VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM HỒNG HẢI
THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA CÁC HỘ
GIA ĐÌNH PHƯỜNG 7, THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT,
TỈNH LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số : 60 31 03 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI, 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đặng Nguyên Anh
Phản biện 1: .........:...........................................................
....................................................................
Phản biện 2: ....................................................................
....................................................................
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học xã hội.......giờ..............ngày...............tháng
............. năm 2017
trong quá trình sản xuất nông nghiệp, phát triển sinh kế để duy trì đời
1
sống, sức khỏe, thu nhập và an sinh xã hội. Chính vì vậy những
nghiên cứu về khả năng thích ứng và đề xuất ra các giải pháp với
BĐKH có ý nghĩa lớn đối với người dân nơi đây. Xuất phát từ những
lý do trên tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Thích ứng với biến
đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình
phường 7, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” làm đề tài nghiên
cứu luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Việt Nam
National Greenhouse Gas Inventory với dự án “Đánh giá tác
động của BĐKH đối với kinh tế - xã hội của Việt Nam” (1992-1994)
đã chỉ ra tác động của BĐKH tới một số khía cạnh kinh tế - xã hội
như việc làm, nguồn thu nhập, tình hình di cư, vấn đề sức khỏe, vấn
đề bất bình đẳng xã hội… Sau đó, tổ chức CERED & Đại học East
Anglia, Vương quốc Anh đã thực hiện dự án“Cách tiếp cận vật lý và
kinh tế - xã hội trong việc phân tích tác động của biến đổi khí hậu
đối với vùng ven biển đồng bằng Sông Hồng, Việt Nam” (1996 –
1998). Nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ những biểu hiện cơ bản
của quá trình này như: hiệu ứng nhà kính, khí nhà kính, cưỡng bức
bức xạ; những hệ quả tự nhiên như: lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh gia
tăng và đánh giá ban đầu về một số tác động đến kinh tế-xã hội.
Một số nghiên cứu khác lại cung cấp thông tin cập nhật về
tình trạng BĐKH thông qua nhiều chỉ báo như lượng mưa, nước biển
dâng, sự thay đổi nhiệt độ... tác động của những biểu hiện này đối
với người nghèo, phụ nữ và trẻ em [Oxfam (2008); Viện Khoa học
ngắn, chỉ số diện tích lá giảm nên cường độ hô hấp tăng, tích lũy sinh
khối không đảm bảo
3
Cùng chung hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của BĐKH đến
SXNN bài viết “Ảnh hưởng của BĐKH đến SXNN vùng Tây Nguyên
– Một số giải pháp thích ứng và giảm nhẹ” [17] của tác giả Trương
Hồng đã đề cập BĐKH ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, sản lượng
của hầu hết các loại cây công nghiệp chủ lực của Tây Nguyên như cà
phê, cao su, điều, hồ tiêu. Biến động của yếu tố nhiệt ẩm và các yếu
tố khí hậu khác cũng khiến cho năng suất và chất lượng vật nuôi bị
giảm, sức đề kháng của vật nuôi kém đi, tạo môi trường thuận lợi
cho dịch bệnh bùng phát trên gia súc, gia cầm như bệnh cúm gia
cầm, dịch heo tai xanh...
Như vậy, BĐKH đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đối với
hoạt động SXNN. Vì vậy, để giảm thiểu tác hại của BĐKH đến
SXNN, cần tìm ra những biện pháp thích ứng để người dân tiếp tục
sản xuất, bảo đảm thu nhâp và ổn định cuộc sống.
2.2.2. Thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp
Việc phân tích các biện pháp thích ứng với BĐKH trong
SXNN sẽ giúp người dân chủ động hơn trong việc lập kế hoạch canh
tác và ứng phó với những biến đổi thất thường của thời tiết, khí hậu.
