Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị
Sáu
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với các môn học khác (Tiếng Việt, Khoa học, Lịch sử, Địa lí, Đạo
đức,...) môn Toán được dạy trong trường Tiểu học đã đóng góp một phần quan
trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh.
Môn Toán được dạy ở trường Tiểu học là môn học thống nhất, không chia
thành phân môn. Nội dung của nó bao gồm các mạch kiến thức là: Số học, Đại
lượng và đo đại lương, Các yếu tố hình học, Yếu tố thống kê, Giải toán có lời
văn. Trong chương trình dạy học toán các mạch kiến thức này được sắp xếp xen
kẽ nhau, quan hệ gắn bó với nhau làm cho môn Toán trở thành môn học có tính
tích hợp cao, phù hợp với nhận thức của học sinh Tiểu học.
Các bài toán có lời văn dành cho học sinh Tiểu học trong chương trình là
những vấn để trong thực tế cuộc sống hết sức phong phú và có cấu trúc đa dạng
khác nhau của cùng một phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) đến những dạng toán
kết hợp của hai hay nhiều phép tính. Vì vậy, giải các bài toán có lời văn là dịp
để học sinh vận dụng một cách tổng hợp các tri thức và kĩ năng giải toán với
kiến thức cuộc sống.
Việc dạy giải toán là một trong những vấn đề được coi trọng vì nó được
xem là hoạt động nhằm mục đích: Củng cố, vận dụng những kiến thức tổng hợp
thành kĩ năng, kĩ xảo và phát triển tư duy cho học sinh. Các em được làm quen
với giải toán có lời văn ngay từ lớp 1 nhưng mới ở dạng toán đơn. Trong chương
trình giải toán ở lớp 3 các em được học giải bài toán bằng hai phép tính bao gồm
nhiều kiến thức tổng hợp. Đây là nền tảng cho các em giải các bài toán yêu cầu
cao hơn có từ hai lời giải trở lên. Để làm tốt loại toán này đòi hỏi các em khả
năng tư duy “Phân tích – tổng hợp”. Nếu học sinh không hiểu được đề bài sẽ
không giải được bài toán. Trong thực tế lớp tôi chủ nhiệm vẫn còn nhiều học
sinh lúng túng trong quá trình giải toán có lời văn. Tôi nhận thấy trong các kiến
thức Toán ở chương trình thì mạch kiến thức “Giải toán có lời văn” là khó nhất
Để góp phần nâng cao chất lượng học Toán và rèn kĩ năng giải toán có lời
văn cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 3, xuất phát từ trong quá trình giảng dạy
và giáo dục học sinh với ý thức lương tâm, trách nhiệm nghề nghiệp, bản thân
tôi luôn suy nghĩ và trăn trở, không ngừng tích lũy kinh nghiệm về nâng cao
chất lượng dạy học giải toán cho học sinh lớp 3. Đó chính là lí do tôi chọn đề tài
“Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở
trường TH Võ Thị Sáu”.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu đề tài giúp học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số nắm được quy trình
giải toán có lời văn, biết phân tích đề bài, biết cách giải, tìm ra đáp số đúng của
bài toán có lời văn nhằm nâng cao kĩ năng giải toán cho học sinh để các em có
thể nắm chắc, giải thành thạo những bài toán có lời văn ở lớp 3 góp phần dạy
học mạch toán có lời văn nói riêng và dạy học toán nói chung đạt chất lượng cao
Nhiệm vụ của đề tài là điều tra cơ bản có số liệu cụ thể về số học sinh giải
toán có lời văn còn khó khăn. Lập kế hoạch, biện pháp phù hợp để giúp
học sinh có kĩ năng giải toán tốt hơn và bồi dưỡng nâng cao cho học sinh
năng khiếu. Kiểm tra kết quả đạt được trong từng tháng của học sinh để
có kế hoạch giúp đỡ, uốn nắn kịp thời. Học hỏi đồng nghiệp, nghiên cứu
tài liệu đúc rút kinh nghiệm qua giảng dạy để nâng cao trình độ chuyên
môn cho bản thân.
3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh dân tộc
thiểu số lớp 3.
4. Giới hạn của đề tài
Học sinh dân tộc thiểu số lớp 3B trong trường Tiểu học Võ Thị Sáu năm
học 2016 – 2017.
