p
m
TRƯỜNG
ĐẠI HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA:
KINH
TẾ
NGOẠI
THƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH:
TIẾNG
ANH
TOREIGN
T1WDE
UNIVERilTY
KHOA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
SĐỂtài:
CÁC
QUY
ĐỊNH
VÊ HÀNH
VI
THƯƠNG
MẠI
THEO
Hà
nội,
tháng 1112006
Si
đ
LỜI
CẢM ƠN
Có được thành quả như ngày hôm
nay, người
viết
xin
chân thành cảm ơn
sự
dìu
dắt,
huống
dẫn
trong
suốt
bốn năm qua của các
thầy
cô giáo Khoa
Kinh
tế
Ngoại
Thương
cũng
như các
thầy
cô giáo Bộ môn
bước vào
đời.
Đặc
biệt,
người
viết
vô cùng cảm sự giúp đỡ
tận
tình của TS. Tăng Văn Nghĩa
với
tư cách là giáo viên hướng dẫn.
Người
viết
xin
trân
trọng
cảm ơn trường
Đại
học
Ngoại
Thương Hà
Nội
và
Khoa
Kinh
tế
Ngoại
Thương đã
tạo
mọi
2.
Mục
đích nghiên cứu
2
3. Phương pháp nghiên cứu
2
CHƯƠNG
I.
KHÁI QUÁT HÀNH
VI
THƯƠNG
MẠI
THEO
LUẬT
THƯƠNG
MẠI NĂM 2005 3
ì.
Khái quát về
Luật
thương mại
năm
2005
3
/.
Vài nét về
sự
ra đời
của
Luật thương
mại năm
thương
mại.
6
/. /.
Khái niệm
6
1.2.
Đặc
diêm
của
hành
vi
thương
mại 8
1.3. Vai trò
của
hành
vi
thương
mại
trong
nền
kinh tế thị
trường
13
2.
Phân
loại
hành
vì
thuộc
16
2.2.
Căn cứ
vào
lĩnh
vực phát
sinh
cũng
như
đối
tượng
của
hành vi
thương
mại,
các
hành
vi
thương
mại cổ
thê chia
ra
các
nhóm hành
vi
sau:
16
3.
Các quy
HÀNH VI THƯƠNG
MẠI cụ THẺ
THEO
LUẬT
THƯƠNG
MẠI NĂM 2005 22
ì.
Mua bán
hàng hoa
22
/.
Các quy
định chung
đoi với
hoạt động
mua bán
hàng
hoa 22
2.
Quyền
và
nghĩa
vụ
các
bên
trong
hợp
đồng
mua bán
hàng
giao
dịch
29
li.
Cung
ứng
dịch
vụ 30
/.
Những quy định chung về hoạt động cung ứng dịch vụ 30
2.
Quyền và nghĩa vụ các bên
trong
hợp đồng dịch vụ 31
HI.
Xúc
tiến
thương mại 33
1.
Khuyến mại 34
1.1.
Khái
niệm,
đặc diêm của khuyến mại 34
1.2.
Các hình thức khuyến mại 35
1.3.
Quyển và nghĩa vụ của thương nhân hoạt động khuyên mại 36
2.
Quảng cáo thương mại 37
giới thiệu
hàng
hóa,
dịch
vụ " 40
3.2.
Quyền và nghĩa vụ các bên
trong
hợp đong
dịch
vụ trung
bày,
giới
thiệu
hàng hoa
dịch
vụ 41
3.3.
Hàng
hoa, dịch
vụ
trưng
bày và các trường hợp cầm trưng
bày,
giới
thiệu
hàng
hoa, dịch vụ
42
4.
thương mại 45
1.
Đại
diện
cho thương nhân 46
/. 1.
Khái niệm và đặc diêm 46
1.2.
Quyên và nghĩa vụ của các bên
trong
quan hệ đại
diện
cho thương
nhân 47
2.
Môi
giới
thương mại 48
2. ỉ.
Khái niệm và đặc diêm 48
2.2. Quyên và nghĩa vụ của các bẽn
trong
quan hệ môi
giới
thương mại
„.„„
49
3. Uy thác mua bán hàng hoa 49
3.1.
khác 52
1.
