KẾ THỪA và PHÁT HUY CHỦ NGHĨA yêu nước của dân tộc VIỆT NAM TRONG xây DỰNG và bảo vệ tổ QUỐC HIỆN NAY - Pdf 42

MỞ ĐẦU
Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt
Nam. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, nhân dân ta đã viết lên những bảo thiên anh hùng
ca vĩ đại bằng sự nghiệp dựng nước và giữ nước oanh liệt. Trên thế giới, hiếm thấy có
một dân tộc nào phải trải qua quá trình liên tục đấu tranh chống ngoại xâm, lâu dài, gian
khổ và hy sinh to lớn như dân tộc Việt Nam. Nhân dân thường phải chống lại những thế
lực ngoại bang có tiềm lực kinh tế, tiềm lực quân sự mạnh hơn hẳn với những mưu mô
và thủ đoạn xảo trá, quyết thôn tính Việt Nam biến nước ta thành thuộc địa của chúng.
Nhưng cuối cùng nhân dân Việt Nam đã chiến thắng, giành được độc lập và bảo vệ
được sự trường tồn của Tổ quốc. Chính từ trong quá trình đấu tranh chống ngoại xâm
kiên cường, bất khuất, dân tộc ta đã xây dựng nên truyền thống đánh giặc giữ nước và
nó trở thành truyền thống vô cùng quý báu, độc nhất vô nhị của dân tộc Việt Nam mà
trên thế giới không một dân tộc, quốc gia nào có được.
Vấn đề đặt ra là: sức mạnh nào khiến nhân dân Việt Nam chiến thắng
những kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm?
Nhiều học giả, nhà chính trị, quân sự, ngoại giao…trong và ngoài nước với những
công trình nghiên cứu của mình đã có những hướng tiếp cận khác nhau. Nhưng
theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh
ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc” 1. Tinh thần đó chính là chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam. Chính chủ nghĩa yêu nước đã tạo ra thế tất thắng và
không thể chiến bại của toàn thể dân tộc Việt Nam trước mọi kẻ thù xâm lăng.
Hiện nay, chúng ta đang sống trong bối cảnh có nhiều biến động, phức tạp
trên mọi bình diện của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Công cuộc đổi mới ở
nước ta gần 30 năm qua đã thu được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vị
thế và uy tín của nước ta không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Tuy
nhiên, sự nghiệp cách mạng nước ta cũng chịu sự tác động đan xen của những
thách thức không nhỏ. Để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, vấn đề
mang tính khách quan đặt ra phải kế thừa và phát huy chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam trong điều kiện mới, ra sức đẩy mạnh sự nghiệp CNH,HĐH và hội nhập
kinh tế quốc tế, xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững Tổ quốc XHCN.
1

thềm lục địa, phần biển rộng gấp nhiều lần so với phần đất liền.Việt Nam là cửa
ngõ của Đông Nam Á, cầu nối liền phần lục địa của Đông Nam Á với các quần
đảo bao bọc quanh biển Đông; là đầu mối giao thông quan trọng của những con
đường biển quốc tế đi từ Ấn Độ Dương lên phía bắc Thái Bình Dương, từ bán
đảo Đông Dương đến các quần đảo ở Châu Đại Dương và khống chế một ngã tư
đường biển trọng yếu. Một đầu của đất nước nằm ở phía bắc của bán đảo Đông
Dương, Việt Nam nằm ở vị trí án ngữ con đường từ Trung Quốc xuống các


3
nước Đông Nam Á. Chiều dài của đất nước kéo dài ở phía đông của bán đảo,
Việt Nam như một chiếc áo giáp che trở cho Lào và Campuchia ở hướng biển
Đông. Từ Hà Nội đến Rănggun (theo đường chim bay) là 1120km, Hà Nội Manila là 1170km. Trong khí đó Hà Nội - TP Hồ Chí Minh là 1726km, TP Hồ
Chí Minh - Singgapo là 1100km, TP Hồ Chí Minh - Giacácta là 1890km,… Một
cách tự nhiên, Việt Nam trở thành trung tâm của toàn bộ khu vực Đông Nam Á.
Do có vị thế tự nhiên đặc biệt như vậy nên Việt Nam sớm trở thành cửa ngõ, yết
hầu giao thông quan trọng, là chiếc cầu nối giữa Châu Á và Thái Bình Dương,
giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, nơi giao điểm của các luồng
đường, luồng hàng từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc, nơi tiếp xúc và giao thoa
của nhiều nền văn hóa, văn minh lớn trên thế giới.
Về vị trí chính trị: Trong lịch sử, Việt Nam đã từng là nơi chặn đứng vó
ngựa của quân xâm lược Mông - Nguyên, từng là “tiền đồn” của phe xã hội chủ
nghĩa ở Đông Nam châu Á - nơi đối đầu giữa lực lượng cách mạng với những
lực lượng phản động đế quốc hung hãn nhất. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam
trong thế kỷ XX có ảnh hưởng to lớn tới cách mạng Lào và Campuchia. Hiện
nay Việt Nam đang là một trong số ít nước xã hội chủ nghĩa tồn tại trên thế giới
và là nước duy nhất trong khu vực Đông Nam Á. Việt Nam trở thành một trọng
tâm chống phá của các thế lực chính trị phản động trên thế giới.
Về vị trí quân sự: Có thể nói Việt Nam là một nước có vị trí địa quân sự
trọng yếu trong khu vực Đông Nam Á. Vịnh Cam Ranh của Việt Nam được các

