PHẠM HỒNG HẢI
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
pa
PHẠM HỒNG HẢI
XÃ HỘI HỌC
THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH
PHƯỜNG 7, THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
KHÓA VI- ĐỢT I/2015
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM HỒNG HẢI
THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH PHƯỜNG 7,
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
Hà Nội, ngày tháng 02 năm 2017
Phạm Hồng Hải
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện. Các số liệu, kết
quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa
từng được công bố ở các nghiên cứu khác. Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
được chỉ rõ nguồn gốc.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày tháng 02 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Hồng Hải
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU ............. 23
1.1. Các khái niệm liên quan ...................................................................................... 23
1.2. Lý thuyết tiếp cận trong nghiên cứu ................................................................... 26
1.3. Miêu tả khái quát địa bàn nghiên cứu .................................................................. 29
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG
NGHIỆP CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH PHƯỜNG 7, THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT ......... 34
2.1. Một số đặc điểm chung về hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu ........................... 34
2.2. Biểu hiện của BĐKH tại phường 7, thành phố Đà Lạt ........................................ 37
2.3. Tác động của BĐKH đến hoạt động trồng trọt và chăn nuôi tại phường 7 ......... 46
CHƯƠNG 3: THÍCH ỨNG CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH PHƯỜNG 7 VỚI BIẾN
ĐỔI KHÍ HẬU TRONG SẢN XUÂT NÔNG NGHIỆP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG THÍCH ỨNG................................................... 52
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Một số thông tin mẫu nghiên cứu hộ gia đình phường 7............................... 34
Bảng 2.2. Các yếu tố thời tiết, khí hậu tại trạm quan trắc Đà Lạt.................................. 38
Bảng 2.3. Mức độ xảy ra các loại hình thời tiết bất thường........................................... 43
Bảng 2.4. Tác động của BĐKH đến hoạt động chăn nuôi ............................................. 50
Bảng 3.1. Biện pháp thích ứng với BĐKH trong trồng trọt ........................................... 53
Bảng 3.2. Dấu hiệu nhận biết các hiện tượng thời tiết ................................................... 59
Bảng 3.3. Mức độ sử dụng kinh nghiệm dân gian với điều kiện kinh tế hộ gia đình .... 61
Bảng 3.4. Trình độ học vấn với biện pháp “đầu tư chi phí nhiều hơn” ......................... 62
Bảng 3.5. Kiểm định sự khác biệt về trình độ học vấn trong việc sử dụng ................... 63
biện pháp “thay đổi giống vật nuôi” để thích ứng với BĐKH ....................................... 63
Bảng 3.6. Điều kiện kinh tế và các biện pháp thích ứng................................................ 64
với BĐKH trong trồng trọt ............................................................................................. 64
Bảng 3.7. Hỗ trợ của chính quyền địa phương .............................................................. 67
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ
TT
Trang
2.1
Nguồn cảnh báo thời tiết/khí hậu
45
2.2
2.1
Tác động của BĐKH đến hoạt động sản xuất nông nghiệp
49
3.1
Hỗ trợ của chính quyền địa phương
70
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang là một trong những thách thức lớn nhất
đối với nhân loại. Đây là chủ đề quan trọng hàng đầu thu hút sự quan tâm không chỉ
của các nhà khoa học mà cả các chính trị gia trong các chương trình nghị sự quốc tế.
Ở Việt Nam, BĐKH cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt của các cơ quan nhà
nước, các tổ chức khoa học và đông đảo tầng lớp nhân dân [1, tr. 247]. Theo báo
cáo của Ủy ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC, 2007), Việt Nam là một trong các
quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ BĐKH [40, tr. 12]. Biến đổi khí hậu tác
động tiêu cực đến hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam từ nông nghiệp,
lâm nghiệp, thủy hải sản đến sản xuất dầu khí, thủy điện và vận tải biển...