Gia công thương mại 53
2.
Đấu giả hàng hoa 53
3.
Đấu
thầu hàng
hoa,
dịch
vụ 54
4.
Dịch
vụ
logistics
56
5.
Quá
cảnh hàng
hoa qua
lãnh thổ
Việt
Nam và
dịch
vụ quá
cảnh hàng
hoa.
.' '. 58
ố.
Dịch vụ giám định
rộng
bao gồm cả
thương
mại hàng
hoa
và thương
mại
dịch vụ.
66
2.
Các quy
định về hành
vi
thương
mại
theo Luật Thương
mại năm
2005
đã
Thu hẹp
khoảng cách so
VỚI
pháp
luật
thương
mại của
các nưặc
và
quốc
tế.
HÀNH
VI THƯƠNG
MẠI CÓ
HIỆU
QUẢ
TRONG
THỰC
TIỄN
'. 72
ì.
Một số vấn
đề
đặt
ra
trong
quá
trình
áp
dụng
các quy
định
về
hành
vi
thưong mại
theo
Luật
thưong mại
năm
2005
75
2.1.
Khó
khăn liên quan đèn việc chấp nhận
đê
nghị và sụa đói đê nghị
giao kết
hạp
đổng
76
2.2.
Khó
khăn trong quá trình thực hiện
hợp đông
76
2.3.Đối với hoạt động đấu giá,
đấu
thầu
77
2.4. Vê dịch vụ giám định
78
li.
Một số
đề
xuất
áp
dụng
các quy
định
về hành
luật
82
1.4.
Tăng cường công
tác
kiếm
tra,
thanh
tra,
giám
sát việc
thực
hiện
Luật Thương mại
năm
2005,
đặc
biệt là
vê các quy định vẽ hành
vi
thương mại
83
2. về phía thương nhân
84
2. ỉ.
Cân
nghiên cứu đế
nắm
bắt
và thực
thiết
cùa đề tài
Năm 1997 đã đánh dấu một bước phát
triển
vượt
bậc của nền thương mại
Việt
Nam nói
chung
và
của
pháp
luật
thương mại nước
ta
nói
riêng.
Lần đầu tiên
trong lịch
sử
lập
pháp
Việt
Nam, Quốc
hội
khoa
IX kỳ họp
thứ
11 đã thông qua
Luật
này.
Sau
bấy năm
thừc
thi,
những
đóng góp của
Luật
Thương mại năm 1997 là
không
thể
phủ
nhận.
Tuy vậy
trong
bối
cảnh
Việt
Nam
hội
nhập
kinh
tế quốc
tế
và ngày càng sâu
rộng, nhất
là so
với những
yêu cầu về
điều chỉnh
của
cả hệ
thống
thương mại
Việt
Nam
cũng
như sẽ cản
trờ
đến
tiến
trình hội
nhập
kinh
tế quốc te
của
Việt
Nam. Chính vì
những
lý do này mà
việc
sửa đôi
Luật
Thương mại năm 1997 cho phù họp
với
pháp
luật
quốc
tế,
với
Luật
Thương
mại
năm
1997,
Luật
này đã sửa
đổi,
bổ
sung
rất
nhiều
quy định mới đặc
biệt
là
các quy định về hành
vi
thương
mại.
Vì có
nhiều
quy định
mới,
nhiều
bố
sung
trong
các quy định về hành
vi
thương mại nên
quy
định của pháp
luật
thương mại
quốc tế
và các
nước.
Đó là lý do
người
viết
Ì
chọn
đề tài "Các quy định về hành
vi
thương mại
theo Luật
Thương mại
Việt
Nam năm
2005".
2.
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
của
đề
tài
là:
Làm rõ
nội
dung
trong
pháp
luật
thương mại
quốc
tế
và các
nước.
Tuy nhiên
trong
quá trình
thẫc
thi
Luật
nói
chung
và các quy định về hành
vi
thương mại
nói riêng vẫn còn một số vấn đề
đặt
ra.
Trên cơ sờ
đó,
bài
viết
này có đưa
ra
một
số
với
chủ
nghĩa
duy
vật biện
chứng
và chủ
nghĩa
duy
vật lịch
sử;
kết
hợp
chặt
chẽ
với
tư
tưởng
Hồ Chí
Minh
và các
quan
điếm
của
Đảng
cộng
sản
Việt
Nam. Khoa
luận
thương mại năm
2005.
