phân tích mức độ tích cực trong hoạt động của học sinh trong hai mô hình dạy học - Pdf 42

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ VĂN HỮU PHÚ
MSSV: 35604022

−−−−−−−−−−−−−−−−−−−−−−−−−

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Hãy phân tích mức độ tích cực trong hoạt động của học
sinh trong hai mô hình dạy học sau:
Mô hình 1: Thầy dùng phương pháp thuyết giảng là chính,
soạn bài kỹ lưỡng rồi trình bày trên lớp. Trò nghe và tự
ghi vào vở những ý cần thiết (trò phải nhận ra các điểm
chính yếu và ghi lại).
Mô hình 2: Thầy tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện
các nhiệm vụ cụ thể trong những hình thức hoạt động do
Thầy chọn lựa, qua đó chiếm lĩnh các tri thức cần phải lĩnh
hội trong tiết học.
Anh, chị hãy đưa ra những những lý lẽ và nếu có minh họa
1 tiết giảng (một bài học) thực tế càng tốt để chứng minh
mô hình 2 đem lại hiệu quả lĩnh hội bài học nhiều hơn.
THUỘC HỌC PHẦN/MÔN
TLH SƯ PHẠM

Giảng viên

ThS. Lý Minh Tiên

Tp. Hồ Chí Minh tháng 1/2011


hiếu kỳ, tò mò…) mới có thể từng bước thích ứng với hoàn cảnh
môi trường mới. Chỉ có sự thích ứng ngày càng cao, do đòi hỏi
của xã hội, cá nhân mới không bị đào thải. - Phương diện xã hội
TTC thực hiện chức năng không chỉ biểu hiện sự thích nghi của cá
thể mà còn là sự thích ứng, sự cải tạo và sáng tạo thế giới bên
ngoài của chủ thể đó.......................................................................6
2. Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh...................7
a. Định nghĩa...................................................................................7
b. Biểu hiện......................................................................................7
c. Đặc điểm......................................................................................8
d. Những nhân tố ảnh hưởng tới tích tích cực nhận thức của
người học........................................................................................8
Bản thân học sinh...........................................................................8
3. Bản chất của hoạt đôông học...........................................................9
II. Phân tích mức độ tích cực trong hoạt động của học sinh trong hai
mô hình dạy học...................................................................................10
Trang 2/17


1. Phân tích, so sánh........................................................................10
2. Các biêôn pháp phát huy tính tích cực cho người học...................14
3. Minh họa môôt tiết học chứng minh Mô hình 2 đem lại hiêôu quả lĩnh
hôôi bài học nhiều hơn! (Clip minh họa).............................................15
B. Kết luâôn sư phạm.................................................................................15
1. Lê Văn Hồng (Chủ biên). Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư
phạm. NXB ĐHQG Hà Nôôi................................................................16
2. G.S TSKH Thái Duy Tiên Viên khoa học giáo dục. Phát huy tính
tích cực nhâôn thức của người học. Được lấy về từ:.........................16
3. Th.S Nguyễn Thiết Trường CĐSP Kon Tum. Phát huy tính tích cực
của sinh viên trong Dạy – Học phần đại số tuyến tình theo chương

TTC được biểu hiện một cách cụ thể qua hoạt động nhận thức của con
người. Trong Tâm lý học Liên Xô, TTC là một phạm trù được quan tâm
nghiên cứu một cách sâu sắc.
Có nhiều quan điểm khác nhau song các nhà TLH Liên Xô đều gặp nhau ở
quan điểm coi “ TTC gắn liền với hoạt động, như điều kiện hoàn thành hiện
thực hoá hoạt động. Thậm chí khi nêu ra ý nghĩa to lớn của TTC, Leochiep
đồng nhất TTC với hình thức cao – Hoạt động”. Tất cả các dạng TTC ở động
vật được coi như tiền sử hoạt động của con người. Nghiên cứu của các tác
giả rất đa dạng nhưng vẫn tập trung chủ yếu ở những phương diện.
- Phương diện phát sinh cá thể
TTC ở con người biểu hiện theo các mức độ khác nhau từ khi sinh ra đến lúc
lớn lên, từ bắt chước đến lúc hoạt động độc lập và sáng tạo. Như vậy con
người trong quá trình sống phải có quá trình tự học ( chú ý chủ định, không
chủ định ) nhận thức ( tính hiếu kỳ, tò mò…) mới có thể từng bước thích ứng
với hoàn cảnh môi trường mới. Chỉ có sự thích ứng ngày càng cao, do đòi
hỏi của xã hội, cá nhân mới không bị đào thải.
- Phương diện xã hội
TTC thực hiện chức năng không chỉ biểu hiện sự thích nghi của cá thể mà
còn là sự thích ứng, sự cải tạo và sáng tạo thế giới bên ngoài của chủ thể đó.
Cơ sở nghiên cứu trong nước
TTC cũng được các nhà TLH Việt Nam quan tâm nghiên cứu. Theo từ điển Tâm
lý học – Tác giả Vũ Dũng chủ biên :
“ TTC là động lực cá nhân của các cơ thể sống với tư cách là nguồn gốc của mọi
hành động cải cách hay duy trì các mối liên hệ có ý nghĩa sống còn mà chúng tiến
hành với môi trường xung quanh. Khả năng tự phân của các cơ thể sống trở thành
“ lực lượng độc lập của phản ứng ” ( P. Angghen ). TTC là đặc điểm chung của
các cơ thể sống trong mối tương quan với hoạt động. TTC đóng vai trò là điều
kiện động lực của các quá trình hình thành thực hiện và thay đổi về loại hình của
hoạt động, nó là thuộc tính quan trọng của sự vận động nội sinh của hoạt động.
TTC được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh mẽ của các hành động đang diễn ra,