Nông nghiệp là một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng
nề nhất do BĐKH vì đối tượng của sản xuất nông nghiệp (SXNN) là cây trồng, vật
nuôi rất nhạy cảm với sự thay đổi về khí hậu và môi trường. BĐKH đã dẫn đến
những đợt hạn hán nghiêm trọng, thay đổi về lượng mưa và thời vụ mưa, rét hại, rét
đậm bất thường, bão lũ, gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối với sự phát triển
Phường có diện tích tự nhiên 3421,95ha, là địa bàn thường xuyên phải hứng chịu
các hiện tượng thời tiết cực đoan đặt biệt là lốc xoáy và mưa đá gây thiệt hại cho
việc sản xuất nông nghiệp của người dân. Vào bốn tháng đầu năm 2016, địa bàn
phường 7 đã hứng chịu 4 trận gió lốc và mưa đá gây thiệt hại về hoa màu, nhà cửa,
ước tính thiệt hại gần 20 tỷ đồng [6, tr. 5]. Với đặc thù kinh tế chủ yếu là nông
nghiệp, phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên (đất đai, nguồn nước) những biến đổi
thất thường của khí hậu nơi đây đã gây rất nhiều khó khăn cho người dân trong quá
trình sản xuất nông nghiệp, phát triển sinh kế để duy trì đời sống, sức khỏe, thu
nhập và an sinh xã hội. Chính vì vậy những nghiên cứu về khả năng thích ứng và đề
xuất ra các giải pháp với BĐKH có ý nghĩa lớn đối với người dân nơi đây. Xuất
phát từ những lý do trên tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Thích ứng với biến
đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình phường 7, thành phố
Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Phần này, tác giả trình bày sơ lược về thực trạng BĐKH trên thế giới và ở
Việt Nam; những nghiên cứu về tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp và
khả năng thích ứng đối với BĐKH trong lĩnh vực này.
2.1. Biến đổi khí hậu trên thế giới
Vấn đề BĐKH đã được Savante Arrhenius, một nhà khoa học người Thụy
Điển đề cập đến lần đầu tiên năm 1896, ông cho rằng sự đốt cháy nhiên liệu hóa
thạch sẽ dẫn đến khả năng cao hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nghiên cứu về vấn đề
này bị gián đoạn do vào thời điểm đó ảnh hưởng của con người là không đáng kể so
với yếu tố thiên nhiên.
2
Đến khoảng giữa thế kỷ 19, nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật, việc đo đạc
các trị số về khí hậu trở nên chính xác và có được số liệu định lượng chi tiết về
BĐKH trong hơn một thế kỷ qua. Sự nóng lên của hệ thống khí hậu trái đất hiện
nay là chưa từng có và rất rõ ràng từ những quan trắc về sự tăng lên của nhiệt độ
2.2. Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, trong giai đoạn 50 năm (1951-2000), nhiệt độ trung bình năm
đã tăng lên 0.7oC. Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961-2000) cao
hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931-1960).
Lượng mưa thay đổi trên từng địa bàn trong 9 thập kỷ vừa qua (1911-2000)
không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và
có giai đoạn giảm xuống. Lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và
tăng ở các vùng khí hậu phía Nam. Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa trong
giai đoạn (1958-2007) đã giảm khoảng 2%.
Theo số liệu quan trắc trong giai đoạn (1958-2007) ở các trạm Cửa Ông và
Hòn Dâu, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20cm, phù hợp với xu thế
chung của toàn cầu.
Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ
gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI). Năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15-16 đợt
không khí lạnh bằng 56% trung bình nhiều năm. 6/7 trường hợp có số đợt không khí
lạnh trong mỗi tháng mùa đông tháng 11 – tháng 3 thấp dị thường (0-1 đợt) cũng rơi
vào 2 thập kỷ gần đây (3/1990, 1/1993, 2/1994, 12/1994, 2/1997, 11/1997). Một
biểu hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh BĐKH toàn cầu là đợt
không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm
2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp.
Vào những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quỹ đạo
bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều
cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn [4, tr. 9].