Nội dung môn Toán bao gồm 5 mạch kiến thức lớn, tôi đi sâu vào nghiên
cứu phần: “Giải toán có lời văn”. Các bài toán trong chương trình lớp 3.
5. Phương pháp nghiên cứu
a) Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
trong trường Tiểu học có những vai trò góp phần quan trọng đào tạo nên những
con người phát triển toàn diện. Toán học là môn khoa học tự nhiên có tính lôgic
và tính chính xác cao, nó là chìa khóa mở ra sự phát triển của các bộ môn khoa
học khác. Trong đó mạch kiến thức giải toán có lời văn là dạng toán dùng ngôn
ngữ đưa ra các dữ kiện và những yếu tố cần tìm trong một văn cảnh, ta vẫn hay
quen gọi là bài toán đố. Bài toán có lời văn bao gồm nhiều loại toán khác nhau:
toán đơn, toán hợp, toán điển hình. Ngay từ lớp 1 các em đã làm quen với cách
giải bài toán có lời văn, tuy nhiên ở dạng rất đơn giản. Đó là những bài toán đơn
về “thêm”, “bớt”, “nhiều hơn”, “ít hơn”. Lên lớp 3 các em bắt đầu làm quen và
giải các bài toán hợp. Cho nên giải toán ở lớp 3 là nền tảng quan trong cho các
em học giải toán ở lớp 4, 5.
Giải toán có lời văn là một phần quan trọng trong chương trình giảng dạy
môn Toán ở bậc Tiểu học. Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ
với nội dung của số học, các đại lượng cơ bản và các yếu tố hình học có trong
chương trình Toán 3. Vì vậy, việc giải toán có lời văn có một vị trí quan trọng
thể hiện ở các điểm sau:
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
3
Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị
Sáu
Các khái niệm và các quy tắc về Toán trong sách giáo khoa nói chung đều
được giảng dạy thông qua giải toán. Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận
dụng các kiến thức, rèn luyện kĩ năng tính toán. Đồng thời qua việc giải toán của
học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc thiếu sót
của các em về kiến thức, kĩ năng và tư duy để giúp các em phát huy hoặc khắc
Chưa nắm được
cách giải
31
16
31
16
7 em = 29,2%
9 em = 37,5%
15 em = 33,3%
Bên cạnh đó cha mẹ các em phần lớn nằm trong diện lao động nghèo,
hoàn cảnh khó khăn và diện xóa đói giảm nghèo lại nhiều. Vì thế, cha mẹ
chưa hoặc không quan tâm, chăm lo đến việc học hành cho con em mình.
Cá biệt còn có trường hợp học sinh theo cha mẹ đi làm lò gạch, đi nhặt
điều, đi mót cà phê,… làm gián đoạn việc học tập của các em, gây ảnh
hưởng đến độ liên tục của bài học trong chương trình, các em không tiếp
thu được bài, hổng kiến thức. Đã khiến cho nhiều học sinh không tích cực
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
4
Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị
bài cho, dạng bài đã làm.
Học sinh chưa biết cách phân tích đề, tóm tắt bài toán dẫn đến chưa biết
cách giải bài toán.
Học sinh biết cách giải nhưng kĩ năng tính toán kém dẫn đến kết quả sai.
Các em chưa hiểu rõ bản chất bài toán dẫn đến lúng túng khi đặt câu lời
giải cho phép tính và đặt lời giải sai.
Có học sinh không nắm vững các dạng toán dẫn đến sợ học toán có lời
văn với quan niệm là khó.
Một số em còn hạn chế về cách diễn đạt, hiểu ý nhưng không diễn đạt
được.
Dạy học giải toán có lời văn ở lớp 3 nhằm kế thừa giải toán có lời văn ở
lớp 1, 2 mở rộng, phát triển nội dung giải toán phù hợp với sự phát triển nhận
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
5
Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị
Sáu
thức của học sinh lớp 3. Thời lượng dành cho bài toán giải có lời văn chiếm
tương đối nhiều trong tổng quỹ thời gian dành cho môn toán.
Trong giải toán có lời văn ở Tiểu học nói chung và giải toán có lời văn
cho học sinh lớp 3 nói riêng, học sinh phải tư duy một các linh hoạt, áp dụng
được tất cả các kiến thức, kĩ năng đã có vào giải toán, vào các tình huống khác
nhau. Trong nhiều trường hợp các em phải biết vận dụng những dữ kiện, điều
kiện chưa được nêu ra một các rõ ràng. Học sinh phải tự linh động trong giải
toán, phát huy tích cực, chủ động khi làm bài. Vì vậy, mạch kiến thức giải toán
có lời văn đóng vai trò quan trọng trong nội dung chương trình Toán 3.