TTC học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của
giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn,
thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn
đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải
thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ
động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để
nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào
vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài
tập, không nản trước những tình huống khó khăn…



TTC học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp đến cao như:
- Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn…

Trang 7/17


- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về
một số vấn đề…
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
c. Đặc điểm

i. Tính tích cực của HS có mặt tự phát và mặt tự giác:
 Mặt tự phát: là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kì,
hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà trẻ đều có ở những mức độ
khác nhau. Cần coi trọng những yếu tố tự phát này, nuôi dưỡng, phát triển
chúng trong dạy học.

Xã hội
Từ đó, việc phát huy TTC của học sinh đòi hỏi một kế hoạch lâu dài và toàn diện khi
phối hợp hoạt động của gia đình, nhà trường và xã hội.

3. Bản chất của hoạt động học
1. Đối tượng của hoạt động học là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với tri
thức ấy. Có thể nói hoạt động học là một loại hoạt động ( bình đẳng với các loại hoạt
động khác ) chuyên hướng vào lĩnh hội các tri thức kỹ năng, kỹ xảo của xã hội nhờ sự
tái tạo của cá nhân. Việc tái tạo này sẽ không thực hiện được nếu người học chỉ là
khách thể bị động của những tác động sư phạm, nếu các tri thức kỹ năng kỹ xảo chỉ
truyền lại cho người học theo kiểu “đổ nước vào bình”. Trái lại muốn học có kết quả
người học phải tích cực tiến hành những hoạt động học tập chuyên biệt bằng chính khối
óc và bàn tay mình.
2. Hoạt động học là hoạt động hướng vào thay đổi chính chủ thể của hoạt động. Theo lý
thuyết của TLH hoạt động, hoạt động hướng vào làm thay đổi khách thể, trong khi đó
hoạt động học tập lại làm thay đổi chính chủ thể, còn tri thức - “ đối tượng ” của hoạt
động học lại không hề thay đổi sau khi nó bị chủ thể hoạt động chiếm lĩnh.
3. Hoạt động học là hoạt động tiếp thu lĩnh hội những nội dung và hình thức lí luận của
tri thức, kỹ năng kỹ xảo xã hội.
Trong những hoạt động khác sự tiếp thu thường diễn ra sau khi chủ thể hoàn thành một
công việc nào đó. Các hoạt động này lại thường diễn ra trong những hoàn cảnh, tình
huống giống nhau. Do đó sự tiếp thu kinh nghiệm trong hoạt động diễn ra riêng lẻ,

Trang 9/17


không có hệ thống và không được lý giải trên cơ sở khoa học.
Ngược lại với một hệ thống tri thức đồ sộ của loài người đã được chọn lọc tinh chế và
chia thành những chuyên ngành khác nhau, con người với hoạt động học một cách có ý
thức tiếp thu hệ thống tri thức này một cách chủ động có hệ thống.