2.3. Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Cho đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề BĐKH trên nhiều lĩnh vực
khác nhau. Đầu những năm 90, dự án “Đánh giá tác động của BĐKH đối với kinh
tế - xã hội của Việt Nam” (1992-1994) do tổ chức National Greenhouse Gas
4
Năm 2010, nhóm nghiên cứu thuộc Viện Khoa học khí tượng thủy văn và
môi trường đã thực hiện một báo cáo về “BĐKH và tác động ở Việt Nam”. Báo cáo
này đã cung cấp những thông tin cập nhật về tình trạng BĐKH thông qua nhiều chỉ
báo như lượng mưa, nước biển dâng, sự thay đổi nhiệt độ…và các kịch bản biến đối
khí hậu ở Việt Nam trong tương lai. Báo cáo cũng phân tích các tác động chính của
hiện tượng toàn cầu này đối với điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên ở
nhiều quốc gia, khu vực địa lý.
Một công trình khác nghiên cứu ở phạm vi quốc gia về vấn đề “Tác động
của biến đổi khí hậu tới tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam”, do Viện
Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương phối hợp với Viện Nghiên cứu Kinh tế
phát triển thế giới, Đại học Copenhagen (Đan Mạch) thực hiện. Nghiên cứu này đã
chỉ ra rằng GDP của Việt Nam có thể giảm tới 2,5% do biến đổi khí hậu. Kết quả
nghiên cứu cho thấy: khí hậu Việt Nam có thể sẽ nóng lên trong tương lai, đến năm
2050, nhiệt độ tăng lên từ 1-2oC. Theo đánh giá, mặc dù tác động không nhiều, song
điều này có thể làm chậm lại quá trình tăng trưởng kinh tế chung của Việt Nam.
Ước tính, thiệt hại do biến đổi khí hậu là khá lớn, tập trung vào những ngành và khu
vực dễ bị tổn thương.
2.4. Các nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu lên sản xuất nông nghiệp
và khả năng thích ứng đối với biến đổi khí hậu
2.4.1. Trên thế giới
BĐKH không chỉ tác động tới tự nhiên mà còn gây áp lực rất lớn đến kinh tế,
xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến lĩnh vực SXNN của người dân. Các nghiên cứu
tác động của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp thể hiện ở các khía cạnh sau [45,
tr. 21]:
Khi nhiệt độ tăng sẽ ảnh hưởng đến khả năng phát sinh, phát triển của
của người nông dân” [30]. Nghiên cứu đề cập đến tác động của BĐKH đến hoạt
động trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và di cư. Liên quan đến hoạt động
trồng trọt BĐKH làm mất diện tích canh tác, giảm năng suất, chất lượng nông sản,
tăng nguy cơ xuất hiện các loại dịch bệnh mới. Trong lĩnh vực chăn nuôi, BĐKH có
thể làm giảm khả năng sinh trưởng và sản xuất của vật nuôi; khan hiếm nguồn nước
ngọt cung cấp cho chăn nuôi cũng như là nguyên nhân quan trọng dẫn đến dịch
7
bệnh trên vật nuôi. Trên lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, BĐKH tác động trực tiếp
hoặc gián tiếp thông qua nguồn nước, diện tích nuôi, môi trường nuôi, con giống,
dịch bệnh và qua đó gây ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng và cơ sở hạ tầng của
các vùng nuôi trồng thủy sản.
Cùng quan điểm với nghiên cứu của Lương Ngọc Thúy và Phan Đức Nam,
các tác giả Phan Sĩ Mẫn, Hà Huy Ngọc trong báo cáo “Tác động của BĐKH đến
nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thực trạng và giải pháp ứng phó” [20] cho rằng
BĐKH gây nên tình trạng mất an ninh lương thực quốc gia; tác động trực tiếp đến
các hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản (giảm diện tích nuôi trồng, quá trình
sinh trưởng và phát triển, dịch bệnh). Từ đó giảm cơ hội việc làm và thu nhập của
người nông dân.
