Một số biện pháp nâng cao việc chỉ đạo công tác phụ đạo học sinh yếu ở trường tiểu học - Pdf 42

1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
*. Cơ sở lí luận
Cùng với khí thể chung của toàn Đảng, toàn dân đang ra sức thi đua triển
khai và thực hiện Nghị quyết TW8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo
dục và Đào tạo thì vấn đề đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người năng động
sáng tạo, độc lập tiếp thu tri thức là một vấn đề mà nhiều nhà giáo dục đã và
đang quan tâm trong giai đoạn hiện nay.
Để đáp ứng với xu thế hội nhập quốc tế, ngành Giáo dục và Đào tạo đang
ra sức thi đua dạy tốt, học tốt nhằm đưa chất lượng giáo dục ngày càng được
nâng cao. Để đưa nền giáo dục nước nhà phát triển toàn diện thì người giáo viên
không những chỉ biết nâng cao chất lượng học sinh mà còn phải biết tìm tòi
phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và giảm tỉ lệ học sinh
yếu. Đây là vấn đề mà hiện nay luôn được xã hội quan tâm. Chính vì vậy, biện
pháp hạn chế tỉ lệ học sinh yếu là một việc làm mà các nhà giáo dục hết sức
quan tâm. Đây là vấn đề cũng khá khó khăn với không ít giáo viên đứng lớp.
Nhưng ngược lại, giải quyết được điều này là góp phần xây dựng trong bản thân
mỗi giáo viên một phong cách và phương pháp dạy học hiện đại, giúp cho học
sinh có hướng tư duy mới trong việc lĩnh hội kiến thức.
Là một cán bộ quản lí, được phân công phụ trách chuyên môn trong nhà
trường, tôi luôn đề cập và quan tâm đến tất cả các lĩnh vực của hoạt động
chuyên môn, đặc biệt là vấn đề học sinh yếu, vấn đề khó khăn cho việc duy trì
ổn định chất lượng đại trà. Mặt khác, học sinh bậc Tiểu học là bậc học đặt nền
1


móng cho các bậc học sau này, do đó việc nắm vững kiến thức kĩ năng lớp đang
học là vấn đề cần thiết và cấp bách nhất. Chính vì vậy trong kế hoạch dạy học
của giáo viên không thể thiếu công tác phụ đạo học sinh yếu.
* Cơ sở thực tiễn
Trong những năm học gần đây, kiến thức tối thiểu ở bậc Tiểu học đã có

đó là nhóm chính thức hay nhóm không chính thức, là nhóm nhỏ hay nhóm lớn,
là nhóm bè bạn, gia đình hay các đoàn thể, tổ chức xã hội, bất kể mục đích gì,
nội dung hoạt động của nhóm đó là gì?
- Khái niệm về quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy
luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống giáo dục quốc dân vận hành

4


theo nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường
XHCN mà tiêu điểm hội tụ là quá trình giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo
dục quốc dân đến mục tiêu dự kiến.
*. Một số vấn đề lý luận về quản lý ở trường Tiểu học
- Quản lý trường Tiểu học
Nhà trường Tiểu học là nền tảng cho giáo dục phổ thông. Bậc Tiểu học là
bậc học đầu tiên để đào tạo những cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp
tục học lên bậc học trên, giúp trẻ hình thành những cơ sở ban đầu, những nét cơ
bản của nhân cách. Do vậy, giáo dục ở bậc Tiểu học có tính chất đặc biệt, có bản
sắc riêng, với tính sư phạm đặc trưng.
Như vậy, quản lý trường Tiểu học cũng giống như các trường phổ
thông - là một hoạt động của nhà quản lý cấp cơ sở do Hiệu trưởng là người
đứng đầu để dẫn dắt một tổ chức chuyên môn - nghiệp vụ và quản lý con người,
cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính... Trường tiểu học được hình thành tại cộng
đồng dân cư nên nó phải thỏa mãn được lợi ích của cộng đồng dân cư và phát
huy các nguồn lực trong cộng đồng. Tuy nhiên, trong đó quản lý hoạt động dạy học vẫn luôn là hoạt động trọng tâm của tất cả các nhà trường.
- Quản lý chuyên môn ở trường Tiểu học
Quản lý hoạt động chuyên môn là quản lý việc dạy của giáo viên; quản lý
việc học của học sinh và quản lý một số hoạt động khác liên quan đến nội dung
giảng dạy.