Theo Nguyễn Tuấn Anh và CS (2012), các chiến lược thích
nghi với BĐKH trong SXNN là chuyển dịch mùa vụ lên sớm hoặc
muộn đi nhằm tránh các hiện tượng thời tiết bất thường, thay đổi cơ
cấu giống cây trồng. Nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến vai trò của
vốn kinh tế, vốn con người, và vốn xã hội trong việc thay đổi sinh kế
- như là cách để người dân địa phương ứng phó đối với BĐKH.
trong nghiên cứu “Thích ứng với thay đổi khí hậu trong nông nghiệp,
ngư nghiệp và tài nguyên thiên nhiên của người dân tộc ở thung lũng
Cahayan, bắc Phi – Lip – Pin”. [21] đã kết luận Những hoạt động
thích ứng nổi bật được tác giả chỉ ra bao gồm: một tổ chức hợp tác
5
xã tiến bộ, một bộ sưu tập phong phú các loại cây dược liệu, các loài
có khả năng trừ sâu và thực hành xen canh gối vụ một cách hệ thống.
Các tác giả Trần Văn Điển, Hồ Ngọc Sơn, Lưu Thị Thu
Giang [5] lại đề cập đến vai trò của kiến thức bản địa đối với hoạt
động SXNN trong thích ứng với BĐKH của các dân tộc thiểu số ở
khu vực miền núi phía Bắc.
Một số nghiên cứu khác lại chỉ ra các tiến bộ kỹ thuật về
giống, tưới nước tiết kiệm và canh tác tổng hợp là những giải pháp
có tính chiến lược và triệt để nhất để ứng phó với BDKH và tái cơ
cấu ngành nông nghiệp. [Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp
Tây Nguyên và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam
(2016); Trương Hồng (2016)].
Tóm lại, từ các công trình nghiên cứu, cho thấy rằng SXNN
là ngành dễ bị tổn thương nhất trước tác động của BĐKH, điều này
thể hiện ở sự thu hẹp diện tích SXNN do xâm nhập mặn và nước
biển dâng, thay đổi thời gian sinh trưởng của cây trồng, thay đổi tập
quán canh tác, từ đó năng suất nông nghiệp bị giảm sút đe dọa đến an
ninh lương thực, thu nhập của người dân thấp, đời sống thiếu ổn
định. Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào tác động của BĐKH đến
kinh tế, xã hội và văn hóa trong đó có hoạt động SXNN; Chỉ ra cách
tiếp cận và khung lý thuyết về những vấn đề liên quan và nhất là sự
thích ứng với BĐKH; Phân tích vai trò của cộng đồng trong việc ứng
nhằm nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH trong sản xuất nông
nghiệp của các hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng sơ sở lý luận và thực tiễn về chủ đề nghiên cứu.
Thực hiện khảo sát thu thập thông tin tại thực địa. Xử lý và
phân tích dữ liệu
7
Làm rõ những biểu hiện cụ thể của BĐKH đang diễn ra tại
địa bàn phường 7 trong giai đoạn từ 2010 – 2016.
Tìm hiểu các cách thức mà các hộ gia đình thích ứng với
BĐKH trong SXNN cụ thể là trong lĩnh vực trồng trọt và
chăn nuôi.
Xác định những yếu tố chính ảnh hưởng đến cách thức thích
ứng với BĐKH của các hộ gia đình trong SXNN.
Những biểu hiện cụ thể của BĐKH ở phường 7 diễn ra như
thế nào?
8
Biến đổi khí hậu tác động như thế nào đến sản xuất nông
nghiệp của các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu?
Các hộ gia đình ở phường 7, thành phố Đà Lạt đã thích ứng
như thế nào với BĐKH trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến cách thức thích ứng với
BĐKH trong lĩnh vực SXNN trên địa bàn nghiên cứu?
5.2. Giả thuyết nghiên cứu
Dưới tác động của BĐKH, những hiện tượng thời tiết bất
thường ngày càng xảy ra thường xuyên, liên tục với cường
độ mạnh và không theo qui luật. Mưa đá và hạn hán là hai
hiện tượng xảy ra thường xuyên với cường độ mạnh.
UBND phường 7 để xem xét, nhận diện và phân tích thực tiễn vấn đề
nghiên cứu tại địa phương.
6.2. Phương pháp điều tra chọn mẫu.
Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn bằng bảng hỏi tổng số 150
hộ gia đình tại phường 7, thành phố Đà Lạt. Phương pháp chọn mẫu
được trình bày chi tiết trong phần tiếp theo.