1. Vài nét về sự ra đời của Luật thương mại năm 2005.
Thực
hiện
nghị
quyết
số 12/2002/QH11 ngày
16/12/2002
của Quốc hội
khoa
11 kỳ họp
thứ
2 về chương trình xây
dựng
luật,
pháp
lệnh
của Quôc
hội
nhiệm
kỳ
khoa
9
(2002
-
2007)
và năm
2003,
Chính phủ đã
Tại
kỳ họp
thứ
7 Quốc
hội
khoa
9, Quốc
hội
đã thông qua
Luật
Thương mại năm
2005.
Ngày
27/6/2005,
chủ
tịch
nước đã ký
lệnh
công bố
Luật
Thương mại năm
2005.
Luật
này chính
thức
có
hiệu lực
vào ngày
1/1/2006.
2.
sung
mới. Luật
Thương mại năm
2005
có bố
cục
như
sau:
Chương
ì:
Những quy định
chung
(từ
Điều
Ì đến
Điều
24);
Chương
li:
Mua bán hàng hoa
(từ
Điều
24 đến
Điều
73);
Chương
IU:
Cung ứng
dịch
vụ
động thương mại cụ
thể
khác
(từ
Điều
178 đến
Điều
291);
Chương VU: Chế tài
trong
thương mại và
giải
quyết
tranh
chấp
trong
3
thương
mại
(từ
Điều
292
đến
Điều
319);
Chương
VUI:
Xử lý
vi
phạm về pháp
1997.
Sự
thay
đổi chủ yếu là
do
việc
mờ
rộng
phạm
vi
điều
chấnh
của
Luật,
không
chi
điều
chấnh
các
hoạt
động mua
bán hàng
hoa
mà còn
điều
chấnh
cả
các
hoạt
động
nội
dung
cơ
bản
* Chương
ì
- Những
quy
định
chung
Chương
ì
gồm 3 mục, quy định
về:
phạm
vi
điều
chinh
và
đối
tượng áp
dụng,
những
nguyên
tắc
cơ
bản
trong
hoạt
động thương
quốc
tế,
theo
hướng
Luật
Thương
mại
xác
định
hoạt
động thương
mại theo
nghĩa
rộng
và đưa
ra
quy định
khung
cho các
hoạt
động
này.
Đôi
với
các
hoạt
động mua bán hàng hoa và các
hoạt
động thương mại gắn
liền
quy
định.
về
đối
tương áp
dung:
Luật
Thương
mại
năm 2005 được áp
dụng
đối với
thương nhân
hoạt
động thương
mại.
Riêng
với
cá nhân
hoạt
động thương mại
một
cách độc
lập,
thường xuyên không
phải
đăng ký
kinh
doanh
thì
họp với
nguyên
tắc
của Bộ
Luật
dân sự năm 2005
cũng
như
thực
tiễn
hoạt
động
thương mại
tại
Việt
Nam.
Vê thương nhân nước
ngoải hoạt
đông thương mai
tai Việt
Nam:
Luật
Thương mại năm 2005 xác định các hình
thức
và
quyền
hoạt
động thương mại
của
thương nhân nước ngoài
quy
định
của
điều
ước
quốc
tế
mà
Việt
Nam đã ký
kết
như BTA.
* Tấ chương
li
đến chương VI là các quy định về hành
vi
thương mại,
thuộc
đôi tượng nghiên cứu của đề
tài
sẽ được trình bày cụ
thế
trong
phần
li
của
khoa
luận.
* Chương VU - Chế tài
trong
hai
loại
chế tài là
tạm
ngấng
thực
hiện
hợp đồng và
đình
chỉ thực
hiện
hợp
đồng.
Các chế tài như
tạm
ngấng
thực
hiện
hợp
đồng,
đình
chỉ thực
hiện
hợp đồng và huy bỏ hợp đồng
chì áp
dụng
đối với
vi
phạm cơ
bản.
xử
phạt
vi
phạm hành
chính,
việc
thi
hành
quyết
định xử
phạt
hành chính
và
giải
quyết
khiếu
nại quyết
định xử
phạt
hành chính. Những
nội
dung
cụ
thề
về
xử lý
vi
phạm
trong
hoạt
hiệu lực từ
ngày
1/1/2006.
li.
