vỡ, sách , truyện tranh
và đồ chơi phản tác dụng giáo dục. . . )
7
Giáo dục trẻ biết cách ứng xử với người lớn , biết cách xưng hô phù hợp với
lâu; trồng nhiều cây xanh lấy bóng mát
Nguyên nhân gây ra lũ lụt: Con người chặt phá rừng làm cho nước chảy nhanh
từ rừng về. Cách chống lũ: Trồng cây gây rừng, khơi thông dòng chảy không đổ
rác thải xuống ao, hồ, sông...Ngoài việc giáo dục trẻ có kĩ năng tự bảo vệ bản
thân thì còn giáo dục trẻ có kĩ năng biết tỏ thái độ với những việc nên làm và
việc không nên làm để bảo bệ thiên nhiên tạo môi trường sống an toàn cho mọi
người.
e.Chủ đề thế giới động vật và thực vật
Con vật và cây cối có ích cho con người: Thức ăn, thuốc chữa bệnh, làm quần
áo, đồ dùng,đồ chơi, giúp con người vận chuyển hàng hoá, là phương tiện giải
trí...
8
Cây cối làm giảm ô nhiễn môi trường: Giảm bụi, tiếng ồn, chất độc hại, giảm
nhiệt độ ngày hè...vì vậy con người cần chăm sóc bảo vệ vật nuôi cây trồng
Không bẻ hoa, ngắt lá cành cây nơi công cộng.
Quan tâm đến động vật: Cho ăn, uống, làm vệ sinh chuồng tạo điều kiện gần
giống với thiên nhiên cho động vật nuôi,. . và biết phản đối những người săn bắn
thú rừng và động vật quý hiếm . Giáo dục trẻ kĩ năng rửa tay trước , sau khi ăn
và sau khi đi vệ sinh.
g .Chủ đề phương tiện và luật giao thông
Giáo dục trẻ không vứt rác xuống lòng đường, xuống sông khi đi trên các
phương tiện giao thông, không chơi dưới lòng đường , kĩ năng tự bảo vệ bản
thân khi đi trên các phương tiện giao thông và cách ứng sử giao tiếp có văn hóa
khi đi trên các phương tiện giao thông , kĩ năng thực hiện các luật giao thông bắt
buộc
h. Chủ đề : Quê hương - Đất nước – Bác Hồ
Chỉ đạo giáo viên dạy trẻ biết địa danh nơi trẻ sống, tình cảm quan hệ hàng
chăm sóc và giáo dục trẻ em tạo nên sự thống nhất giáo dục trẻ giữa hai lực
lượng . Giáo viên cần tuyên truyền với phụ huynh giáo dục trẻ kĩ năng sống
trong thời gian trẻ ở nhà bằng các phương pháp trò chuyện , tạo các tình huống
giả định , kể các câu chuyện mang tính giáo dục với các nội dung sau: Các ứng
sử giao tiếp với người thân trong gia đình và mọi người xung quanh trẻ.
Đây là hình thức thường làm nhưng lại đạt hiệu quả rất cao trong các hoạt
động. Việc giáo viên tích cực giao lưu với phụ huynh vào giờ đón trả trẻ giúp
giáo viên dễ dàng nắm bắt tình hình của trẻ, hiểu được tính cách, hoàn cảnh sống
của trẻ từ đó đề ra các biện pháp phù hợp cũng như cách tác động, phối hợp với
phụ huynh trong việc rèn luyện trẻ đúng phương pháp.
Nhận thức được tầm quan trọng của biện pháp này, tôi thường trao đổi, tuyên
truyền phụ huynh hiểu những việc nên và không nên đối với trẻ để giúp trẻ có
kỹ năng sống tốt, trẻ có kỹ năng tự bảo vệ bản thân, tự tin trong cuộc sống. Trẻ
luôn bắt chước người lớn và cha mẹ trẻ là những người lớn gần gũi trẻ nhất. Vì
vậy các bậc làm cha làm mẹ đừng vô tình bỏ qua những cơ hội đơn giản và
thuận lợi hàng ngày để hướng dẫn con những thói quen tốt để rồi sau đó lại bắt
trẻ mất thời gian học lại những điều này ở một nơi khác với những người xa lạ.
Cha mẹ trẻ hãy chú ý giúp trẻ hình thành những kỹ năng sống tốt như kỹ năng
giao tiếp xã hội để tự khám phá, đánh giá bản thân mình và người khác.
Ví dụ: Cha hãy mẹ cho phép trẻ vui chơi bày biện đồ chơi theo theo ý thích
của trẻ, đừng bao giờ cấm đoán hay la mắng. Điều quan trọng là hãy để trẻ tự
thu dọn đồ chơi sau khi chơi xong. Cha mẹ có thể cùng con thu dọn nhưng tuyệt
đối không bao giờ được làm thay trẻ.
Trong các dịp lễ tết cha mẹ nên tạo cơ hội khuyến khích trẻ tham gia dọn dẹp
trang hoàng nhà cửa, phụ ông bà lau lá để gói bánh chưng, trang trí cây đào, cây
quất, đi chợ tết mua sắm cùng mẹ…Ngoài ra, bố mẹ hãy lựa chọn những chương
trình trên truyền hình phù hợp và bổ ích với bé để cả nhà cùng xem, khi xem
khuyến khích các bé nói lên suy nghĩ cảm xúc của mình về những điều mà bé
vừa được xem.