VII) (1/1994) đến nay đã trở thành những thách thức đối với Đảng cầm quyền,
trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong của chế độ XHCN mà chúng ta đang ra sức xây
dựng. Trong số những thách thức ấy, thách thức từ “diễn biến hòa bình” của
chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động chống phá cách mạng nước ta là
một trong những thách thức tác động trực tiếp đến công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc XHCN trong tình hình mới.
Nghiên cứu dự báo tình hình có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ
Tổ quốc của chúng ta từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo có thể khẳng
định chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch là thách thức lớn,
nổi lên hàng đầu, rất nguy hiểm và trực tiếp liên quan đến sự sống còn của độc
lập dân tộc và CNXH ở nước ta; đồng thời, cũng không thể loại trừ khả năng kẻ
thù tiến hành chiến tranh xâm lược kiểu mới có sử dụng vũ khí công nghệ cao
đối với nước ta.
Để đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế
lực thù địch, chủ động ngăn chặn nguy cơ chiến tranh xâm lược và sẵn sàng
đánh thắng chiến tranh xâm lược của kẻ thù, chúng ta cần tích cực bồi dưỡng
nâng cao chất lượng tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân, của chiến tranh
nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới, trong đó cần chú trọng nâng cao chất


5
lượng chính trị - tinh thần của dân tộc, mà cốt lõi là chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Trong suốt hành trình lịch sử của mình, dân tộc Việt Nam liên tục trải qua
những cuộc chiến tranh điển hình về tính chất ác liệt và sự gian khổ hy sinh, luôn
phải đương đầu với những thế lực xâm lược điển hình về tính chất tàn bạo và sự
hiếu chiến, có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần, nhưng dân
tộc ta không chịu khuất phục, không bị đồng hoá như một số dân tộc khác trong
lịch sử nhân loại. Vì sao như vậy? Đó là vì dân tộc ta đã tự xây dựng được bản
lĩnh chính trị, bản sắc văn hoá và sức mạnh chính trị - tinh thần to lớn, mà cốt lõi

trường, làm cho không ít người đánh mất lòng tự hào dân tộc, bị cuốn hút vào
vòng xoáy của chủ nghĩa cá nhân thực dụng, đáng chú ý là sự chuyển hoá từ cơ
hội thực dụng về kinh tế sang cơ hội thực dụng về chính trị.
Dưới góc độ khoa học chính trị - quân sự, chúng ta có thể dự báo cuộc
chiến tranh xâm lược kiểu mới của các thế lực thù địch tiến hành đối với nước ta
sẽ gay go, quyết liệt hơn gấp nhiều lần các cuộc chiến tranh vừa qua ở: vùng
Vịnh, Nam Tư, Ápganixtan, Irắc, không phải chỉ do phương thức tiến hành
chiến tranh xâm lược kiểu mới, với vũ khí trang bị công nghệ cao mà còn là
cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, về đường lối, quan điểm và thể chế chính trị-xã
hội. Nếu phải đối phó với cuộc chiến tranh ấy, chắc chắn chúng ta vẫn thua kém
về tiềm lực kinh tế, quân sự, vũ khí và phương tiện chiến tranh. Chúng ta chỉ có
thể giành thắng lợi bằng sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam, với
đường lối chính trị - quân sự đúng đắn và nghệ thuật quân sự Việt Nam, với sự
vượt trội kẻ thù về sức mạnh chính trị - tinh thần, mà cốt lõi là chủ nghĩa yêu
nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Ba là, xuất phát từ những yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc trước những tác động phức tạp của tình hình khu vực, thế giới đang đặt ra
hiện nay
Xây dựng đất nước tiến theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa là
sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tuy
nhiên, đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề với rất nhiều khó khăn, thách thức
đặt ra cho cách mạng Việt Nam. Nước ta quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
trong bối cảnh các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô đã sụp đổ, tạo
ra những ảnh hướng xấu tới cách mạng nước ta. Chủ nghĩa đế quốc và các thế
lực bành trướng ngày càng trở nên nguy hiểm và trắng trợn hơn trong việc can
thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, thậm chí xâm lược các quốc gia có
chủ quyền bất chấp công luận thế giới. Hiện nay thế giới đang thay đổi rất
nhanh, phức tạp và khó lường. Trong thập niên tới hòa bình, hợp tác và phát
triển tiếp tục là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc và tôn giáo, tranh giành tài
nguyên và lãnh thổ, nạn khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia có thể gia tăng