Khái quát về hành
vi
thương mại
/.
Khái niệm về hành
vi
thương mại.
1.1.
Khái niệm
Thương mại là
hoạt
động
ra đời
sớm
trong lịch
sử xã
hội
loài
người,
trên
cơ sờ sự phân công
lao
động xã
hội,
nó đã
tồn
lớp
chuyên mua bán các sản phàm đê
kiếm
lời
-
các thương
nhân,
lúc đó hành
vi
thương mại đã được hình thành.
Thương
mại, (theo tiếng
Anh Commerce) có
nghĩa
là buôn bán. Ở nước
ta,
theo
cách
hiểu
phổ
thông,
thương mại
là
hoạt
động
trao đổi
hay
giao
lưu hàng
hóa,
một
số hành
vi
được
coi là
hành
vi
thương mại .
Ớ
Việt
Nam trước
đây, trong
Bộ
luật
Thương mại của
Việt
Nam
cộng
hòa
đã xác định một cách khái quát về hành
vi
thương
mại,
đó là
những
hành
vi
chế
tạo,
lưu
hàm
chứa
nhiều
loại
hành
vi
khác ngoài mua bán đó là
"chế tạo", "trung gian".
Ớ nước
ta trong
nền
kinh tế
kế
hoạch
hoa
tập trung, thuật
ngữ "thương
mại" với
nghĩa
là một
hoạt
động thương mại
ít khi
được sử
dụng.
Chỉ đến
thời
kỳ
chuyển
sang
Ì
Luật
Thương mại năm
1997,
thì
Hành
vi
thương mại là "hành
vi
của thương nhân
trong
hoạt
động thương mại
làm phát
sinh
quyền
và
nghĩa
vụ
giữa
các thương nhân
với
nhau
hoặc
giữa
thương nhân
với
các bên có liên
quan".
Còn
nhằm
thực hiện
các
chính sách
kinh tế
- xã
hội".
Và
Điều
45
liệt
kê 14 hành
vi
được
coi
là hành
vi
thương
mại,
bao gồm các hành
vi:
mua bán hàng
hoa, đại diện
cho thương nhân,
môi
giới
thương
mại,
uy
thác,
với
14 hành
vi
thương mại được
liệt
kê
trong
Điều
45
cho
thấy
khái
niệm
hành
vi
thương mại chỉ được
hiểu
theo
nội
hàm
rất
hẹp.
Do
đó,
phạm
vi
điều
chỉnh
của
Luật
Nhiều
hoạt
động khác
của
thương nhân như
tham
gia
liên
kết kinh
doanh,
tham
gia
đấu
thầu
xây
dựng,
huy
động von trên cơ sở các hợp đồng không
phải
là mua
bán ,
các
hoạt
động
trao
đối
công
nghệ,
các
giao
thế giới,
khái
niệm
thương mại dần được
hiểu
theo
nghĩa
rộng
hơn.
Khái
niệm
hành
vi
thương mại
theo
nghĩa
rộng
đã được pháp
luật
Việt
Nam
ghi
nhận
trong
Pháp
lệnh trọng tài
thương mại
(2003).
Theo
Khoản
xăng; đáu
tư; tài
chín,
ngân
hàng; bảo hiếm; thăm
dò,
khai
thác;
vận chuyến hàng
hoa,
hành khách là các
hành
vi
thương mại khác
theo
quy định cùa pháp
luật.
Hoặc,
theo
Điều
3
Khoản
Ì
Luật
Thương mại năm
2005,
hoạt
động thương mại là
hoạt
động "nhằm mục
luật
Việt
Nam đã
ghi
nhận
khái
niệm
thương mại được
hiếu
theo
nghĩa
rộng.
Tuy nhiên, pháp
luật
Việt
Nam đã
ghi nhận
về hành vi
thương mại
bằng
một khái
niệm
có
nghĩa
khái quát hơn đó là
hoạt
động thương
mại
(tố
hợp các hành
vi
thương mại có ý
nghĩa
lý
luận
và
thực
tiễn.