3.1. Mục tiêu của giải pháp
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
6
Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị
Sáu
Mục đích nhằm nâng cao chất lượng học toán cho học sinh nói chung và
rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh tộc dộc thiểu số lớp 3 nói riêng
giúp các em nắm chức và giải tốt bài toán có lời văn, giúp giáo viên cùng học
sinh đáp ứng được mục tiêu giảng dạy và học tập hiện nay, tạo điều kiện thuận
lợi cho học sinh học tốt môn toán ở các lớp trên.
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
Biện pháp 1: Xây dựng nề nếp lớp học
Song song với việc điều tra, phân loại đối tượng học sinh, lập kế hoạch
phấn đấu bồi dưỡng cho các em, tôi tiến hành xây dựng nề nếp học tập cho học
sinh. Sắp xếp chỗ ngồi cho hợp lí, phù hợp với từng em.
Hướng dẫn học sinh cách học nhóm có hiệu quả, phân công các nhóm
kèm cặp lẫn nhau, học sinh năng khiếu giúp học sinh khó khăn, tạo thói quen
trao đổi học tập cùng nhau.
Xây dựng quy ước giữa cô và trò, yêu cầu học sinh thực hiện nghiêm túc
(giờ nào việc ấy). Học sinh tự giác nghe giảng, học bài và làm bài đầy đủ.
Biện pháp 2: Quy trình giải toán có lời văn
Nghiên cứu kĩ đầu bài: Trước hết cần đọc cẩn thận đề toán, suy nghĩ về ý
nghĩa bài toán, nội dung bài toán, đặc biệt chú ý đến câu hỏi bài toán. Không
nên vội tính toán khi chưa đọc kĩ đề toán.
Thiết lập mối quan hệ giữa các số đã cho và diễn đạt nội dung bài toán
cho gì? Bài toán hỏi gì?” và dựa vào tóm tắt để nêu đề toán,…
Đối với những học sinh kĩ năng đọc hiểu còn chậm, tôi dùng phương pháp
giảng giải kèm theo các đồ vật, tranh minh họa để các em tìm hiểu, nhận xét nội
dung, yêu cầu của đề toán. Qua đó học sinh hiểu được yêu cầu của bài toán và
dựa vào câu hỏi của bài, các em nêu miệng câu lời giải, phép tính, đáp số của bài
toán rồi cho các em tự trình bày bài giải vào vở bài tập.
Bước 2: Tìm cách giải bài toán
* Chọn phép tính giải thích hợp
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho và cái
phải tìm, cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp: Chọn “phép chia” nếu
1 1
bài toán yêu cầu “tìm , ...”. Chọn “tính trừ” nếu “bớt” hoặc “tìm phần còn
3 4
lại” hay là “lấy ra”. Chọn “phép nhân” nếu “gấp đôi, gấp ba” …
Ví dụ: Một đội công nhân phải sửa quãng đường dài 1215m, đội đã sửa
1
được quãng đường. Hỏi đội công nhân đó còn phải sửa bao nhiêu mét đường
3
nữa? (Bài 2/ SGK- 119).
Để giải được bài toán này, học sinh cần phải tìm được mối liên hệ giữa cái
đã cho và cái phải tìm. Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua các câu
hỏi gợi ý như:
+ Bài toán cho biết gì? (Một đội công nhân phải sửa quãng đường dài
1215m.)
+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (đã sửa được
1
quãng đường.)
3
Ví du: Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn
thùng thứ nhất 6 lít dầu. Hỏi cả hai thùng đựng được bao nhiêu lít dầu?
+ Muốn biết cả hai thùng đựng được bao nhiêu lít dầu trước tiên em phải
tìm gì? (Tìm thùng thứ hai đựng được bao nhiêu lít dầu)
Vậy: Cái cần tìm đầu tiên là số lít dầu đựng trong thùng thứ hai nên câu
lời giải là: “Số lít dầu đựng trong thùng thứ hai là:” hoặc “Thùng thứ hai đựng
được số lít dầu là:”
Tóm lại: Tuỳ từng đối tượng, từng trình độ học sinh mà hướng dẫn các
em cách lựa chọn, đặt câu lời giải cho phù hợp. Trong một bài toán, học sinh có
thể có nhiều cách đặt lời giải khác nhau. Song trong khi giảng dạy, ở mỗi một
dạng bài cụ thể tôi cho các em suy nghĩ, thảo luận theo bàn, nhóm để tìm ra các
câu lời giải đúng và hay nhất phù hợp với câu hỏi của bài toán đó. Tuy nhiên cần
hướng dẫn học sinh lựa chọn cách giải (ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với các em)
và phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình.