Nội dung bảng hỏi xoay quanh các chủ đề như: nhận thức
của người dân về BĐKH; những biểu hiện chính của BĐKH diễn ra
tại địa phương; các tác động của BĐKH lên sản xuất nông nghiệp và
những thiệt hại của hộ gia đình; điều kiện sống hiện nay và những
cách thức mà hộ gia đình sử dụng để thích ứng với BĐKH; ...v.v.
Dữ liệu thu thập được sẽ được xử lý và phân tích bằng phần
mềm SPSS phiên bản 16.0 làm cơ sở để luận giải đề tài.
6.3. Phương pháp phỏng vấn sâu.
Đối tượng thực hiện phỏng vấn sâu bao gồm cán bộ, lãnh
đạo phường 7 tổ khu phố và đại diện một số hộ gia đình với nhiều
ngành nghề khác nhau. Các cuộc phỏng vấn sâu bao gồm các câu hỏi
đóng – mở liên quan đến: nhận thức của người dân về BĐK; các tác
động của BĐKH lên sản xuất nông nghiệp và các hoạt động thích
ứng của hộ gia đình;...
Thông tin thu thập được từ phỏng vấn sâu sẽ được gỡ băng,
ghi biên bản và mã hóa lại, lập thành các bảng đề mục và khai thác
đào sâu làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu.
10
5.4. Khung phân tích
Chính sách của
địa phương
của hộ gia đình
mưa, độ ẩm, bão,
trọt và chăn
trong: trồng trọt
lũ...
nuôi
và chăn nuôi
nhiệt
độ,
Giải pháp nâng cao sự thích ứng với BĐKH trong sản xuất
nông nghiệp của các hộ gia đình
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài đóng góp một phần lý luận trong nghiên cứu các đặc
điểm của BĐKH, tác động của BĐKH lên sản xuất nông nghiệp của
hộ gia đình và khả năng thích ứng với BĐKH của họ. Kết quả nghiên
cứu góp phần chứng minh sự cần thiết phải có những nghiên cứu xã
11
Trong khuôn khổ của đề tài này, tác giả sử dụng khái niệm
BĐKH của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008) Biến đổi khí hậu là
sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động
của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài
thập kỷ hoặc dài hơn [4, tr 6].
1.1.2. Thích ứng với biến đổi khí hậu
Trong đề tài luận văn này, thích ứng với BĐKH được hiểu là
việc người dân nắm bắt được những tác động của BĐKH và các hiện
tượng thời tiết cực đoan đến hoạt động sản xuất và điều kiện sống, từ
đó có những điều chỉnh, những thay đổi hoặc thụ động hoặc phản
ứng tích cực hoặc có phòng bị trước để giảm thiểu và cải thiện những
hậu quả có hại của BĐKH.
1.1.3. Thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp
Dựa trên những khái niệm, quan điểm về BĐKH, về thích
ứng và về sản xuất nông nghiệp thì trong đề tài luận văn này thích
ứng với BĐKH trong sản xuất nông nghiệp là cách thức mà các hộ
gia đình thực hiện đề giảm thiểu những thiệt hại do BĐKH gây ra
cho sản xuất nông nghiệp, để hoạt động trồng trọt, chăn nuôi... ít bị
tổn thương, có được năng suất cao và ổn định... từ đó góp phần nâng
cao hiệu quả và tăng thu nhập trong sản xuất nông nghiệp cho các
hộ gia đình ở địa bàn nghiên cứu.
1.2. Lý thuyết tiếp cận trong nghiên cứu
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng hai lý thuyết chính đó
là lý thuyết lựa chọn hợp lý và lý thuyết xã hội rủi ro.
Thuyết lựa chọn hợp lý cho rằng con người luôn hành động
một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn
lực một cách hợp lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối
14
vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng bị chi phối bởi độ cao và
ảnh hưởng của địa hình nên mát mẻ quanh năm, mưa nhiều, mùa khô
ngắn, lượng bốc hơi thấp, không có bão. Nhiệt độ trung bình năm từ
18 đến 220C.
Loại đất chủ yếu là đất đỏ vàng trên phiến sa, vàng đỏ trên
granite và đất phù sa sông suối, có tầng dày 70-100cm, độ dốc 3-200
nên đất ở phường 7 rất thích hợp với trồng các loại rau họ thập tự
(rau cải bắp, súp lơ xanh- trắng, cải ngọt, cải canh, cải thảo), hoa cắt
cành và dâu tây.