Trang 10/17


Ở mô hình thứ hai, đối tượng của hoạt động học không chỉ là những tri thức mà còn
là những kỹ năng, kỹ xảo được hình thành thông qua các hoạt động do người Thầy
tổ chức, hướng dẫn. Ở đây, đối tượng học tập được thể hiện một cách đầy đủ nhất.
Phương cách để chiếm lĩnh chúng chính là người học sẽ tham gia vào những hình
thức hoạt động học tập dưới sự tổ chức, hướng dẫn của Thầy.
Giáo sư Lê Văn Hồng trong quyển Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm cũng
đã từng lên tiếng “Việc chiếm lĩnh những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo sẽ không thể
thực hiện được, nếu người học chỉ là khách thể bị động của những tác động sư
phạm, nếu như những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chỉ được truyền cho người học theo
cơ chế “máy phát” (người dạy) – “máy thu” (người học) và muốn học cho có kết
quả người học phải tích cực tiến hành các hoạt động học tập bằng chính ý thức tự
giác và năng lực trí tuệ của bản thân mình

 Tính chủ thể
Tình chủ thể của học sinh ở mô hình thứ nhất quá mờ nhạt trong khi đó tính chủ thể
của người Thầy lại khá đậm nét. Người học “ghi âm kiến thức” chắt lọc những ý
chính và ghi vào vở. Nghe – lọc ý chính và ghi, đó là công việc mà người học phải
làm ở mô hình thứ nhất này.
Cũng theo Giáo sư Lê Văn Hồng: “Trong hoạt động dạy, người Thầy không nhằm
làm nhiệm vụ sáng tạo ra tri thức mới cũng không làm nhiệm vụ tái tạo tri thức cũ
mà nhiệm vụ chủ yếu, đặc trưng là tổ chức quá trình tái tạo những tri thức đó ở
người học. Muốn làm được điều đó, cái cốt lỗi trong hoạt động dạy học là làm sao
tạo ra được tính tích cực trong hoạt động học của học sinh, làm cho các em vừa ý
thức được đối tượng cần lĩnh hội, vừa biết cách chiếm lĩnh cái lĩnh hội đó. Tính tích
cực này của học sinh quyết định chất lượng học tập”. Như vậy, có thể thấy rằng
việc khơi dậy niềm say mê, hứng thú trong học tập cho học sinh đặc biệt là khơi dậy
tính tích cực trong nhận thức là một trong những việc làm có ảnh hưởng rất lớn đến

học thì sẽ gây nhàm chán và việc đi được đến cùng để giành được mục đích học tập
là cả một vấn đề. Và thực sự ở mô hình này người học đang ở trong tình trạng đó!
Nghiên cứu cho thấy, người nghe chỉ có thể tập trung tốt khoảng 15 phút đầu của
buổi thuyết giảng. Nếu như người dạy không có những hoạt động khác kèm theo để
kích thích tư duy, sự chú ý nơi người học thì dễ lắm họ sẽ rơi vào trạng thái “bị gây
mê”.
Ở mô hình 2:
Mục đích chiếm lĩnh đối tượng học tập dường như không còn là chuyện quá xa vời
vì thông qua những hình thức hoạt động do người Thầy tổ chức, hướng dẫn, việc
lĩnh hội hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nơi người học đã trở nên khá dễ dàng.
Mức độ tích cực của người học trong mô hình này ở mức cao hơn so với mô hình
trước, vì muốn chiếm lĩnh được đối tượng dạy học, người học bắt buộc phải tham
gia vào những hình thức hoạt động trên lớp do Thầy tổ chức, hướng dẫn. Tính tích
Trang 12/17


cực còn được khơi mào từ những hình thức hoạt động đa dạng, mới lạ và không khí
của lớp học. Người học không chỉ có thể hiểu được nội dung tri thức một cách dễ
dàng, sâu sắc mà còn có thể phát hiện ra hay giành lấy được phương cách để có
được nội dung tri thức đó.
 Động cơ học tập
Như đã trình bày ở trên, tính tích cực nhận thức liên quan mật thiết đến động cơ học
tập. Có một động cơ học tập đúng đắn sẽ thúc đẩy hoạt động học tập tiến được
những bước xa hơn.
Động cơ học tập được thể hiện ở đối tượng của hoạt động học, tức là những tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, giá trị, chuẩn mực…mà giáo dục mang lại cho người học.
Việc xây dựng động cơ hết sức muôn hình muôn vẻ và rộng lớn. Muốn phát động
được động cơ học tập, trước hết cần khơi dậy mạnh mẽ ở các em nhu cầu nhận thức,
nhu cầu chiếm