- Học sinh không còn tâm lý ngại gần gũi, ngại tiếp xúc với giáo viên, tạo
điều kiện để học sinh mạnh dạn tự tin trong học, tiếp thu được các kiến thức của
bài học tốt hơn.
2.2.3 Mặt mạnh, mặt yếu.
* Mặt mạnh:
- Nhà trường có đội ngũ giáo viên nhiệt tình trong giảng dạy, yêu thương
học sinh. Ban giám hiệu nhà trường luôn đi sát động viên, khuyến khích đội ngũ
giáo viên tự nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi.
* Mặt yếu:
- Do nhận thức của giáo viên về công tác phụ đạo học sinh yếu chưa cao,
còn xem nhẹ chỉ trú trọng vào giảng dạy đại trà chưa dành nhiều thời gian đầu tư
tìm hiểu, nghiên cứu về công tác phụ học sinh yếu.
2.2.4 Các nguyên nhân và các yếu tố tác động.
Trên thực tế đa số giáo viên ít có thời gian nghiên cứu các đối tượng học
sinh, chỉ trú trọng vào các đối tượng học sinh khá , giỏi, trung bình. Chính vì thế
mà công tác phụ đạo học sinh yếu chưa cao.
- Thực trạng học sinh yếu trong đơn vị

7


Ngay sau khi bước vào năm học mới, để giúp bản thân nắm bắt được chất
lượng ở các khối lớp, tôi đã cho làm bài kiểm tra với mức độ tối thiểu ở hai môn
Toán, Tiếng Việt cho 5 khối lớp, có kết quả về học sinh yếu như sau:

TIẾNGVIỆT
KHỐI

Tổng số


TL

SL

TL

71
94
89
95
74

7
9
4
4
3

9.9
9.6
4.5
4.2
4.1

7
10
5
4
3


423

27

6.4

29

6.9

6

1.4

37

8.7

Đối với các môn học khác, tôi cũng cho làm bài kiểm tra thì nhận thấy
rằng những em yếu về môn Toán và Tiếng Việt thì cũng hầu hết học yếu những
môn còn lại kể cả những môn tự chọn.
Với kết quả trên, tôi thật sự lo lắng về chất lượng đại trà chung của toàn
trường và tôi quyết định tìm hiểu nguyên nhân để tiến tới tìm các giải pháp để
chỉ đạo, giúp đỡ giáo viên đứng lớp khắc phục tình trạng này.

8


2.3 Giải pháp, biện pháp nâng cao công tác chỉ đạo việc phụ đạo học sinh
yếu.

* Về phía giáo viên
Bên cạnh tìm hiểu từ học sinh, tôi đã đi dự giờ đột xuất của một số lớp có
học sinh yếu nhiều và kết hợp qua việc tìm hiểu kết quả giảng dạy của giáo viên
trong những năm học trước, tôi thấy ngoài những nguyên nhân xuất phát từ học
sinh trên thì một phần ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên; cụ thể:
- Trình độ đào tạo của một số giáo viên có phần bất cập: Nhiều giáo viên
có bằng cấp đạt chuẩn và trên chuần song hiệu quả giảng dạy lại không phản ánh
đúng thực chất. Không phải giáo viên nào có trình độ học vấn cao, tốt nghiệp
giỏi thì sẽ giảng dạy tốt mà ở đây giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp dạy
học nào là phù hợp với từng đối tượng học sinh và với từng nội dung kiến thức;
- Kĩ năng sư phạm của một số giáo viên chưa phù hợp: Đặc biệt là một số
kĩ năng phục vụ công tác dạy phân loại đối tượng học sinh ở một số giáo viên
còn rất hạn chế như: Cách sử dụng câu hỏi hơi khó, lời giảng chưa phù hợp với
các em làm các em nghe mà không hiểu; đưa ra nội dung bài tập chưa phù hợp
với các em, giáo viên chưa tạo cho các em sự tự tin hay chưa kích thích được
10