Dân cư phường 7 được hình thành từ những năm 1938 do
dân di cư từ các tỉnh miền Trung như: Quảng Nam, Quảng Ngãi,
Bình Định, Thừa Thiên Huế và một số tỉnh phía Bắc vào làm ăn, sinh
sống sau ngày miền Nam giải phóng. Hiện nay, dân số toàn phường
14.309 khẩu (3.332 hộ), có 6892 nữ và 7.417 nam. Có 04 tôn giáo
chính là: Phật giáo, Công giáo, Cao Đài và Tin Lành với tổng số
10.288 tín đồ.
CHƯƠNG 2
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN
XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH PHƯỜNG 7,
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
2.1. Biểu hiện của BĐKH tại phường 7, thành phố Đà Lạt
Theo số liệu thống kê của Trung tâm Khí tượng – Thủy văn
tỉnh Lâm Đồng (Trạm quan trắc tại Đà Lạt) cho thấy rằng những
biểu hiện chính của BĐKH ở Đà Lạt bao gồm: nhiệt độ, lượng mưa,
độ ẩm, số giờ nắng và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác như hạn
hán, mưa lớn, mưa đá, giông tố và lốc xoáy
18,3
18,9
Thấp nhất
17,8
17,8
17,9
TB năm
18,0
18,1
18,4
Cao nhất
2356
2052
2072
Thấp nhất
TB năm
2033,3
2036,4
2120
Cao nhất
88
87
85
Thấp nhất
85
84
80
86,2
85,9
83,8
vật nuôi (47,6%), làm hư hỏng chuồng trại khi chăn nuôi (38,1%).
Để chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa biến đổi khí hậu và dịch
bệnh vật nuôi là điều không dễ và nhiều khi là không cần thiết.
Nhiều nghiên cứu qui nạp rằng BĐKH là nguyên nhân quan trọng
dẫn đến dịch bệnh cho vật nuôi. Khi nhiệt độ tăng sẽ hỗ trợ cho việc
lan truyền mầm bệnh đến những vùng lạnh hơn, cả những hệ thống
vùng cao (như bệnh tụ huyết trùng) hoặc đến những vùng có khí hậu
ôn hòa hơn. Thay đổi lượng mưa cũng có thể ảnh hưởng rộng đến sự
di chuyển dịch bệnh trong những năm ẩm ướt.
CHƯƠNG 3
THÍCH ỨNG CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH PHƯỜNG 7 VỚI
BĐKH TRONG SẢN XUÂT NÔNG NGHIỆP VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG THÍCH ỨNG.
17
3.1. Thích ứng với BĐKH trong hoạt động trồng trọt và chăn
nuôi của các hộ gia đình phường 7
3.1.1. Thích ứng với BĐKH của các hộ gia đình trong trồng trọt
Dưới tác động của những hiện tượng thời tiết bất thường đã và
đang diễn ra ngày một phức tạp tại địa phương, các hộ gia đình đã có
những thay đổi trong trồng trọt để nâng cao khả năng thích ứng của
mình cũng như giảm thiểu những thiệt hại do BĐKH gây ra.
Theo kết quả khảo sát (Bảng 3.1), phương án được nhiều hộ
gia đình lựa chọn và áp dụng là đầu tư chi phí nhiều hơn cho trồng
trọt (67,1%). Nhiều hộ gia đình đã đầu tư chi phí để chuyển hướng
sang phát triển nông nghiệp công nghệ cao thay vì cách làm theo
truyền thống như đầu tư chi phí làm nhà giàn, nhà kính trồng rau,
hoa tránh mưa; đầu tư phân bón, mua giống chất lượng cao, đầu tư
7. Dừng sản xuất
4.0
8. Chuyển sang làm nghề khác
1.3
18
9. Một số lao động di cư sang địa phương khác
.7
10. Điều chỉnh lịch thời vụ
24.8
11. Thay đổi giống cây trồng
59.1
12. Cải thiện hiệu quả tưới tiêu
50.3
13. Cho thuê đất
30% chi phí phân bón, 50% chi phí thuốc bảo vệ thực vật, năng suất
cây trồng đạt 100 tấn/ha/năm và quan trọng hơn là thu được sản
phẩm chất lượng cao, được thị trường chấp nhận. Có thể nói đây
cũng là sự “lựa chọn” rất hợp lý của các hộ gia đình tại địa bàn
nghiên cứu khi cân nhắc chi phí đầu tư và hiệu quả kinh tế.
