Liên kết các chủ thể tham gia vào chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện ba vì, thành phố hà nội - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH THỊ BÍCH HẢO

LIÊN KẾT CÁC CHỦ THỂ THAM GIA VÀO CHUỖI SẢN
PHẨM BÒ SỮA Ở HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ ANH VŨ

HÀ NỘI, Năm 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng từ thực tiễn trong công
tác, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày tháng

năm 2017

Tác giả luận văn



TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 79


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CGT

: Chuỗi giá trị

DN

: Doanh nghiệp

HĐND

: Hội đồng nhân dân

MT

: Môi trường

MTTQ

: Mặt trận Tổ quốc

NN

: Nhà nước

NKH



DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa trên địa bàn huyện ...............32
Bảng 2.2. Thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra .................................................42
Bảng 2.3. Lợi ích của hộ chăn nuôi khi tham gia liên kết .......................................54
Bảng 2.4. Lợi ích của doanh nghiệp khi tham gia liên kết ......................................56
Bảng 2.5. Lợi ích của cán bộ khoa học khi tham gia liên kết .................................57
Bảng 3.1: Dự báo nhu cầu tiêu dùng sữa trong nước đến năm 2025 .................65


DANH MỤC SƠ ĐỒ
Hình 2.1: Sơ đồ các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa....................................... 33
Hình 2.2. Sơ đồ liên kết cung ứng thức ăn chăn nuôi ..................................................... 37
Hình 2.3. Sơ đồ liên kết cung ứng thuốc thú y và phòng trừ dịch bệnh cho bò sữa .... 39
Hình 2.4. Sơ đồ liên kết cung ứng vốn ............................................................................. 41
Hình 2.5. Sơ đồ tổ chức liên kết với hộ chăn nuôi của công ty CP sữa Quốc tế IDP ........ 47
Hình 2.6. Sơ đồ liên kết với Hộ chăn nuôi của công ty Cổ phần sữa Ba Vì .................. 48
Hình 2.7. Sơ đồ liên kết tập huấn kỹ thuật cho hộ chăn nuôi bò sữa của Công ty chế
biến sữa ............................................................................................................................... 51
Hình 2.8: Sơ đồ khối lượng dòng sản phẩm trong chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba
Vì, Thành phố Hà Nội........................................................................................................ 58
Hình 2.9: Sơ đồ chi phí, lợi nhuận trong chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì,
Thành phố Hà Nội.............................................................................................................. 58


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau 30 năm thực hiện đường lối Đổi mới, ngành nông nghiệp nước ta đã đạt
được thành tựu to lớn và khá toàn diện; tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa

giá đối với người nông dân (có khi điều chỉnh giá sữa 2 lần trong 01 tháng hoặc cắt
giảm 2.000đ/kg sữa trong 6 tháng đối với hộ nuôi mới), do vậy nhiều hộ nông dân
không an tâm đầu tư vào chăn nuôi bò sữa; việc chăn nuôi chủ yếu vẫn theo mô
hình nhỏ lẻ (gia trại), bình quân mỗi hộ nuôi 5-7 con, chưa có nhiều mô hình chăn
nuôi tập trung quy mô lớn kiểu trang trại... Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những
hạn chế trên như: việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi bò sữa
còn hạn chế, chưa có nhà máy sản xuất thức ăn trên địa bàn huyện nên chưa chủ
động được nguồn thức ăn và chất lượng thức ăn cho chăn nuôi dẫn đến giá thành
sản phẩm chăn nuôi còn cao, xử lý môi trường trong chăn nuôi chưa đảm bảo tốt,
chăm sóc y tế, phòng chống dịch bệnh cho đàn bò chưa được thường xuyên... Song
nguyên nhân chủ yếu là việc liên kết giữa nông dân và các DN chế biến sữa (công ty
Cổ phần Sữa Quốc tế IDP chi nhánh Ba Vì, Công ty Cổ phần Sữa Ba Vì, Neslté...) trên
địa bàn huyện Ba Vì trong việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm thiếu tính bền
vững, chưa có giải pháp phù hợp để ràng buộc hai bên; liên kết giữa nông dân với
các doanh nghiêp, nhà khoa học, Nhà nước trong việc cung ứng vốn sản xuất, thức
ăn chăn nuôi, thuốc thú ý và phòng trừ dịch bệnh cho bò sữa còn hạn chế, thiếu các
cơ chế rõ ràng. Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài "Liên kết các chủ thể
tham gia vào chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội" làm
luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các nghiên cứu về nội dung liên kết
Nghiên cứu nền nông nghiệp hợp đồng, thiết lập cơ sở pháp lý đảm bảo cho lợi
ích của nông dân trong liên kết nông nghiệp với công nghiệp chế biến, cụ thể hơn là
nhà DN chế biến với người nông dân, Humphrey, J. and Schmitz (2000) đã nhấn mạnh
các liên kết giữa hộ nông dân với DN chế biến, thường dẫn đến thua thiệt cho hộ nông
dân. Nông nghiệp hợp đồng là một hệ giải pháp để có thể giúp giảm thiểu những rủi ro
đó. Song, nếu nhà nước không có những giải pháp kiểm soát sẽ rất khó có thể đảm bảo
được lợi ích thực thụ của nông dân tham gia chuỗi sản phẩm. Ở các vùng có lợi thế so