Một
mặt,
trên cơ sở
những
đặc
điếm
của hành
vi
thương
mại,
chúng
ta
dễ
dàng phân
biệt
phạm
vi
điều
chinh
của pháp
luật
thương mại và pháp
thống nhất
của
hệ thống
pháp
luật,
hạn chế được sự mâu
thuẫn,
chồng
chéo
trong
các văn bản
pháp
luật.
Đặc
điếm
của hành
vi
thương mại ở đây được xem xét
trong
mối
quan
hệ
với
hành
vi
dân
sự,
có
nghĩa
là ở đây
sự,
phải
là
đối
tượng
điều
chỉnh
của Bộ
luật
Dân sự và
Luật
Thương
mại.
Như
vậy,
mối
8
quan
hệ
giữa
hành
vi
dân sự và hành
vi
thương mại được nhìn
nhận
là mối
quan
hệ biện
chứng
thương mại đều là hành
vi
của con
người,
phát
sinh
và tôn
tại
trong
quá trình
sản
xuất,
trao
đổi
sản phẩm, hàng
hóa,
đều là
những
nặi
dung
của
quan
hệ hàng hóa -
tiền
tệ
và ở
những
mức đặ
nhất
định đều
biệt
và
chính
những
điếm
khác
biệt
này
tạo
nên đặc
điểm
của hành
vi
thương
mại.
Hành
vi
thương mại có mặt số đặc
điếm
cơ bản
sau:
Thứ
nhát,
hành
vi
thương mại khác hành
vi
dân sự vê
thời
diêm xuất hiện
của
người
khác
với
mục đích
thỏa
mãn các
nhu
cầu
sinh hoạt
hàng ngày của
mình.
Còn hành
vi
thương mại
xuất hiện
muặn
hơn,
mãi đến
khi
sự phân công
lao
đặng
trong
xã
hặi
đạt
đến trình đặ
nhất
định,
quan
hệ thương
mại.
Đặc
biệt,
các
quan
hệ này ít
chịu
tác đặng hơn của các biên đặng bên ngoài về chính
trị
xã
hặi
so
với
các
quan
hệ thương
mại.
Chính vì
vậy,
có
thế
nói,
hành
vi
thương mại hay
thay đồi,
ít bền
vững
Trong
khi
đó, quan
hệ thương mại
chịu
sự ảnh
hường
của
thực tế
đời
9
sống
kinh
tế,
chính
trị,
xã
hội nhiều hơn,
do
đó,
cách
thức
xử sự của các chủ
thề
thương mại thường
phải thay đối
cho phù hợp
với
những
thay đổi
kì
đổi
mới cơ
chế
quản
lí kinh tế
ở nước
ta
làm ví dụ
minh
chứng
cho
điều
đó.
Như
vậy,
qua nghiên cứu
lịch
sử
ra đời
và phát
triền
của quá trình
trao
đôi hàng hóa,
có
thế
khẳng
định hành
vi
nhau
như hình
với
bóng. Sở
dĩ
thương mại
phải
được
diễn ra
trên
thị
trường
là
vì
mua bán là khâu
quan
trọng nhất,
là thành
tố
của hành
vi
thương
mại.
Nói đến
thương mại không
thể
không nói đến thành tố này. Còn các yếu tố khác
(sản
xuất
và
trường,
trong
đó
phải
kế đến các quy
luật
như: Quy
luật
cạnh
tranh,
quy
luật
tăng
lợi
nhuận,
quy
luật
kích thích sức mua
giả tạo,
quy
luật
cung
cầu
và các quy
luật
riêng
trong
thương mại như quy
luật
của
doanh
nghiởp
thường
phải
vươn lên giành
giật
lấy
toàn bộ
hoặc
một
phần
nào đấy của
thị
trường để
tồn
tại,
tăng trưởng và phát
triển,
để làm được
điều
đó, ngoài
viởc
tiến
hành các hành
vi
thương
mại,
các chủ
thể
thương mại có
của
10
người
mua, các chủ
thể
thương mại sẽ
phải
bán ra cái mà
thị
trường cần chứ
không
phải
bán
ra
cái mình đang
có, phải
có cả trách
nhiệm
với
khách hàng cá
sau khi
hàng đã bán và
phải
đàm bảo chữ "tín"
trong
thương mại để phát
triển
lâu dài sự
nghiệp
thương mại
trường mà còn là hành
vi
nhằm mục đích
sinh
lợi.