non kết quả như sau:
Bảng 2: Tổng hợp so sánh kết quả khảo sátthực trạng và kết quae khảo sát
sau khi áp dụng các biện pháp được đánh giá trẻ như sau:
T Kỹ năng sống Tổng
Đầu năm
Cuối năm
T
số
HS
Đạt
1
Sự tự tin
81
2
Kỹ năng hợp tác 81
Chưa đạt
SL TL SL
%
42 51,8 39
TL
SL
%
tiếp
4 Kỹ năng xử lý 81
37 45,6 44 54,4 76
93,8 5 6,2
tình huống
5 Sự tò mò và khả 81
31 38,2 50 61,8 74
91,3 7 8,7
năng sáng tạo
6 Kỹ năng giữ an 81
32 39,5 49 60,5 77
84,6 4 5,4
toàn cá nhân
Qua bảng khảo sát cho ta thấy:
* Về phía trẻ
Trẻ Mẫu giáo 5- 6 tuổi trường tôi có sự chuyển biến và tăng rõ nét về việc hình
thành các kỹ năng sống: Giao tiếp, hợp tác làm việc theo nhóm, thể hiện tinh
thần đồng đội, biết chia sẻ, cư xử với nhau một cách thân thiện, biết giải quyết
vấn đề, giải quyết xung đột,. .Và phát triển những phẩm chất tốt đẹp như: tính
11
kiên trì, tính trung thực, biết nhường nhịn, biết cư xử đẹp khi thắng thua. Trẻ tự
tin tham gia vào các hoạt động của trường lớp. Điều này chứng minh rằng việc
vui chơi bằng các trò chơi, các hoạt động cho trẻ thực hành trải nghiệm cùng với
các phương thức sử dụng đa dạng, linh hoạt đã giúp trẻ tiếp nhận kỹ năng sống
một cách hiệu quả. Trẻ đã biết chuyển hóa từ hoạt động thành ý thức, từ ý thức
thành kỹ năng. Và những kỹ năng sống đó sẽ phát triển bền vững và theo trẻ đến
suốt cuộc đời
* Về phía giáo viên:
hàng ngày, bảng tuyên truyền và thông qua các tài liệu trực quan sẽ nâng cao
hiệu quả giáo dục. Phụ huynh ngày càng tin tưởng vào cô giáo, đồng thời cô
giáo đã góp phần tuyên truyền phổ biến kiến thức cho cộng động, vận động cộng
đồng cùng chung tay giáo dục trẻ kỹ năng sống
12
Trẻ em được giáo dục kỹ năng sống tốt thì khả năng thích nghi và thành công
trong cuộc sống sẽ dễ dàng hơn. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là một việc làm
hết sức quan trọng và cần thiết. Điều đó giúp cho trẻ tự tin, chủ động xử lý linh
hoạt các tình huống trong cuộc sống.
Thực tế, kỹ năng sống của trẻ lứa tuổi mầm non chỉ đơn giản là giao tiếp tốt,
biết vui chơi với bạn, biết xin lỗi hoặc cảm ơn đúng lúc, dể thích nghi với môi
trường khác nhau….Một đứa trẻ chờ đến lượt chơi sẽ là người biết kiên nhẫn,
một đứa trẻ được tập thích nghi với đám đông sẽ trở thành người biết tự chủ và
tự tin sau này. Đó chính là những lợi ích về lâu dài để các bậc phụ huynh ngày
nay quan tâm nhiều hơn đến việc trang bị kỹ năng sống cho con ngay từ tuổi
mầm non. Cũng cần nói thêm rằng trẻ nhỏ chỉ có thể tích luỹ kỹ năng sống
thông qua những trải nghiệm thực tế. Trong mỗi đứa trẻ đều có những tài năng
tiềm ẩn. Sự chuẩn bị kỹ càng từ lúc đầu đời chính là chìa khoá thành công cho
tương lai mỗi cháu. Chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non
chính là cơ sở giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ
là nền tảng cho quá trình học tập suốt đời của trẻ. người lớn hãy luôn khuyến
khích trẻ mạnh dạn tham gia các hoạt động, tự tin vào bản thân. Đồng thời,
khuyến khích trẻ khi tham gia vào trò chơi, cần biết cải tiến, sáng tạo các cách
chơi và cố gắng đạt mục đích, đây chính là những kỹ năng cơ bản để sống và
làm việc sau này. Thường xuyên chỉ ra cái mới mà người lớn cũng tìm tòi một
cách hăng hái bằng nhiều cách, hãy trao đổi với trẻ về những thông tin mà cô
giáo, cha mẹ mới tìm thấy cho trẻ thấy rằng học lúc nào cũng vừa vui, vừa thử
giáo 5-6 tuổi của tôi đã triển khai thực hiện. Tôi đã áp dụng thành công ở khối
mẫu giáo 5- 6 tuổi ở Trường Mầm non Hợp Thắng – Triệu Sơn và thu được kết
quả tốt. Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa học các
cấp,chị em đồng nghiệp để đề tài này ngày một hoàn thiện hơn, thực hiện tốt
hơn trong các năm học tiếp theo./.
Hợp Thắng, ngày 10 tháng 04 năm 2016
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SSKN của
mình viết không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết SKKN
Mai Thị Thoa
14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Ngọc Ái – Chăm sóc- Giáo dục sức khoẻ, dinh dưỡng môi trường cho
trẻ từ: 0 đến 6 tuổi – Nhà xuất bản giáo dục – Năm 1999.
2. Trần Thị Ngọc Trâm và nhóm tác giả - Hướng dẫn tổ chức thực hiện
chương trình giáo dục mầm non . Mẫu giáo lớn( 5 – 6 tuổi) – Nhà xuất bản
giáo dục việt Nam- Năm 2009
3.Tạp chí giáo dục mầm non Số 4 - năm 2002- Bộ GD & ĐT – Năm 2002
4.Tạp chí giáo dục mầm non Số 2 năm 2008- Bộ GD & ĐT – Năm 2008
15