Còn theo Đoàn Văn Điếm và cộng sự [14], BĐKH đã ảnh hưởng mạnh mẽ
đến diện tích đất canh tác và năng suất lúa trong đó vụ lúa xuân chịu tác động mạnh
hơn vụ lúa mùa. Do nhiệt độ và tính ôn tăng làm cho quá trình phát triển và sinh
trưởng của lúa bị rút ngắn, chỉ số diện tích lá giảm nên cường độ hô hấp tăng, tích
lũy sinh khối không đảm bảo. Đặc biệt nghiên cứu còn dự báo, với kịch bản phát
thải khí nhà kính cao, năng suất lúa vụ xuân có thể giảm từ 41.8% vào năm 2020
đến 71% vào năm 2100. Vào năm 2020 năng suất lúa vụ xuân vẫn cao hơn vụ mùa,
đến năm 2050 năng suất lúa 2 vụ xấp xỉ bằng nhau và từ năm 2070 trở đi, năng suất
lúa vụ xuân sẽ thấp hơn so với vụ mùa.
“Ảnh hưởng của BĐKH đến SXNN vùng Tây Nguyên – Một số giải pháp thích ứng
và giảm nhẹ” [17] của tác giả Trương Hồng đã đề cập BĐKH ảnh hưởng trực tiếp
tới năng suất, sản lượng của hầu hết các loại cây công nghiệp chủ lực của Tây
Nguyên như cà phê, cao su, điều, hồ tiêu. Biến động của yếu tố nhiệt ẩm và các yếu
tố khí hậu khác cũng khiến cho năng suất và chất lượng vật nuôi bị giảm, sức đề
kháng của vật nuôi kém đi, tạo môi trường thuận lợi cho dịch bệnh bùng phát trên
gia súc, gia cầm như bệnh cúm gia cầm, dịch heo tai xanh...
Như vậy, BĐKH đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đối với hoạt động sản
xuất nông nghiệp. Vì vậy, để giảm thiểu tác hại của BĐKH đến sản xuất nông
nghiệp, cần tìm ra những biện pháp thích ứng để người dân tiếp tục sản xuất nông
nghiệp, bảo đảm thu nhâp và ổn định cuộc sống.
9
2.4.2.2. Thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp
Việc phân tích các biện pháp thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông
nghiệp sẽ giúp người dân chủ động hơn trong việc lập kế hoạch canh tác nông
nghiệp và ứng phó với những biến đổi thất thường của thời tiết, khí hậu.
Theo Nguyễn Tuấn Anh và CS (2012) [2], các chiến lược thích nghi với
BĐKH trong SXNN là chuyển dịch mùa vụ lên sớm hoặc muộn đi nhằm tránh các
hiện tượng thời tiết bất thường, thay đổi cơ cấu giống cây trồng. Trong lĩnh vực
nuôi trồng và đánh bắt thủy sản người dân ứng phó bằng cách khai thác thêm các
nguồn lợi từ ao đầm và thay đổi quy mô sản xuất để giảm rủi ro kinh tế, khai thác
thêm rau câu trong các đầm, chuyển dịch bớt lao động trong lĩnh vực nuôi trồng
thủy hải sản, xây dựng các mạng lưới làm ăn trong lĩnh vực nuôi trồng thủy hải sản
để tận dụng vốn, kinh nghiệm làm ăn của một nhóm hộ, nhằm tăng sản lượng và
giảm thiểu rủi ro. Việc chuyển đổi sinh kế từ SXNN và nuôi trồng thủy hải sản sang
các lĩnh vực phi nông nghiệp là một biện pháp phổ biến để ứng phó với tác động
của BĐKH ở Cồn Thoi. Nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến vai trò của vốn kinh tế,
BĐKH tại các địa bàn mà nghiên cứu khảo sát, các biện pháp tự thích ứng này chỉ
được tổng hợp theo từng địa phương, vùng bị tác động và các điều kiện tự nhiên xã
hội khác nhau. Do đó, không thấy được mối liên kết giữa chúng. Rất khó để có thể
khái quát nên một mô hình chung trong việc thích ứng với BĐKH.