2

trường nội địa và toàn cầu, liên kết chuyển giao công nghệ trong các cụm ngành của

3


chuỗi cung ứng; phân tích những thay đổi trong chuỗi cung ứng nhằm ứng phó với
những thách thức khủng hoảng kinh tế.
Michael E. Porter (1990), đã phân tích các liên kết bên trong và khu vực địa lý
của chuỗi và nhấn mạnh “các liên kết tạo ra cơ hội giảm chi phí thông qua hai cơ chế:
điều phối và tối ưu hóa”. Ông đã xem xét vấn đề vị trí địa lý hoạt động CGT có ảnh
hưởng đến các chi phí hoạt động của chuỗi. Ông nhấn mạnh, vị trí địa lý phản ánh lựa
chọn chính sách, và một số khía cạnh văn hóa truyền thống, hoặc do tính chuyên môn
hóa đầu vào.
Những nghiên cứu về liên kết kinh tế của hộ nông dân
Liên kết nông dân – doanh nghiệp cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều tác
giả trong đó Hồ Quế Hậu đã đưa ra khá đầy đủ về nội dung, các tiêu chí và các yếu tố
ảnh hưởng đến mối liên kết này đồng thời phân tích tổng quát về thực trạng liên kết
giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến nông sản Việt Nam trong thời gian qua. Mối
liên kết này còn được đề cập đến dưới một tên gọi khác là nông nghiệp hợp đồng trong
một số nghiên cứu gần đây của Nguyễn Thị Bích Hồng (2008), Nguyễn Thị Hà (2010).
Cho đến nay đa số các tác giả nghiên cứu về vấn đề liên kết kinh tế của hộ nông
dân trên từng lĩnh vực nhỏ khác nhau như nghiên cứu về quan hệ kinh tế với hộ nông
dân thông qua các hợp đồng sản xuất tại các vùng chè và mía ở Sơn La của tác giả
Nguyễn Thị Hà (2010), Nghiên cứu các hình thức liên kết trong tiêu thụ nông sản của
hộ nông dân ở tỉnh Thái Bình của tác giả Vũ Đức Hạnh (2015), Nghiên cứu các tác
nhân tham gia kênh tiêu thụ sản phẩm thịt lợn trên địa bàn tỉnh Nghệ An của tác giả
Phạm Thị Tân, Phạm Văn Hùng (2013).
Có thể khẳng định, các mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp theo hình thức hộ
sản xuất hàng hóa đã xuất hiện và phát triển ở nhiều nơi. Tuy nhiên, những hạn chế
trong việc liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp vẫn là phổ biến,

Quá trình liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba
Vì, Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung
Các chủ thể tham gia vào chuỗi nông sản rất rộng và phức tạp. Trong khuôn khổ
luận văn thạc sĩ, đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến liên kết các chủ
thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa trên địa bàn huyện Bà Vì, trọng tâm là liên kết của