Bước 3: Trình bày bài giải
Như chúng ta đã biết, các dạng toán có lời văn, học sinh đã phải tự viết
câu lời giải, phép tính, đáp số, thậm chí cả tóm tắt nữa.
Chính vì vậy, việc hướng dẫn học sinh trình bày bài giải sao cho khoa
học, đẹp mắt cũng là yêu cầu lớn trong quá trình dạy học. Muốn thực hiện yêu
cầu này trước tiên người dạy cần tuân thủ cách trình bày bài giải theo hướng
dẫn, quy định.
Đầu tiên là tên bài (Viết sát lề bên trái có gạch chân), tiếp đó ghi bài giải.
Từ: “Bài giải” ghi ở giữa trang vở (có gạch chân), câu lời giải ghi cách ô lỗi
khoảng 1 -> 2 ô vuông (tùy câu lời giải ngắn hoặc dài), chữ ở đầu câu viết hoa, ở
cuối câu có dấu hai chấm (:), phép tính viết lùi vào so với lời giải khoảng 2 -> 3
ô vuông, cuối phép tính là đơn vị tính được viết trong dấu ngoặc đơn. Phần đáp
số ghi lệch sang phần vở bên phải và dấu hai chấm rồi mới viết kết quả và đơn
vị tính (không phải viết dấu ngoặc đơn nữa).
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
có ít hơn 6 học sinh. Bài toán yêu cầu tìm số học sinh cả hai lớp.
Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải bài toán: Muốn tìm số học sinh của cả
hai lớp ta làm như thế nào? (Lấy số học sinh của lớp 3A cộng với số học sinh
của lớp 3B).
Khi đã biết số học sinh của lớp 3A rồi ta phải đi tìm gì? (Ta phải tìm được
số học sinh của lớp 3B).
Muốn tìm số học sinh của lớp 3B ta làm như thế nào? (Lấy số học sinh
của lớp 3A trừ đi 6). Có thể ghi tắt quá trình suy nghĩ trên bằng sơ đồ sau:
Cả hai lớp
Lớp 3A + Lớp 3B
Lớp 3A - 6
Qua phân tích bài toán, học sinh trình bày được bài giải như sau:
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
10
Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị
Sáu
Bài giải:
Số học sinh lớp 3B là:
38 – 6 = 32 (học sinh)
Cả hai lớp có số học sinh là:
38 + 32 = 70 (học sinh)
Đáp số: 70 học sinh
Lưu ý: Đây là bài toán liên quan đến dạng toán về ít hơn.
Ví dụ 2: (SGK/Tr.103) Một cửa hàng buổi sáng bán được 432l dầu, buổi
chiều bán được gấp đôi buổi sáng. Hỏi cả hai buổi bán được bao nhiêu lít dầu?
Học sinh đọc bài toán, phân tích và tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng:
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
11
Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị
Sáu
+ Muốn biết Minh còn phải đọc bao nhiêu trang nữa thì trước tiên ta phải
làm gì? (Tìm xem Minh đã đọc được bao nhiêu trang truyện).
+ Muốn tìm số trang Minh đã đọc ta lấy số trang truyện chia cho 4.
Bài giải:
Minh đã đọc được số trang truyện là:
132 : 4 = 33 (trang)
Minh còn phải đọc số trang truyện nữa là:
132 – 33 = 99 (trang)
Đáp số: 99 trang
Lưu ý: Đây là bài toán liên quan đến tìm một phần mấy của một số.
(Muốn tìm một phần mấy của một số ta lấy số đó chia cho số phần).
Như vậy sử dụng sơ đồ đoạn thẳng vào giải toán là phương pháp đem lại
hiệu quả cao. Nhiều bài toán phức tạp nhưng sau khi hướng dẫn học sinh phân
tích đề bài và tóm tắt được bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng thì bài toán lại trở
thành đơn giản. Dùng sơ đồ đoạn thẳng vào giải toán giúp học sinh có khả năng
phân tích, tổng hợp, phát triển tư duy và sáng tạo.