Tham luận “Kế hoạch thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực nông nghiệp và
phát triển nông thôn” do Đào Xuân Học trình bày tại Hội thảo Việt Nam thích ứng
với BĐKH, ngày 31/7/2009 tại Hội An đề cập đến một số vùng dễ bị tổn thương do
BĐKH như Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ,
Trung Trung Bộ và một số vùng ven biển. Trong tham luận, tác giả giới thiệu
“Khung chương trình hành động thích ứng với BĐKH của ngành nông nghiệp và
phát triển nông thôn giai đoạn 2008 – 2020” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn. Trên cở sở đó các đơn vị trực thuộc và các địa phương cụ thể hóa những tác
động và giải pháp ứng phó, lồng ghép chương trình mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội của địa phương.
Cùng chung chủ đề này, Đặng Thị Hoa, Quyền Đình Hà có nghiên
cứu“Thích ứng với BĐKH trong SXNN của người dân ven biển huyện Giao Thủy,
tỉnh Nam Định” [16]. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các cách thích ứng với BĐKH
11
của người dân Giao Thủy trong sản xuất nông nghiệp là: sự chuyển đổi cơ cấu cây
trồng/ vật nuôi; thay đổi giống cây trồng/vật nuôi; chuyển đổi mục đích sử dụng đất;
thay đổi kỹ thuật canh tác/ nuôi trồng; nâng cấp/gia cố khu nuôi trồng đảm bảo
vững chắc hơn; thay đổi trang thiết bị/ phương tiện đánh bắt hiện đại hơn; tăng
cường theo dõi công tác dự báo thời tiết trên các phương tiện truyền thống đại
chúng.
Kết quả này là tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Mậu Dũng về “BĐKH
và SXNN vùng Đồng bằng sông Hồng: thực trạng và giải pháp” [11]. Trên cơ sở
những tác động của BĐKH đến SXNN vùng Đồng bằng sông Hồng, tác giả đã chỉ
nghiên cứu đã chỉ ra kiến thức bản địa và kinh nghiệm của đồng bào khu vực này
khá đa dạng và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như sử dụng nhiều loại cây
trồng và giống vật nuôi địa phương có đặc điểm thích nghi tốt với hạn hán, thời tiết
lạnh, dễ trồng xen canh với các cây trồng khác, thay đổi lịch trồng trọt và thời vụ để
phù hợp với thời tiết ngày một biến đổi và sử dụng kinh nghiệm quan sát và dự báo
các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt nhằm tránh thất thu trong sản xuất. Hạn chế của
nghiên cứu này là quá đề cao vai trò của kiến thức bản địa trong việc thích ứng với
BĐKH mà chưa nhận thấy rằng BĐKH có thể thay đổi mạnh mẽ tính thiết thực của
một số vốn tri thức bản địa. Vì vậy cần có sự kết hợp giữa kiến thức bản địa và tri
thức khoa học.
Các nghiên cứu của tác giả Trương Hồng (2016) [17] và Viện Khoa học Kỹ
thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền
Nam (2016) [44] lại chỉ ra các tiến bộ kỹ thuật về giống (kháng chịu hạn tốt, chín
muộn), tưới nước tiết kiệm, quản lý xói mòn, rửa trôi, bón phân hợp lý và canh tác
tổng hợp là những giải pháp có tính chiến lược và triệt để nhất để ứng phó với
BDKH và tái cơ cấu ngành nông nghiệp.
Tóm lại, từ các công trình nghiên cứu, cho thấy rằng SXNN là ngành dễ bị
tổn thương nhất trước tác động của BĐKH, điều này thể hiện ở sự thu hẹp diện tích
SXNN do xâm nhập mặn và nước biển dâng, thay đổi thời gian sinh trưởng của cây
trồng, thay đổi tập quán canh tác, từ đó năng suất nông nghiệp bị giảm sút đe dọa
đến an ninh lương thực, thu nhập của người dân thấp, đời sống thiếu ổn định. Các
nghiên cứu tập trung chủ yếu vào tác động của BĐKH đến kinh tế, xã hội và văn
hóa trong đó có hoạt động SXNN; Chỉ ra cách tiếp cận và khung lý thuyết về những
13
vấn đề liên quan và nhất là sự thích ứng với BĐKH; Phân tích vai trò của cộng đồng
trong việc ứng phó và thích ứng với BĐKH. Tuy nhiên, hạn chế và khoảng trống
của các nghiên cứu này là thực trạng thích ứng của các hộ gia đình, các cộng đồng
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng sơ sở lý luận và thực tiễn về chủ đề nghiên cứu.