tính tự học của bản thân người học,…Bên cạnh đó, kĩ năng sư phạm của các
giáo viên chưa nắm được đặc điểm tâm sinh lý học sinh Tiểu học, môn học lại
còn mới lạ với các em,…;
- Việc đầu tư cho công tác phụ đạo học sinh yếu chưa cao: Hiện nay, hầu
như giáo viên đều dạy 7 đến 9 buổi/tuần, tối đến còn phải nghiên cứu soạn bài
trước khi lên lớp nên quỹ thời gian để giáo viên đầu tư có chiều sâu vào bài dạy
chưa cao; hơn nữa trong lớp lại có nhiều đối tượng nên phần nào làm ảnh hưởng
đến chất lượng cho học sinh.
- Qua quá trình làm công tác quản lí, bản thân nhận thấy vẫn còn một bộ
phận nhỏ giáo viên chưa chú ý quan sát đến các đối tượng học sinh, đặc biệt là
học sinh yếu, chưa thật sự quan tâm tìm hiểu đến hoàn cảnh gia đình của các em
để có biện pháp giúp đỡ.

giáo viên có thể lựa chọn, tham khảo và thực hiện như sau:
* Xây dựng môi trường học tập thân thiện.
- Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để thực hiện các biện pháp
dạy học đạt hiệu quả cao. Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười… giáo

12


viên tạo sự gần gũi, cảm giác an toàn cho học sinh để các em bày tỏ những khó
khăn trong học tập, trong cuộc sống của bản thân mình. Giáo viên cần tự xây
dựng cho mình thói quen tốt: Có những lúc rất nghiêm khắc những cũng có
những lúc phải là người bạn gần gũi với các em;
- Giáo viên luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng,
không đánh mắng hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho học
sinh cảm thấy sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng
mình;
- Bên cạnh đó, giáo viên phải là người đem lại cho các em những phản hồi
tích cực. Ví dụ như giáo viên nên thường xuyên quan tâm, tuyên dương các em
thường xuyên, thay chê bai bằng khen ngợi, giáo viên luôn phải cố gắng tìm
những việc làm mà em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em.
Hoặc có thể dùng các phiếu thưởng có in các lời khen phù hợp với từng việc làm
của các em như: “Biết giúp đỡ người khác”, “ Thái độ nhiệt tình và tích cực”, “
Có tiến bộ”, " Tuần này em học thật là tốt",…
* Dạy phân loại các đối tượng học sinh.
- Giáo viên cần xem xét, phân loại những học sinh yếu đúng với những
đặc điểm vốn có của các em để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc
điểm chung và riêng của từng em. Một số khả năng thường hay gặp ở các em là:
Sức khoẻ kém, khả năng tiếp thu bài, lười học, thiếu tự tin, nhút nhát,…Vì vậy,
giáo viên điểm tồn tại của các em để có biện pháp lựa chọn những câu hỏi,


- Ý thức tự học là rất cần thiết cho mỗi học sinh. Làm tốt việc này là giáo
viên đã tạo cho các em sự hứng thú trong học tập, từ đó sẽ giúp cho học sinh có
ý thức vươn lên. Trong mỗi tiết dạy, giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào
thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong
thực tiễn. Từ đây, các em sẽ ham thích và say mê khám phá tìm tòi trong việc
chiếm lĩnh tri thức. Đặc biệt đối với giáo viên dạy các môn nghệ thuật và tự
chọn thì nội dung này hết sức cần thiết.
- Bên cạnh đó, giáo viên phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh về hoàn
cảnh gia đình và nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ
chức các trò chơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý
thức vươn lên trong học tập, làm cho học sinh thấy tầm quan trọng của việc học.
Đồng thời, giáo viên phối hợp với gia đình giáo dục ý thức học tập cho các em.
* Có biện pháp kèm cặp học sinh yếu.
- Ngay từ đầu năm giáo viên kiểm tra khảo sát để biết số lượng học sinh
yếu là bao nhiêu để có kế hoạch phụ đạo cụ thể;
- Lập danh sách học sinh yếu thật cụ thể (em nào? yếu môn gì?, phần
nào?) và chú ý quan tâm đặc biệt đến những học sinh này trong mỗi tiết dạy như
thường xuyên gọi các em đó lên trả lời câu hỏi, khen ngợi các em đó khi các em
trả lời đúng,…Giáo viên cần tăng cường kèm cặp học sinh trong từng giờ học,
buổi học, đặc biệt là học ở buổi 2, lên kế hoạch cụ thể trong từng bài soạn,
chẳng hạn đối với học sinh này thì chỉ giao nhiệm vụ hoàn thành bài tập nào phù