Theo
Điều
3
Khoản
Ì
Luật
Thương mại năm
2005:
"Hoạt động thương mại là hoạt động
nhăm mục đích
sinh
lợi,
bao gôm mua bán hàng
hoa,
cung ứng dịch
vụ,
đâu
tư,
xúc
tiến
thương mại và các hoạt động nhằm mục
đích sinh
lợi
khác".
Đây là đặc
đó
nhung
được
thực hiện
nhằm mục đích
sinh
lợi
thì đó là hành
vi
thương
mại.
Tiêu chí
này được sử
dụng
khá phổ
biến
để phân
biệt
hành
vi
dân sự và hành
vi
thương
mại.
Như
vậy,
thương mại - hành
vi
được
thực hiện
vi
mang
tính
chất nghề
nghiệp,
được
thương nhăn
(tô
chức,
cá nhân
kinh
doanh) thực
hiện.
Thương mại là hành
vi
mang
tính
nghề
nghiệp
có
nghĩa
là chủ
thể
của
hành
vi khi
tham
gia
thương trường
thực hiện
thể diặn
ra
những
hành
vi
nhằm mục đích
sinh
lợi
nhưng chúng không
thể
được
coi
là hành
vi
thương
mại, bởi lẽ
đó không
phải
là hành
vi
thường xuyên của
người
thực
li
hiện
hành
vi,
hơn
nữa,
hành
hành
vi
dân sự
với
hành
vi
thương
mại.
Như trên đã phân tích, chủ thê
thương mại trước
hết
là chủ
thể
hành
vi
dân
sự,
các chủ
thể
này
phải
có đầy đù
nàng
lực
pháp
luật
và năng
lực
hành
vi
đù
những
điều
kiện
nhất
định mới là thương nhân. Những
điều
kiện
để
trờ
thành
chủ thể
thương nhân
phải
được pháp
luật
quy định cụ
thể.
Theo
Luật
Thương
mại
năm
2005
thì
điều
kiện
để
trờ
thành thương nhân là
giao
dịch
nào là
giao
dịch
dân
sự, giao
dịch
nào là
giao
dịch
thương
mại.
Bởi
vì,
ở
nhiều
mối
quan
hệ
trong lĩnh
vực
trao
đôi hàng hóa và
cung
ứng
dịch
vụ,
một bên có mục đích
lợi
có ý
nghĩa
rất
quan
trọng đối
với
việc
phân
biệt
giữa
luật
thương mại và
luật
dân
sự.
Ớ đây,
trong
các trường
hợp
cụ
thể
đòi
hỏi
các nhà làm
luật
phải
có
những
quy định rõ ràng để xác định
phạm
kinh tế
nước
ta
là nền
kinh tế thị
trường
định hướng
XHCN,
cũng
như
xuất
phát từ
vai
trò của hành
vi
thương
mại trong
nền
kinh
tế,
so
với
các hành
vi
dân
sự,
Nhà nước tác động ờ mức độ
3
Điều
6 Khoản Ì
mại,
những
hành
vi
thương mại bị cấm
hoặc những
hành
vi
thương mại có điêu
kiện
và
thủ tục
pháp lý để một hành
vi
thương mại được
coi
là họp pháp V.V
Chờng
hạn,
để
thực hiện
hành
vi
thương mại chủ
thể phải
tiến
hành đăng ký
kinh
doanh hoặc
hành
thể
hiện
ờ chỗ
khi thực hiện
các hành
vi
thương
mại,
Nhà nước
buộc
các chủ
thế
phải thực hiện
một số
nghĩa
vụ
nhất
định.
Ví
dụ,
về nguyên
tắc,
bất
cứ chủ thê
nào
khi thực hiện
hành
vi
thương mại
cũng
mại.
Nói tóm
lại,
giữa
hành
vi
dân sự và hành
vi
thương mại có
những
sự
tương đồng và khác
biệt.