Thực hiện khảo sát thu thập thông tin tại thực địa. Xử lý và phân tích dữ liệu
Làm rõ những biểu hiện cụ thể của BĐKH đang diễn ra tại địa bàn phường 7
trong giai đoạn từ 2010 – 2016.
Tìm hiểu các cách thức mà các hộ gia đình thích ứng với BĐKH trong sản
xuất nông nghiệp cụ thể là trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi.
Xác định những yếu tố chính ảnh hưởng đến cách thức thích ứng với BĐKH
của các hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Sự thích ứng với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của
các hộ gia đình phường 7, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu chỉ ra sự thích ứng với BĐKH trong sản
xuất nông nghiệp của các hộ gia đình trong khoảng thời gian từ 2010 -2016
Thời gian thực hiện đề tài tại thực địa: từ 9/2016 đến tháng 3/2017
Không gian nghiên cứu: Phường 7 thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng
Nội dung nghiên cứu: nghiên cứu tập trung vào khả năng thích ứng trong sản
xuất nông nghiệp của các hộ gia đình trên các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi.
4.3. Câu hỏi nghiên cứu
Những biểu hiện cụ thể của BĐKH ở phường 7 diễn ra như thế nào?
Biến đổi khí hậu tác động như thế nào đến sản xuất nông nghiệp của các hộ
gia đình trên địa bàn nghiên cứu?
Các hộ gia đình ở phường 7, thành phố Đà Lạt đã thích ứng như thế nào với
BĐKH trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến cách thức thích ứng với BĐKH trong lĩnh
vực sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu?
15
chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Từ đó nhìn nhận BĐKH và
16
thích ứng với vấn đề này là vấn đề hết sức cấp bách cần phải có sự chung tay góp
sức của cả cộng đồng.
Các phương pháp luận và hướng tiếp cận của xã hội học, các lý thuyết xã hội
học được áp dụng phù hợp cho từng nội dung nghiên cứu. Bên cạnh đó hướng tiếp
cận tổng quát cũng mang lại cái nhìn khách quan cho chủ đề nghiên cứu.
Ngoài ra, đề tài còn vận dụng quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước
trong lĩnh vực môi trường và BĐKH. Đặc biệt là Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày
3/6/2013 Hội nghị Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí
hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được dùng để thực hiện đề tài là: phương pháp
nghiên cứu tài liệu thứ cấp; phương pháp điều tra chọn mẫu; phương pháp phỏng
vấn sâu.
5.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp.
Nhìn chung, phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp là việc biên soạn lại
các thông tin có sẵn trong các tài liệu hay nói cách khác là xem xét các thông tin có
sẵn trong các tài liệu để rút ra những thông tin cần thiết, có liên quan đến các mục
tiêu nghiên cứu của đề tài. Trong luận văn của mình, tác giả đã sử dụng các nguồn
tư liệu như: hệ thống các văn bản của nhà nước liên quan đến chủ đề BĐKH, các
văn bản, báo cáo sơ kết, tổng kết của UBND phường 7, Sở Tài Nguyên và Môi
trường tỉnh Lâm Đồng, Cục Thống kê tỉnh Lâm Đồng, Trung tâm dự báo Khí tượng
Thủy văn tỉnh Lâm Đồng, để xem xét, nhận diện và phân tích thực tiễn vấn đề
nghiên cứu tại địa phương.
5.2.2. Phương pháp điều tra chọn mẫu.
Đề tài sử dụng bảng hỏi là công cụ thu thập thông tin chủ yếu với đơn vị
phân tích là hộ gia đình. Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn bằng bảng hỏi tổng số