5


hộ nông dân chăn nuôi bò sữa với các doanh nghiệp chế biến sữa, các nhà cung cấp đầu
vào trên địa bàn huyện Ba Vì trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm sữa, các chủ
thể khác ngoài huyện hoặc nước ngoài được đề cập ở mức độ nhất định.
Thời gian nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng liên kết các chủ thể tham gia chuỗi
sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì từ năm 2011 đến 2016 và các giải pháp tăng cường
liên kết các chủ thể giai đoạn 2017 - 2025.
4.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực tế có tồn tại và phát triển các hình thức liên kết các chủ thể tham gia
chuỗi sản phẩm bò sữa của huyện Ba Vì?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự liên kết của các chủ thể?
- Những tồn tại, hạn chế trong liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò
sữa của huyện Ba Vì?
- Cần phải có những giải pháp chính sách đột phá nào để thúc đẩy liên kết giữa
các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa của huyện Ba Vì?
4.4. Giả thuyết nghiên cứu
Trong thời gian gần đây, liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
bò sữa Ba Vì của các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm đã được hình thành, mang lại
những lợi ích nhất định cho nông dân, doanh nghiệp và kinh tế của huyện Ba Vì. Tuy

của huyện Ba Vì, cũng là đại diện cho vùng nghiên cứu về các điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội, môi trường, văn hóa.
* Phương pháp điều tra bảng hỏi:
Để thu thập số liệu mới tôi sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi đối với các
cán bộ chủ chốt ở huyện, xã, các chủ doanh nghiệp, người buôn bán, chủ trang trại, các
cán bộ khoa học…ở những điểm nghiên cứu. Cụ thể điều tra các nhóm:
- Đối với nhóm cán bộ huyện, xã, thị trấn: điều tra bảng hỏi đối với 16 cán bộ hiện
là phó chủ tịch huyện, chủ tịch các xã, chủ tịch hội nông dân, hội phụ nữ các xã phát triển
chăn nuôi bò sữa.
- Đối với các hộ nông dân: điều tra bằng bảng hỏi với 200 chủ hộ chăn nuôi bò
sữa ở 5 xã Ba Trại, Tản Lĩnh, Vân Hòa, Yên Bài, Ba Vì. Mẫu điều tra được chọn theo
phương pháp ngẫu nhiên: Khối hộ chăn nuôi bò sữa mục tiêu là 1.200 hộ ở 5 xã được
chọn điều tra; Khối hộ chăn nuôi bò sữa lấy mẫu là 200 hộ; Khung lấy mẫu được phân

7


thành 3 tầng, trong từng tầng sử dụng phương pháp lẫu mẫu ngẫu nhiên đủ 200 hộ.
Phân tầng

Khung lấy mẫu

Khối hộ mục tiêu

Khối hộ chọn mẫu

Tầng 1

Hộ dân tộc Kinh


nhất trên địa bàn huyện Ba Vì là Công ty cổ phần sữa Ba Vì và Công ty cổ phần sữa
quốc tế IDP, chi nhánh Ba Vì.
5.2. Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp xử lý số liệu: Luận văn sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu.
Phương pháp thống kê so sánh : Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để mô
tả, phân tích và so sánh kết quả thực hiện liên kết giữa các chủ thể thông qua các chỉ
tiêu định tính (các hình thức liên kết, trách nhiệm và lợi ích của các bên...) và định
lượng (thời gian tham gia liên kết, tỷ lệ tham gia liên kết...).
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ về mặt lý luận về vấn đề liên kết các chủ thể trong
chuỗi nông sản.
Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc khuyến nghị các giải pháp thúc đẩy
liên kết phát triển chuỗi cung ứng nông sản ở nước ta hiện nay.
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các viện nghiên cứu và
trường đại học