15


hợp chứ không yêu cầu làm hết tất cả các bài tập theo quy định. Giúp học sinh
bằng cách tiếp cận trực tiếp và gợi ý thật cụ thể;
- Giáo viên cho học sinh làm đi làm lại nhiều lần một dạng bài tập tại lớp
để thuộc bài. Những kiến thức cần khắc sâu phải được lặp lại trong tiết học
chính khóa và tiết luyện ở buổi 2. Còn với giáo viên bộ môn thì tăng cường

Tăng cường công tác kiểm tra, kết hợp với dự giờ và khảo sát theo chuẩn
kiến thức để nắm bắt sự tiến bộ của từng em và có biện pháp hỗ trợ kịp thời với
giáo viên chủ nhiệm lớp để kèm cặp có hiệu quả hơn. Tư vấn về phương pháp,
cách thức thật cụ thể ở từng môn để giáo viên điều chỉnh kịp thời;
Ví dụ:
- Đối với phân môn tập đọc: Ở các lớp 1, 2, 3 nếu như học sinh không
đọc được các bài tập đọc thì giáo viên phải có kế hoạch dạy riêng cho em đó
như: đến phần luyện đọc, giáo viên cũng gọi em đó đọc nhưng chỉ đọc một chữ
cái, âm, vần, ghép tiếng dần dần học sinh đọc được và nâng cao dần lên (tập
đọc). Trong phần tìm hiểu bài cũng cho các em học sinh yếu tham gia bình
thường nhưng chi hỏi những câu dễ và gần gũi với các em;
- Đối với phân môn Chính tả: trong lớp, nếu các em viết không kịp hoặc
không biết viết, khi giáo viên dạy tiết chính tả thì cần lưu ý đến em đó không thể
để em đó ngoài tiết học bằng một số biện pháp như: Khi giáo viên đọc cho học
17


sinh viết thì đối với học sinh yếu giáo viên cho học sinh mở SGK để tập chép;
hoặc trong lớp học có nhiều em học sinh yếu về viết, viết rất chậm thì giáo viên
đọc thật chậm và chỉ cho học sinh viết vài câu là đủ rồi, không nhất thiết phải
đọc hết bài. Từ đó, sẽ nâng dần yêu cầu lên cho các em để bắt kịp các bạn.
- Với môn Toán: Trong một tiết học giáo viên phải cho tất cả các em hoạt
động cho dù học sinh yếu hay giỏi bằng nhiều cách để lôi cuốn các em tham gia
vào hoạt động học, tránh tình trạng giáo viên để học sinh ngoài lề. Ví dụ, trong
một tiết học đến phần bài tập giáo viên phân ra từng đối tượng học sinh. Đối với
những em còn yếu thì nên cho các em tự chọn những kiến thức có thể làm được
rồi sau đó gợi ý nâng dần, như vậy hi vọng mới khắc phục dần tình trạng học
sinh yếu. Nếu giáo viên cứ cho học sinh hoạt động bình thường theo yêu cầu
chung thì học sinh yếu không biết gì và thậm chí bỏ học vì chán. Hoặc trong lớp
học có học sinh yếu (không nắm kiến thức lớp học dưới), với đối tượng này khi

- Họp tổ chuyên môn để cùng phân tích nguyên nhân, bàn kế hoạch khắc
phục.
- Nắm bắt số liệu cụ thể về học sinh yếu của từng tháng.
- Đề xuất với nhà trường về cách khắc phục học sinh yếu.
- Tổ chức chuyên đề “khắc phục học sinh yếu”.
- Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra các biện pháp khắc phục HS yếu.
19