Chính trên cơ sở sự tương
đồng,
khác
biệt
đó pháp
luật
đã có
những
quy định đặc thù
thế
hiện
một cách khái quát mối
quan
hệ
giữa
hành
vi
vi
thương mại đều
tồn
tại
khách
quan
và độc
lập
tương
đối với
nhau;
những
thuộc
tính vốn có của các hành
vi
dân sự được
biểu hiện
cụ
thể trong
các
hành
vi
thương mại đồng
thời
trong
hành
vi
thương mại
cũng
có
trường ờ nước
ta.
Xác định rõ vị trí của các hành
vi
thương mại cho
phép tác động đúng hướng và
tạo
được
những
điều
kiện
cho thương mại phát
triển.
- Vai trò bao trùm
nhất
của hành
vi
thương mại được
thể hiện
ờ chỗ nó
thúc đây quá trình
tái sản xuất
mờ
rộng
phát
triển.
Chiến
lược phát
triển
kinh
thậc hiện khi
chúng
ta
có nền
kinh tế
hùng
mạnh,
có quá trình tái sản
xuất
mờ
rộng
phát
triển,
về nguyên
lý,
tái sản xuât
mờ
rộng
là
lặp
lại
quá trình sàn
xuất với
quy mô
lớn
hơn
trước.
Trong
trường
hợp
thậc hiện
hành
vi
thương
mại.
Chính vì
vậy,
có
thế
khắng
định,
hành
vi
thương mại có
hiệu
quả, đạt
được
lợi
nhuận
cao sẽ thúc đẩy sậ phát
triển
của quá trình tái sản
mở
rộng
nói riêng và của xã
hội
nói
chung.
- Vai trò
quan
học và công
nghệ
mới,
hạ
chi
phí để
thu nhiều
lợi
nhuận.
Đồng
thời
cạnh
tranh trong
thương mại
bắt
buộc
các
thương nhân
phải
nâng
động,
không
ngừng
nâng cao
tay
nghề,
chuyên môn và
tính toán
thậc chất
hành
hóa
sản xuất.
Xuất
phát
từ
sậ phân công
lao
động xã
hội,
từ tố
chức
nền sản
xuất
hàng
hóa,
để đảm bảo cho quá trình thương mại được tiên hành bình thường các
14
thương nhân
phải
quan
hệ
với
nhau
thông qua
việc
mua
bán,
dịch
vụ.
Nó lôi kéo
vào
nhau
trong
việc
cung
cấp tư
liệu
sản
xuất
và tiêu
thụ
sản phẩm. Các mối liên hệ phát triên
đòi
hồi thị
trường ngày càng mờ
rộng.
Kết quả là
từ thị
trường địa phương mỡ
rộng
ra
thành
thị
trường cả nước
rồi
thị
trường
thế
giới.
Quá trình phát
công
ty
đến
tổng
công
ty,
từ
công
ty
quốc
gia
đến công
ty
siêu
quốc
gia.
Tất cả đó là
những
biếu hiện
của quá trình xã
hội
hóa sản xuât ngày càng
mạnh
mẽ
rộng
lớn.
- Hành
vi
thương mại còn có
vai
xuất phải
đa
dạng
về
loại
hình,
kiểu
dáng, mẫu mã,
chất
lượng
sản phẩm, thương nhân
luôn tìm mọi cách đê đáp ứng nhu cầu của
người
tiêu dùng. Như
vậy,
nhu cầu
của
con
người
có ý
thức
thúc đây sự phát
triền
của hành
vi
thương
mại.
Nhờ có
thương mại phát
triển,
đồng
thời
kích thích nhu cầu và đáp ứng ngày càng
tốt
hơn nhu cầu đó.
2.
Phân
loại
hành
vi
thương
mại
Dựa trên
những
căn cứ khác
nhau
hành
vi
thương mại có
thể chia ra
các
loại
khác
nhau.
15
2.1.
Căn cứ
vào
tính chất
của
những
hành
vi
có tính
chất
thương mại
vì bản chát của nó
thuộc
về công
việc
buôn bán
hoặc
vì hình
thức
của nó được
pháp
luật
coi
là tiêu
biểu
cho hành
vi
thương
mại
4
.