các em đối với tri thức khoa học. Học tập dần dần trở thành nhu cầu không thể thiếu
được của các em.
Nếu theo quan điểm này thì xem ra mô hình thứ hai lại một lần nữa ăn điểm!
Phương thức giảng dạy thông qua những hình thức hoạt động mà người Thầy tổ
chức, hướng dẫn học sinh thực hiện có tác dụng rất lớn trong việc khơi dậy nhu cầu
học tập nơi các em. Mà khi nhu cầu được khơi dậy thì tính tích cực sẽ được phát
huy, mức độ tích cực trong học tập cũng từ đó tăng lên và chất lượng học tập cũng
sẽ song hành cùng tiến trình ấy.
Nhìn lại mô hình 1, người Thầy ở đây đang làm nhiệm vụ chuyên chở kiến thức đến
“bỏ mối” cho học sinh, và người học trở thành “bạn hàng” bất đắc dĩ của người
Thầy. Nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng chẳng được hình thành mà
lại nảy sinh ra những nhu cầu khác như nhu cầu có được giáo án để đỡ chép mỏi tay,
nhu cầu được “giải phóng”, được tiết lộ xem nội dung kiến thức ngày hôm nay có
Trang 13/17


nằm trong bài kiểm tra sắp tới... Mặc dù, người Thầy đã chuẩn bị rất kỹ càng cho
phần thuyết giảng của mình nhưng cái chúng ta cần đó là người Thầy đã làm được
gì để tạo ra một động lực học tập đúng đắn nơi học sinh, trước mắt là một nhu cầu
nhận thức nơi người học. Ở mô hình dạy học này, người Thầy đã chưa làm tốt được
yêu cầu đó và nó kéo theo sự tụt dốc của mức độ tích cực nơi học sinh.
Từ những phân tích trên, dựa theo các tiêu chí để so sánh mức độ tích cực của học
sinh trong hai mô hình dạy học như phương cách giành được đối tượng học tập, sự
phát huy tính chủ thể của người học, sự chiếm lĩnh mục đích học tập và việc tạo ra
một động cơ học tập đúng đắn, chúng ta đều thấy được rằng Mô hình 2 tạo ra được
mức độ tích cực nhiều hơn cho người học và vì thế mà hiệu quả lĩnh hội bài học
cũng cao hơn nhiều so với Mô hình 1.
2. Các biện pháp phát huy tính tích cực cho người học
Các biện pháp nâng cao TTC nhận thức của HS trong giờ lên lớp được phản ánh trong
các công trình xưa và nay có thể tóm tắt như sau:




Luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống mới.



Thường xuyên kiểm tra đánh giá, khen thưởng và kỉ luật kịp thời, đúng mức.



Kích thích TTC qua thái độ, cách ứng xử giữa giáo viên và học sinh.

Trang 14/17




Phát triển kinh nghiệm sống của học sinh trong học tập qua các phương tiện
thông tin đại chúng và các hoạt động xã hội.



Tạo không khí đạo đức lành mạnh trong lớp, trong trường, tôn vinh sự học nói
chung và biểu dương những học sinh có thành tích học tập tốt.



Có sự động viên, khen thưởng từ phía gia đình và xã hội.


làm phương pháp chủ đạo để truyền đạt kiến thức cho người học trong hầu
Trang 15/17


hết các tiết dạy thì đó mới là chuyện đáng bàn. Liệu chỉ với phương pháp
thuyết giảng, người Thầy có thể làm cho học sinh của mình lĩnh hội được
đầy đủ những kiến thức, thông tin và bên cạnh đó còn thêm những kỹ năng,
kỹ xảo cần thiết, đó là chưa kể đến việc học sinh có trụ nổi đến cùng để
giành được những tri thức đó hay không. Phương pháp dạy học mới, phát
huy tính tính cực nơi người học không phải là phương pháp vạn năng nhưng
ít ra nó cũng có thể làm tốt được yêu cầu đó. Cái người dạy cần, bây giờ là
đừng làm thay cho học sinh những chuyện mà học sinh có thể làm vì cái gì
người người học nghe thì họ quên, khi nhìn thì họ nhớ còn khi làm thì họ
hiểu. Sự hiểu mới là đích nhắm cuối cùng của một mũi tên!

Tài liê êu tham khảo

1. Lê Văn Hồng (Chủ biên). Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm. NXB
ĐHQG Hà Nội.

2. G.S TSKH Thái Duy Tiên Viên khoa học giáo dục. Phát huy tính tích cưc
nhận thức của người học. Được lấy về từ:
/>
3. Th.S Nguyễn Thiết Trường CĐSP Kon Tum. Phát huy tính tích cưc của sinh
viên trong Dạy – Học phần đại số tuyến tình theo chương trình cao đẳng sư
phạm mới. Được lấy về từ:
www.qtttc.edu.vn/index.php?option=com_docman&task

4. Tìm hiểu tính tích cưc học tập của sinh viên năm thứ nhất ĐH KHXH & NV
TP. HCM. Được lấy về từ:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status