- Giao trách nhiệm cho từng giáo viên và báo cáo thường xuyên cho nhà
trường;
- Tổ chức dạy chuyên đề, đúc rút kinh nghiệm theo tổ, theo từng mảng
kiến thức của các phân môn và tập trung ở các dạng bài mà học sinh còn yếu.
*. Làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục
Phối hợp với các tổ chức đoàn thể làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục,
thường xuyên gặp gỡ trao đổi cùng phụ huynh có học sinh yếu để phụ huynh
phối hợp kèm cặp việc học ở nhà của các em, chỉ đạo giáo viên tư vấn cụ thể
cho phụ huynh trong việc giúp học sinh học ở nhà: học như thế nào? cần kèm
cặp môn gì?... Với đối tượng này, hàng tuần, theo kế hoạch phụ đạo và mạch
kiến thức của chương trình học, giáo viên tạo cho các em có quyển vở tự học,
cuối mỗi buổi học, giáo viên ra những câu hỏi, bài tập cụ thể cho các em về nhà
làm có sự kiểm soát của giáo viên trong buổi học kế tiếp. Làm như thế vừa rèn
cho học sinh việc ôn thêm bài ở nhà đồng thời phát huy sự hợp tác từ phụ
huynh. Mặt khác, những giáo viên chủ nhiệm cần làm tốt vai trò của quyển sổ
liên lạc sẽ nâng cao chất lượng của học sinh.
2.3.5. Kết quả khảo nghiệm. giả trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.
Sau khi áp dụng những biện pháp trên tôi thấy kết quả khá tốt. Chất lượng
được nâng lên và đi vào thế ổn định. Kết quả công tác bồi dưỡng và phụ đạo học
sinh yếu tiến bộ rõ nét. Tỷ lệ học sinh giỏi tăng, tỷ lệ học sinh yếu giảm và điều
đặc biệt là chúng tôi nhận thấy học sinh có vẻ tự tin và chủ động hơn trong việc

2
2

2.8
2.1
2.2
2.1
2.7

0
1
1
1
0

0.0%
1.1
1.1
1.1
0.0%

423

10

2.4

3

0.7

nhà trường. Có được kết quả trên là cả một quá trình lâu dài, kiên trì và bền bỉ,
phải có lòng nhiệt tình và sự say mê tận tuỵ với nghề thì mới đem lại kết quả
khả quan và còn tuỳ thuộc vào khả năng vận dụng thực tế của mỗi người.
và sự say mê tận tuỵ với nghề thì mới đem lại kết quả khả quan và còn tuỳ
thuộc vào khả năng vận dụng thực tế của mỗi người.
3.2 Kiến nghị
* Đối với giáo viên
- Giáo viên cần khảo sát nắm được các đối tượng học sinh thật cụ thể, từ đó
có các biện pháp giúp đỡ các em.

22


- Không ngừng trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, sáng tạo, linh hoạt trong
việc vận dụng phương pháp và hình thức dạy học cho phù hợp với từng đối
tượng học sinh. Luôn luôn tạo hứng thú học tập cho các em.
* Đối với học sinh
Các em cần xác định rõ nhiệm vụ của người học sinh, phải có sự phối hợp
một cách tích cực trong việc học, không chây lười, ỷ lại.
* Cán bộ quản lí giáo dục
- Để thực hiện tốt công tác chỉ đạo việc phụ đạo học sinh yếu cần có sự
giúp đỡ, tạo điều kiện của các cấp quản lí. Cần tăng cường tổ chức các chuyên
đề hội thảo về công tác này một cách thường xuyên để giáo viên có điều kiện
học hỏi kinh nghiệm của các đồng chí, đồng nghiệp;
- Ban giám hiệu nên động viên, khuyến khích kịp thời những giáo viên tích
cực nhiệt tình có sáng kiến mới, biết vận dụng phương pháp phù hợp với đối
tượng học sinh để mang lại hiệu quả cao trong dạy học.
Với kết quả đạt được, qua áp dụng kinh nghiệm ở đơn vị chúng tôi, tôi
muốn góp phần nhỏ vào việc nâng dần chất lượng giảng dạy và học tập trong
các nhà trường. Để kinh nghiệm được áp dụng một cách rộng rãi và có hiệu quả.


2

1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2

1.4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

2

1.5. Phương pháp nghiên cứu

3

2. PHẦN NỘI DUNG

3

2.1. Cơ sở lí luận

3

2.2. Thực trạng

4

2.2.1. Thuận lợi, khó khăn

4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status