8


7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài kết cấu
thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về liên kết các chủ thể
trong chuỗi nông sản
Chương 2: Thực trạng liên kết các chủ thể trong chuỗi sản phẩm bò sữa tại

huyện Ba Vì, Hà Nội
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường liên kết các chủ thể trong

tác lao động để đạt tới lợi ích kinh tế xã hội chung.
Qua đó, tôi cho rằng: Liên kết kinh tế là một phạm trù khách quan phản ánh
những quan hệ giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh nhằm tiết kiệm thời gian, tiết
kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao hơn trong sản xuất kinh doanh nông sản, tạo ra sức mạnh
cạnh tranh, cùng nhau chia sẻ các khả năng, mở ra những thị trường mới. Mục tiêu của

10


liên kết kinh tế là các bên tìm cách bù đắp sự thiếu hụt của mình từ sự phối hợp hoạt
động với các đối tác nhằm đem lại lợi ích cho các bên.
Khác với các ngành sản xuất – kinh doanh khác, sản xuất – kinh doanh nông
nghiệp có những đặc thù riêng, chẳng hạn như các sản phẩm nông nghiệp có chu kỳ
sản xuất kinh doanh rất khác nhau (kể cả trong cùng một sản phẩm cũng có những
điểm đặc thù như: có cây trồng chu kỳ thay giống mới kéo dài vài năm mới thay giống
một lần; có cây trồng sau mỗi vụ phải thay giống…, khác nhau kỹ thuật, chăm sóc, tiêu
thụ… lại diễn ra thường xuyên); các tác nhân (tổ chức, cá nhân) tham gia sản xuất –
kinh doanh cũng rất đa dạng, đặc biệt là các hộ cá thể… Do vậy, liên kết trong sản xuất
– kinh doanh nông nghiệp cũng có những điểm khác biệt, và có thể được định nghĩa
như sau:
Liên kết sản xuất – kinh doanh nông nghiệp là hình thức phối hợp, hợp tác
thường xuyên các hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành, để cùng nhau đề
ra và thực hiện các công việc sản xuất kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy
sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất. Liên kết kinh tế được xây dựng
trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết
giữa các bên tham gia dưới hai hình thức chủ yếu là hợp đồng bằng văn bản (hợp đồng
chính thống) trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước và thỏa thuận miệng (hợp đồng
phi chính thống). Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định, hoặc
các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hóa, hợp tác hóa,
nhằm khai thác tốt tiềm năng của mỗi chủ thể tham gia liên kết, hoặc để cùng nhau tạo ra

người tiêu dùng.
Tác giả Christopher cho rằng chuỗi sản phẩm là mạng lưới của những tổ
chức liên quan đến những mối liên kết các dòng chảy ngược và xuôi theo những
tiến trình và những hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng sản phẩm và
dịch vụ cho khách hàng, bao gồm mọi hoạt động liên quan đến việc sản xuất và
phân phối một sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên
đến khách hàng cuối cùng.
Như vậy, theo các quan điểm đã trích dẫn, về cơ bản chuỗi sản phẩm nói
chung hay chuỗi nông sản nói riêng hình thành trên cơ sở liên kết giữa các chủ thể;
do đó, có thể nói chuỗi nông sản là chuỗi liên kết, chính sự liên kết các chủ thể tạo

12


nên chuỗi nông sản. Chuỗi nông sản bao gồm một hành trình liên kết giữa các chủ
thể trong đó có 3 hoạt động cơ bản nhất, gồm:
- Cung cấp: tập trung vào các hoạt động cung cấp đầu vào cho sản xuất nông
sản ra sao? chủ thể chế biến hoặc chuyển đổi trong chuỗi mua nông sản như thế
nào? mua từ đâu và khi nào nông sản được cung cấp nhằm phục vụ hiệu quả quá
trình sản xuất?
- Sản xuất: là quá trình chuyển đổi các nông sản thành sản phẩm cuối cùng.
- Phân phối: là quá trình đảm bảo các sản phẩm sẽ được cung ứng đến người
tiêu dùng cuối cùng thông qua mạng lưới phân phối, kho bãi, bán lẻ một cách kịp
thời và hiệu quả.
Như vậy, liên kết chuỗi nông sản bao gồm tất cả các khâu từ cung cấp đầu
vào, sản xuất, thu gom, chế biến và tiêu thụ sản phẩm đến tay người tiêu dùng; các
chủ thể trong chuỗi nông sản không chỉ bao gồm nhà cung cấp đầu vào, nhà sản
xuất, nhà chế biến, mà còn liên quan đến hoạt động thương mại, kinh doanh, bán
hàng và người tiêu dùng.
1.1.3. Tính tất yếu liên kết các chủ thể trong chuỗi nông sản