2. Hướng dẫn giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị
Để làm tốt các bài toán liên quan đến rút về đơn vị thì học sinh phải nắm
được cách giải bài toán. Đầu tiên phải đi tìm giá trị của một đơn vị (thực hiện
bằng phép tính chia). Trong bài toán bao giờ cũng có hai đơn vị đo là hai danh
số. Cần cho học sinh xác định được một đơn vị cần tìm trong bài toán chính là
đơn vị lớn bao hàm đơn vị còn lại.
7 phòng: … viên gạch?
2550 : 6 = 425 (viên gạch)
7 phòng cần lát số viên gạch là:
425 x 7 = 2975 (viên gạch)
Đáp số: 2975 (viên gạch)
Dạng 2:
+ Tìm giá trị một đơn vị (Thực hiện tính chia).
+ Tìm số đơn vị (Lấy giá trị của số đơn vị cần tìm chia cho giá trị của một
đơn vị).
Ví dụ: (SGK/Tr.167) Có 48 cái đĩa xếp đều vào 8 hộp. Hỏi có 30 cái đĩa
thì xếp được vào mấy hộp như thế?
Tóm tắt:
48 cái đĩa: 8 hộp
30 cái đĩa: … hộp?
Bài giải:
Một hộp xếp được số đĩa là:
48 : 8 = 6 (cái đĩa)
30 cái đĩa xếp được số hộp là:
30 : 6 = 5 (hộp)
Đáp số: 5 hộp
Khi giải bài toán dạng này, đối với học sinh khó khăn về học tập, các em
hay nhầm lẫn lời giải như (Một cái đĩa xếp được số hộp là) và nhầm cách ghi
đơn vị của bài toán là hộp với cái đĩa. Cần hướng dẫn cho các em cách viết lời
giải tỉ mỉ: Lời giải thứ nhất tìm một hộp thì trả lời cho đơn vị hộp, lời giải thứ 2
dựa vào câu hỏi trong bài toán. Còn tìm số đĩa thì đơn vị là “cái đĩa”, tìm số hộp
đơn vị là “hộp”. Đơn vị của mỗi phép tính thường đứng ngay sau chữ “số” trong
Muốn giải bài toán này, tôi giúp học sinh hiểu được yêu cầu của bài toán.
Hướng giải của bài toán, bước đầu dựa vào cách tính diện tích của hình chữ
nhật: Diện tích = chiều dài x chiều rộng.
+ Muốn tìm được diện tích thì trước tiên ta phải tìm gì? (Tìm chiều rộng
của hình chữ nhật).
+ Muốn tính chiều rộng của hình chữ nhật ta làm như thế nào? (Lấy chiều
dài chia 3).
Bài giải:
Chiều rộng hình chữ nhật là:
12 : 3 = 4 (cm)
Diện tích của hình chữ nhật là:
12 x 4 = 48 (cm2)
Đáp số: 48cm2
Đây là bài toán cần khai thác một yếu tố chưa biết “chiều rộng” dựa trên
mối quan hệ của chiều dài và chiều rộng, sau đó đưa vào công thức tính để giải
bài toán. Bài toán này thường gặp nhất, tôi hướng dẫn học sinh dựa vào công
thức tính để biết được yếu tố cần tìm trước tiên là gì để lập kế hoạch giải.
Ví dụ 2: (SKG/Tr.174) Một hình chữ nhật và một hình vuông có cùng chu
vi. Biết hình chữ nhật có chiều dài 60m, chiều rộng 40m. Tính độ dài cạnh hình
vuông.
Muốn giải bài toán này cần phân tích cho học sinh hiểu dữ kiện bài toán
“Một hình chữ nhật và một hình vuông có cùng chu vi” tức là hai hình có chu vi
bằng nhau. Muốn tìm độ dài cạnh hình vuông phải dựa vào chu vi hình vuông
mà chu vi hình vuông chính bằng chu vi hình chữ nhật. Vậy việc cần làm trước
tiên là tính chu vi hình chữ nhật.
Bài giải:
Chu vi hình chữ nhật là:
(60 + 40) x 2 = 200 (m)
Độ dài cạnh hình vuông là:
200 : 4 = 50 (m)
được bao nhiêu mét vải?