Ví
dụ,
mua bán hàng
hoa,
hành
vi
có bàn
chất là
dân sự
chớ
có
thế
trờ
thành hành
vi
thương mại
khi
hội
đủ
hai
yếu
tố:
Một là hành
vi
đó
phải
do thương nhân (thương
gia)
thực
hiện;
Hai là hành
vi
đó được thương nhân
thực hiện
trường hợp cụ
thế
đế xác định một hành
vi
có
được
xem là một hành
vi
thương mại phụ
thuộc
hay không. Tuy nhiên, trên cơ
sở lí luận
như đã trình bày, có
thế
suy đoán các hành
vi
của thương nhân
trong
hoạt
động
kinh
doanh
của mình đều là hành
vi
thương
mại, trừ khi
họ
chứng
minh
được
vi
thương mại
dịch
vụ;
- Nhóm hành
vi
thương mại
trong
lĩnh
vực đầu tư;
- Nhóm hành
vi
thương mại
trong
lĩnh
vực sở hữu
trí tuệ.
4
Lẽ Tài
Triển
(1972),
Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải,
quyển
Ì, Kim lai ấn quán, Sài Gòn, Tr.37-52
s
nt
16
Ban đầu,
hành
vi
chung,
các hành
vi
thương mại không
chỉ
tồn
tại
trong
lĩnh
vực
trao đổi
hàng hoa mà còn
tồn
tại
trong
nhiều
lĩnh
vực
khác như: đầu
tư,
sản
xuật,
sở hữu
trí
tuệ
V.V
Chính vì
vậy,
việc
phân
Như
vậy,
suy cho cùng hành
vi
thương mại
trong
các
lĩnh
vực
nói trên
chỉ
có
thể
được
chia
thành:
thương mại hàng hoa và thương mại
dịch
vụ.
Trong
mỗi một
lĩnh
vực,
do mỗi
loại
"hàng
hoa" cũng
như "công
việc"
có
lĩnh
vực phát
sinh
hành
vi
thương mại đế phân
loại
hành
vi
thương mại thành các nhóm cụ
the.
Hiện,
pháp
luật
nước
ta
đang đi
theo
hướng
quy định các
hoạt
động thương
mại
theo
từng
lĩnh
vực.
- Nhóm hành
vi
thương mại hàng hoa là
cùa thương mại hàng
hoa,
còn các hành
vi
trung
gian
thương
mại,
xúc
tiến
thương mại
phải
là
những
hành
vi
liên
quan
trực
tiếp
với
hành
vi
mua bán hàng
hoa, phục
vụ
trực
tiếp
cho
việc
nhiên,
không
phải tật
cả các hành
vi trong
các
lĩnh
vực
treruiều
là hành
vi
thương mai
dịch
vụ mà
chỉ những
hành
vi
nào có đầy đủ
những
thành
tố
của hành
vi
thương
i_A/
•
"í
3
~K>
17
V.V
Cũng tương
tự
như
những
hành
vi
thương mại
trong
lĩnh
vực đầu
tư,
không
phải
tờt
cả các
hoạt
động đầu tư là hành
vi
thương mại mà chỉ có
những
hoạt
động
đầu tư cho
kinh
doanh
nhằm mục đích tìm
kiếm
lợi
nhuận
nhằm mục đích thương
mại,
bao gồm các hành
vi
như: Sử
dụng
đôi
tượng
của sờ
hữu
công
nghiệp
(bằng
phát
minh,
sáng
chế,
giải
pháp hữu
ích)
trong
hoạt
động
kinh
tế -
thương
mại,
sử
dụng
các
ỉ.
Cộng hoa Pháp
Pháp
luật
thương mại của Pháp không định
nghĩa
hành vỉ thương mại mà
chỉ
tiến
hành
liệt
kê các hành
vi
được
coi
là hành
vi
thương mại và
chia
hành
vi
thương mại
ra
làm 3
loại:
các hành
vi
thương mại bản
chờt,
các hành
một cách
riêng
rể,
bao gồm:
+
Việc
mua động sản để bán không kể
tới
việc
có
gia
công, sửa
chữa,
hoàn
thiện
hoặc
làm tăng thêm giá
trị
hay không;
+
Việc
mua
bờt
động
sản
đế bán
lại
hoặc
mua để xây
dựng