thụ được, từ đó thúc sản xuất phát triển.
+ Liên kết kinh tế còn giúp các chủ thể có thể tiếp cận nhanh chóng với các
công nghệ, kỹ thuật mới vào sản xuất nhờ có sự phối hợp với các nhà nghiên cứu ở
các trường đại học hay cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước.
+ Liên kết kinh tế còn thúc đẩy liên kết, hỗ trợ nhau về vốn trước những thay
đổi của thị trường mà vượt ra ngoài khả năng đáp ứng của doanhh nghiệp, buộc các
chủ thể ấy phải tìm cách liên kết, hỗ trợ về vốn và công nghệ để hoàn thành ra sản
phẩm hoàn chỉnh cung cấp cho thị trường.
- Liên kết kinh tế giúp các chủ thể giảm thiểu rủi ro trong sản xuất, kinh
doanh sản phẩm. Để tránh được rủi ro, nhiều nhà sản xuất đã biết phân tán sự rủi ro
bằng cách mời gọi các chủ thể khác cùng tham gia thực hiện và triển khai dự án.
Thậm chí mỗi chủ thể phải đảm bảo một phần công việc tùy theo năng lực của từng
chủ thể. Như vậy, mỗi chủ thể tham gia dự án sẽ chịu một phần rủi ro (nếu có xảy
ra).
- Liên kết các chủ thể trong chuỗi nông sản là vô cùng cần thiết và quan trọng

đến hiệu quả đạt được của chuỗi giá trị hàng nông sản đối với từng chủ thể tham gia

14


chuỗi và đối với nền kinh tế quốc dân. Việc hình thành được chuỗi liên kết để kiểm
soát chặt từ khâu sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm, trên cơ sở tổng thể quy
hoạch phát triển nông nghiệp, với sự tham gia tích cực của các chủ thể. Điều cần
quan tâm trước tiên của liên kết các chủ thể là sự phân công lao động và chuyên
môn hóa sản xuất. Phân công và chuyên môn hóa càng sâu thì nhu cầu liên kết nói
chung, hợp tác nói riêng càng lớn. Cũng cần lưu ý là lợi ích là cơ sở quan trọng của
các mối quan hệ liên kết nhưng các ràng buộc kinh tế- kỹ thuật là cơ sở quyết định
cho mối quan hệ liên kết giữa các chủ thể.
1.1.4. Các hình thức, phương thức liên kết

quốc gia hay nhiều quốc gia, trên phạm vi khu vực và quốc tế. Cụ thể:
Một là, liên kết dọc: Là liên kết được thực hiện theo trật tự các khâu của quá
trình sản xuất kinh doanh (theo dòng vận động của sản phẩm). Kiểu liên kết theo chiều
dọc là toàn diện nhất bao gồm từ sản xuất, chế biến nguyên liệu đến phân phối thành
phẩm. Trong mối liên kết này thông thường mỗi tác nhân tham gia vừa có vai trò là
khách hàng của tác nhân trước đó đồng thời bán sản phẩm cho tác nhân tiếp theo của
quá trình sản xuất kinh doanh. Kết quả của liên kết dọc là hình thành nên chuỗi giá trị
của một ngành hàng và có thể làm giảm đáng kể chi phí vận chuyển, chi phí cho khâu
trung gian.
Hai là, liên kết ngang: Là hình thức liên kết mà trong đó mỗi tổ chức hay cá
nhân tham gia là một đơn vị hoạt động độc lập nhưng có quan hệ với nhau thông qua
một bộ máy kiểm soát chung. Trong liên kết này, mỗi thành viên tham gia có sản phẩm
hoặc dịch vụ cạnh tranh nhau nhưng họ liên kết lại để nâng cao khả năng cạnh tranh
cho từng thành viên nhờ phát huy tính lợi ích kinh tế theo quy mô của tổ chức liên kết.
Kết quả của liên kết theo chiều ngang hình thành nên những tổ chức liên kết như Hợp
tác xã, liên minh, hiệp hội và có thể dẫn đến độc quyền trong một thị trường nhất định.
1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế của các chủ thể
1.1.5.1. Nhân tố về thị trường
Nơi nào thị trường hàng hóa phát triển càng mạnh thì quá trình liên kết, hợp tác
càng diễn ra sôi động. Trên thực tế sản xuất, ở mỗi vùng, mỗi địa bàn có những điều
kiện khác nhau. Thông qua thị trường để thực hiện giá trị sản xuất của mình, điều đó
quyết định có nên sản xuất sản phẩm hay không và bán được giá cao hay thấp. Nơi nào
thị trường hàng hóa phát triển thấp thì giá bán càng bất lợi cho nhà sản xuất; ngược lại