Hướng dẫn học sinh phân tích, giải bài toán trên cơ sở của bài toán tìm
một phần mấy của một số.
Theo đầu bài ta có sơ đồ:
60m
Cuộn vải:
4m
Bán buổi sáng
?m
Bài giải:
Buổi sáng bán được số mét vải là:
60 : 4 = 15 (m)
Số mét vải còn lại sau khi bán buổi sáng là:
60 – 15 = 45 (m)
Buổi chiều bán được số mét vải là:
45 : 3 + 4 = 19 (m)
Đáp số: 19m vải
Ví dụ 2: Có 128 lít dầu được chia đều vào 4 thùng. Nếu thêm vào mỗi
thùng 6 lít dầu thì 2 thùng có bao nhiêu lít dầu?
Bài giải:
Mỗi thùng có số lít dầu là:
128 : 4 = 32(l)
Sau khi thêm 6 lít, mỗi thùng có số lít là:
32 + 6 = 38 (l)
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
sáng tạo của học sinh, phải biết động viên học sinh tích cực, chủ động trong học
tập bộ môn Toán.
Trong việc dạy học môn toán nói chung, học giải toán có lời văn nói riêng
tôi phải tìm hiểu để nắm được đặc điểm, đối tượng từng học sinh cũng như khả
năng nhận thức của các em. Cần có kế hoạch và phương pháp giảng dạy theo
từng đối tượng khác nhau.
Tôi phải đầu tư nghiên cứu cho mỗi bài giảng. Nhằm phát huy khả năng
giải toán cho học sinh, tôi hướng dẫn cho học sinh biết giải bài toán theo nhiều
cách khác nhau. (Nếu bài toán có nhiều cách giải).
Để thực hiện các giải pháp, biện pháp trên đòi hỏi giáo viên phải chủ
động, sáng tạo, lập kế hoạch dạy học phù hợp cho các tiết học, đặc biệt là
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
16
Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị
Sáu
đối tượng học sinh trong lớp. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phải
đầy đủ. Giáo viên phải chuẩn bị bài và sử dụng đồ dùng dạy học hiệu quả.
Bên cạnh đó, giáo viên phải thật sự kiên trì, chịu khó, tôn trọng học sinh,
động viên, tuyên dương kịp thời những tiến bộ của các em, từ đó các em
sẽ không mặc cảm, tự ti và cố gắng hơn trong học tập.
3.3. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các giải pháp, biện pháp tôi đã thực hiện trong đề tài có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau, chúng là cầu nối tạo nên thành công trong các phương pháp
giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số. Mỗi giải pháp,
biện pháp trong đề tài tác động qua lại và hỗ trợ với nhau nhằm nâng cao
chất lượng cho học sinh dân tộc thiểu số tại lớp tôi chủ nhiệm.
31
16
31
16
19 em = 61,3%
9 em = 29,0%
3 em = 9,7%
Có được kết quả như vậy một phần nhờ tinh thần học tập tích cực, tự giác
của học sinh, sự quan tâm nhắc nhở của cha mẹ các em, bên cạnh đó là các biện
pháp giáo dục đúng lúc, kịp thời của giáo viên.
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
17
Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị
Sáu
Việc giải toán tốt đã có tác động tích cực đến kết quả học tập môn Toán
của lớp. Đó là nhờ sự kiên trì rèn luyện của cả cô và trò, áp dụng các biện
pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số nên hàng
tháng kĩ năng giải toán của các em có sự tiến bộ và thu được thành công
rõ rệt. Nhìn vào bảng kết quả đã đạt được trên, tôi thấy số học sinh giải
viên phải tích luỹ cho học sinh đầy đủ, hệ thống kiến thức cơ bản của toán học
ngay từ ban đầu.
+ Giáo viên phải giúp các em duy trì nề nếp học tập, động viên khuyến
khích kịp thời, tạo không khí học tập sôi nổi. Thường xuyên kiểm tra, động viên
học sinh, có kế hoạch giúp đỡ cụ thể với những em giải toán còn khó khăn, tạo
điều kiện cho các em có ý thức vươn lên.
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
18
Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị
Sáu
+ Giáo viên phải nắm chắc được những yêu cầu của bộ môn giảng dạy,
luôn chủ động trong tiết học, muốn vậy cô phải chuẩn bị chu đáo, đặt ra được
các tình huống mà học sinh mắc phải để có kế hoạch hướng dẫn sửa sai ngay.