Ngoài ba biện pháp chủ đạo là tăng chi phí đầu tư, thay đổi
giống cây trồng và cải thiện hiệu quả tưới tiêu thì một biện pháp
khác cũng được nhiều người lựa chọn đó là thay đổi phương thức
canh tác(luân canh, xen canh); thay đổi kỹ thuật canh tác, tăng ngày
công lao động, điều chỉnh lịch thời vụ.
3.1.2. Thích ứng với BĐKH trong chăn nuôi
Biện pháp thích ứng được các hộ gia đình áp dụng nhiều
nhất là thay đổi giống vật nuôi chiếm 47,6%; đầu tư chi phí nhiều
hơn cho chăn nuôi chiếm 28,6% và thay đổi kỹ thuật chăn nuôi hay
giảm qui mô chăn nuôi cùng chiếm 23,8%. Giống vật nuôi có sức đề
kháng cao, thích nghi tốt với điều kiện khắc nghiệt của thời tiết được
các hộ lựa chọn nhiều hơn. Giống vật nuôi thay đổi dẫn đến kỹ thuật
chăn nuôi cũng thay đổi như các chế độ dinh dướng, vệ sinh, tiêm
phòng bệnh,... từ đó sẽ giảm được dịch bệnh và nâng cao hiệu quả
chăn nuôi.
3.1.3. Thích ứng với BĐKH qua việc sử dụng kiến thức bản địa
Hoạt động canh tác nông nghiệp hiện nay tại phường 7 vẫn
phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Chính vì vậy những kinh
nghiệm và kiến thức bản địa có vai trò quan trọng đối với các hộ gia
đình trong canh tác nông nghiệp nhằm giúp các hộ gia đình giảm
thiểu thiệt hại do các hiện tượng thời tiết cực đoan gây ra bởi BĐKH.
20
1.500m so với mực nước biển Đà Lạt không có bão tuy nhiên bình
quân mỗi năm Đà Lạt chịu ảnh hưởng của 5 -6 cơn bão, cường độ
mạnh hơn gây mưa lớn và lụt lội, xu hướng bão đến sớm hơn và kết
thúc muộn hơn những năm về trước. Các hiện tượng thời tiết cực
đoan xuất hiện ngày càng nhiều như lũ, lũ quét, lốc xoáy, mưa đá và
hạn hán.
Tác động của BĐKH đến hoạt động sản xuất nông nghiệp
trên địa bàn là hết sức rõ ràng: sự thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa đã
ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng, năng suất cây trồng/vật nuôi, gia
tăng dịch bệnh trên cây trồng/vật nuôi, ảnh hưởng đến thời gian thu
hoạch cũng như lịch mùa vụ của người dân, làm thiệt hại đến cơ sở
hạ tầng khu chăn nuôi và trồng trọt của người dân như hư hại nhà
lồng, nhà kính, truồng trại.
Thực tiễn cho thấy, người dân tại phường 7 đã có những biện
pháp thích ứng rất linh hoạt và chủ động trong sản xuất nông nghiệp
trước bối cảnh BĐKH đang diễn ra, đó là: sự tăng đầu tư chi phí cho
trồng trọt/chăn nuôi, thay đổi giống cây trồng/vật nuôi, cải thiện hiệu
quả tưới tiêu, thay đổi phương thức canh tác. Các biện pháp thích
ứng của người dân ấp dụng đã góp phần giảm thiểu thiệt hại do
BĐKH gây ra, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp cho người
dân mặc dù kết quả và hiệu quả của các biện pháp là khác nhau. Bên
cạnh đó người dân cũng đã vận dụng những kiến thức bản địa phục
vụ cho việc dự báo thời tiết cũng như trong các hoạt động sản xuất
hàng ngày.
Một số giải pháp đề xuất
Đối với chính quyền địa phương:
22