16


thị trường sôi động, nông sản hàng hóa giao dịch nhiều thì nơi ấy tạo lập được giá đúng
với bản chất của thị trường. Để đáp ứng yêu cầu của thị trường trong điều kiện của
người nông dân còn khó khăn, nhất là thiếu các yếu tố đầu vào, đầu ra của sản xuất, khi

của hộ/chủ hộ), khả năng kinh tế của hộ để tham gia liên kết và quy mô sản xuất của
hộ.
Về quy mô sản xuất của hộ: quy mô sản xuất của hộ được thể hiện thông qua
diện tích và sản lượng nông sản sản xuất ra. Theo kết quả của một số nghiên cứu thì
quy mô sản xuất là yếu tố có ảnh hưởng đến liên kết trong tiêu thụ nông sản của hộ.
Thông thường khi quy mô sản xuất của hộ càng lớn thì nhu cầu tham gia liên kết
tiêu thụ sản phẩm của hộ càng lớn bởi vì thông qua mối quan hệ liên kết, hộ nông
dân sẽ hạn chế được rủi ro về giá cả sản phẩm. Trong khi hộ nông dân sản xuất quy
mô nhỏ có thể trực tiếp vận chuyển sản phẩm của mình đi tiêu thụ ở chợ địa phương
hay các đại lý nhỏ trong khu vực thì những hộ có quy mô sản xuất lớn sẽ gặp rất
nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt trong điều kiện thị trường
không ổn định và giá cả thường xuyên biến động. Chính vì thế hộ có quy mô sản
xuất lớn có nhu cầu liên kết trong tiêu thụ sản phẩm để ổn định giá cả, yên tâm đầu
tư sản xuất và có thể nhận được hỗ trợ sản xuất từ các doanh nghiệp hay đơn vị liên
kết thu mua sản phẩm. Các đơn vị, doanh nghiêpj chế biến cũng mong muốn liên
kết với hộ sản xuất có quy mô lớn hơn so với hộ có quy mô nhỏ vì doanh nghiệp sẽ
tiết kiệm được chi phí theo dõi, giám sát thực hiện liên kết.
Về nhận thức của nông dân về liên kết tiêu thụ sản phẩm: nhận thức của con
người được cấu thành bởi nhiều yếu tố như trình độ văn hóa, khả năng hiểu biết,
kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh. Trình độ văn hóa của chủ hộ (một trong
những yếu tố cấu thành nhận thức của chủ hộ) là một yếu tố có ảnh hưởng đến việc
tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản (Nguyễn Thị Quỳnh Hoa,
2005). Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đã xuất hiện từ lâu ở nhiều nước
trên thế giới dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển,
sản xuất nông nghiệp lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ thì liên kết trong sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ. Trước kia, các hộ nông dân có thể
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo cách truyền thống đó là sản xuất mà không cần
biết trước họ sẽ bán sản phẩm cho ai, vào khi nào và với giá cả bao nhiêu. Hiện nay
thói quen đó đang dần được thay thế bởi phương thức sản xuất kinh doanh mang


DN. Những DN có quy mô sản xuất lớn, vốn đầu tư lớn thì nhu cầu nguyên liệu đầu
vào cho sản xuất lớn hơn, để đảm bảo có nguồn nguyên liệu thường xuyên, đáp ứng

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status