+ Tạo mối quan hệ gần gũi thầy trò, tôn trọng ý kiến của các em. Trong
mỗi bài dạy người thầy luôn tạo không khí thoải mái, gợi mở nhẹ nhàng, lời nói
cử chỉ giản dị, diễn cảm, phù hợp với nội dung.
+ Phân hóa được đối tượng học sinh để có kế hoạch cụ thể trong việc bồi
dưỡng và phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh.
+ Giáo viên thường xuyên tiến hành luyện tập, ôn luyện các bài toán cho
học sinh để có hệ thống kiến thức khoa học, logic. Trong các tiết luyện tập có
những dạng bài khác nhau, giáo viên luôn để học sinh tự hệ thống hoá lí thuyết,
công thức. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, khích lệ, động viên các em có ý
thức say mê học tập và tự giác giải bài tập.
+ Để giúp học sinh có kĩ năng giải toán thành thạo, người giáo viên cần
chú ý nhiều đến kĩ năng: nghe – nói – đọc – viết trong môn Tiếng Việt. Luyện kĩ
năng hỏi – đáp giúp các em có vốn từ ngữ lưu thông hơn để các em dễ dàng đặt
Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị
Sáu
học khác phù hợp với mọi đối tượng. Thể hiện được ý thức của con người
trong quá trình học tập và rèn luyện,…
2. Kiến nghị
- Đối với nhà trường: Quan tâm hơn về cơ sở vật chất giúp cho các em
học sinh dân tộc thiểu số có điều kiện tốt hơn nữa để học tập như mua
sắm đầy đủ đồ dùng dạy học phục vụ cho môn Toán cũng như các môn
học khác.
- Đối với giáo viên: Cần phải thay đổi phương pháp giảng dạy phù hợp
với đối tượng học sinh của lớp mình, thường xuyên sử dụng đồ dùng dạy
học trong giảng dạy, tự học hỏi, rèn luyện mình để thực sự là tấm gương
sáng cho học sinh noi theo. Giáo viên phải kiên trì, vượt khó, tìm tòi, sáng
tạo và có bản lĩnh, có tinh thần trách nhiệm cao, say mê với công việc, tận
tụy với học sinh.
Trên đây là “Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3
dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị Sáu” của bản thân tôi trong quá
trình trực tiếp giảng dạy và rèn kĩ năng học toán cho học sinh. Tuy bước
đầu đã thu được những kết quả nhất định song không tránh khỏi những
thiếu sót và hạn chế. Tôi kính mong nhận được sự đóng góp, bổ sung của
chuyên môn nhà trường, của các đồng nghiệp để nâng cao hiệu quả trong
công tác rèn kĩ năng giải toán cho học sinh./.
Krông Ana, ngày 06 tháng 02 năm 2017.
Người viết
Phạm Thị Phượng
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 dân tộc thiểu số ở Trường TH Võ Thị
Sáu
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách Toán Lớp 3.
2. Vở Bài tập Toán lớp 3 – Tập 1,Tập 2.
3. Sách giáo viên Toán Lớp 3.
4. Các phương pháp giải toán ở tiẻu học (Vũ Dương Thuỵ – Đỗ Trung
Hiệu – NXBGD – 1999).
5. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học ở lớp 3 tập 2 – NXBGD.
6. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ, năng các môn học ở tiểu học
lớp 3.
7. 100 câu hỏi và đáp về việc dạy học Toán ở Tiểu học (Phạm Đình Thực
– NXBDG – 1999).
8. Tuyển chọn các bài toán đố 3 nâng cao (Huỳnh Quốc Hùng –
Nguyễn Như Quang – Lê bảo Châu).
9. Rèn luyện kĩ năng giải toán chuyên đề 324 bài toán có lời văn
(Phạm Đình Thực).
10. 500 bài toán trắc nghiệm lớp 3 (Phạm Đình Thực).
11. Học tốt Toán 3 (Nguyễn Đức Tấn – Trần Thị Kim Cương).
GV: Phạm Thị Phượng – Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
22
5. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận………………………………………………………..
2. Thực trạng vấn đề nghiên
cứu………………………………………
3.
Nội
dung
và
hình
pháp………………………………..
3
4
6
6
thức
của
giải
7
17
3.1. Mục tiêu của giải pháp…………………………………………….
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp………………………..