Một số vướng mắc trong quy định về hình phạt tiền trong Bộ luật hình
sự Việt Nam
Phạt tiền là hình phạt tước bỏ một phần quyền, lợi ích về tài sản của người phạm tội thể hiện ở việc tước của
người bị kết án một khoản tiền nhất định. Theo Bộ luật hình sự hiện hành, hình phạt tiền có thể áp dụng với hai tư
cách. Với tư cách là hình phạt chính, hình phạt tiền được tuyên một cách độc lập đối với các tội phạm được Bộ luật
hình sự quy định. Còn với tư cách là hình phạt bổ sung, hình phạt tiền có thể được tuyên kèm với một số loại hình
phạt khác theo quy định. Xét về bản chất, dù là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung, hình phạt tiền đều là sự tước
bỏ một số quyền lợi vật chất của người bị kết án, tác động đến điều kiện kinh tế của họ. Phạt tiền được quy định là
hình phạt chính sẽ tạo ra khả năng cá thể hóa hình phạt ở mức cao hơn đối với một số trường hợp phạm tội nhất
định khi mà nếu áp dụng các hình phạt khác lại khó có thể đạt được mục đích của hình phạt.
Điều 30 Bộ luật hình sự quy định: “Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm
trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ
luật này quy định. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma túy
hoặc những tội phạm khác do Bộ luật này quy định. Mức phạt tiền được quyết định tùy theo tính chất và mức độ
nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động
giá cả, nhưng không được thấp hơn một triệu đồng".
Như vậy, theo quy định của Bộ luật hình sự, hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội
ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm
khác do Bộ luật hình sự quy định. Quy định này đã được cụ thể hóa tại một số điều khoản thuộc Phần các tội phạm
của Bộ luật hình sự, theo đó, hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với 76/272 tội phạm cụ thể, chiếm tỷ
lệ 27%, tập trung vào các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; các tội xâm phạm sở hữu; các tội xâm
phạm trật tự quản lý kinh tế; các tội phạm về môi trường; các tội phạm về ma túy; các tội xâm phạm an toàn cộng
cộng, trật tự công cộng và các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính. Ngoài các nhóm tội này, thì không được áp
dụng hình phạt tiền với ý nghĩa là hình phạt chính. Phạt tiền chỉ được áp dụng với ý nghĩa là hình phạt bổ sung đối
với tội phạm tham nhũng, ma túy và một số tội phạm khác do Bộ luật hình sự quy định.
Ngoài ra, có thể thấy rằng, hình phạt phạt tiền được quy định theo hai cách: Cách thứ nhất là giới hạn mức tối
thiểu và mức tối đa. Theo cách quy định này, Tòa án chỉ được lựa chọn mức phạt tiền cụ thể trong khung đã quy
định sẵn. Điều này hạn chế khả năng cá thể hóa hình phạt của tòa án. Cách thứ hai là quy định mức phạt tiền theo
cấp số nhân của số tiền vi phạm (Điều 161 - tội Trốn thuế, Điều 163 - tội Cho vay lãi nặng). Cách này tuy có ưu điểm
là mở rộng hơn thẩm quyền của thẩm phán so với cách quy định thứ nhất, nhưng vẫn bị giới hạn bởi số lần (có thể
là 01 lần đến 05 lần).
phạt tiền với ý nghĩa là hình phạt bổ sung thì cũng cần có một sự mở rộng hơn so với hiện nay.
Thứ hai, về cách thức áp dụng hình phạt tiền. Từ thực tế thi hành án hình sự cho thấy, nhiều đối tượng thể hiện
sự cố ý không nộp tiền phạt, làm giảm hiệu quả hình phạt. Về vấn đề này, có thể nghiên cứu áp dụng truy tố về hành
vi không chấp hành bản án hoặc áp dụng cơ chế chuyển đổi hình phạt tiền thành hình phạt tù theo tỷ lệ nhất định
hoặc buộc phải thực hiện biện pháp buộc lao động công ích.
;