Yêu nước là một tình cảm thiêng liêng của mỗi người đối với Tổ quốc,
với đất nước mình. Khi nói về điều này, V.I.Lênin đã khẳng định: Yêu nước là
“một trong những tình cảm sâu sắc nhất, đã được củng cố qua hàng trăm năm,
hàng nghìn năm tồn tại của những tổ quốc biệt lập” 1. Một khi lòng yêu nước
phát triển thành một tình cảm thiêng liêng, thành một triết lý sống, thành nhu
1

V.I.Lênin. Toàn tập, t.37. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.226.


8
cầu nội tâm, thành khát vọng khiến cho con người lao động hết mình, cống hiến
hết khả năng về sức lực, trí tuệ, thậm chí không tiếc máu xương sẵn sàng hy sinh
cho quê hương đất nước thì được gọi là chủ nghĩa yêu nước.
Chủ nghĩa yêu nước được phát triển trên nền tảng của lòng yêu nước.
Bắt nguồn từ lòng yêu thương gia đình, họ hàng, làng xóm, yêu quê hương đất
nước và lòng tự hào dân tộc, lòng yêu nước trở thành tình cảm đạo đức vừa sâu
sắc, vừa thiêng liêng đối với mỗi người dân. Lòng yêu nước của mỗi người dân
được biểu hiện ở xu hướng muốn đem toàn bộ trí tuệ, sức lực và cả tính mạng
của mình để phục vụ lợi ích của Tổ quốc.
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam luôn phải
liên tục chống thiên tai và đấu tranh với những kẻ địch mạnh hơn mình gấp nhiều
lần, do vậy đã hình thành một chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước của con
người Việt Nam đã được thử thách qua quá trình lịch sử. Chủ nghĩa yêu nước là
một trong nhiều yếu tố hợp thành bản sắc dân tộc, tạo thành sức mạnh Việt Nam.
Chủ nghĩa yêu nước là yếu tố cơ bản, là chuẩn mực cao quý thiêng liêng của đạo lý
dân tộc, là giá trị có ý nghĩa nền tảng vững chắc tạo nên sức mạnh truyền thống
đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam. Là “chủ nghĩa yêu nước”, “chủ nghĩa
dân tộc” hay “tinh thần yêu nước”, tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng theo GS
Trần Văn Giàu và nhiều nhà nghiên cứu khác, đa số họ cho rằng nên chọn “chủ

tộc Việt Nam, một nét độc đáo mang giá trị nhân văn cao cả. Truyền thống yêu
nước gắn liền với ý thức độc lập dân tộc đã hình thành và phát triển từ rất sớm.
Nó gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước, gắn liền với quá trình hình
thành và phát triển quốc gia dân tộc Việt Nam. Đồng chí Lê Duẩn đã viết: “Chủ
nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc là cái vốn quý nhất và là đặc điểm của dân
tộc Việt Nam ta trải qua mấy nghìn năm lịch sử. Chủ nghĩa yêu nước và tinh
thần dân tộc ấy đã hình thành trong nhân dân ta ngay từ khi dựng nước và phát
triển trong quá trình đấu tranh lâu dài chống ngoại xâm”3.
Yêu nước còn thể hiện ở lòng căm thù giặc sâu sắc, đức tính xả thân hy
sinh vì Tổ quốc, vì dân tộc và cuộc sống mọi người; lòng yêu nước đó không chỉ
biểu hiện bằng những tình cảm thiêng liêng mà còn được đúc kết thành lý luận
làm cơ sở vững chắc cho lòng tin của muôn người, muôn thế hệ, làm cơ sở thế
giới quan, phương pháp luận cho việc xây dựng sách lược đánh giặc, xây dựng và
phát triển đất nước.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một nét độc đáo của văn hóa Việt Nam,
có giá trị đích thực trong việc bồi dưỡng tâm hồn và nhân cách người Việt nam
yêu nước; nó đã ngầm sâu vào máu thịt của mỗi người dân - chiến sĩ, là nội lực để
tạo nên sức mạnh cộng đồng suốt mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước. Chủ
1
2
3

Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 171.
Trần Văn Giàu, Sự phát triển tư tưởng Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội, 1973, tập 1, tr.10.
Lê Duẩn, Giai cấp công nhân Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr.316.


10
nghĩa yêu nước đó đã, đang và ngày càng phát triển phong phú, tô đậm trang sử
vàng chói lọi của dân tộc. Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng dân tộc nào cũng

11
Chủ nghĩa yêu nước được hình thành, phát triển cùng lịch sử dân tộc, là
hằng tố xuyên suốt chiều dài lịch sử và kết thành nguyên khí quốc gia, mạch
sống trường tồn của dân tộc Việt Nam; là một tình cảm rất thiêng liêng, nó ăn
sâu bám rễ trong lòng dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử; là giá trị
thiêng liêng chung của toàn dân Việt Nam, của tất cả các dân tộc anh em, hiện
đang sống trên lãnh thổ Việt Nam, cũng như của những người Việt Nam đang
sống ở nước ngoài. Đó là điều kiện quyết định để hình thành những phẩm chất
tốt đẹp của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam như: tinh thần đoàn kết dân tộc, sự
chịu đựng gian khổ, hy sinh, đức tính kiên cường, dũng cảm, tự cường, tự hào,
tự tôn dân tộc, thông minh sáng tạo; lòng thương người sâu sắc và chủ nghĩa
nhân đạo cao cả đã được hun đúc, kết tinh tạo thành tâm hồn, cốt cách của con
người Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là cội nguồn của sức mạnh
dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Môi trường kinh tế, xã hội, chính
trị, văn hoá thay đổi theo lịch sử, cho nên chủ nghĩa yêu nước ở mỗi thời đại
khác nhau cũng có nội dung khác nhau, nó được quy định bởi những điều kiện
lịch sử - kinh tế - xã hội.
3. Một số yêu cầu cơ bản nhằm kế thừa và phát huy chủ nghĩa yêu
nước trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay
Để kế tục xứng đáng chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam trong mấy
nghìn năm dựng nước và giữ nước của cha ông, bồi dưỡng và phát huy chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh trong thời kỳ mới, chúng ta cần tiến hành
đồng bộ những chủ trương, giải pháp trên các lĩnh vực: chính trị - tư tưởng, kinh tế,
văn hoá, xã hội v.v. Trong tiểu luận này, tác giả xin đề xuất một số yêu cầu cơ bản,
cấp thiết sau:
Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được kết tinh từ trong lịch sử đấu tranh anh
dũng của dân tộc với bao giá trị đặc sắc là cội nguồn và là một trong nhưng nội
dung cốt lõi của sức mạnh truyền thống dân tộc Việt Nam; là đầu mối kết nối mỗi
người Việt Nam yêu nước, khơi dậy mạch nguồn của trí tuệ Việt Nam, tư tưởng,

tiên tiến, cách mạng của Đảng trong công tác tuyên truyền, giáo dục cho toàn
dân, toàn quân, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Từng bước
quán triệt sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý
tưởng, phương hướng, nội dung và phương pháp cách mạng của Đảng nhằm tạo
sự đồng thuận về tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, toàn xã hội. Luôn
kiên định con đường các mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Đó là điều kiện bảo đảm vững chắc cho dân tộc ta được sống trong độc lập, tự
do, ấm no và hạnh phúc; cũng là điều kiện để giữ gìn và phát huy chủ nghĩa yêu
nước.


13
Xây dựng Đảng thực sự trong sạch vững mạnh, thực sự “là đạo đức, là
văn minh”, là người đại biểu trung thành cho lợi ích và nguyện vọng của nhân
dân. Đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt định hướng
chính trị cho quá trình kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp của chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam trong điều kiện mới. Hai thành tựu lớn nhất của nhân loại là
độc lập cho mỗi dân tộc và tự do cho nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng và
Bác Hồ, nhân dân ta đều đã đạt được thông qua việc phát huy chủ nghĩa yêu
nước Việt Nam. Một khi chủ nghĩa yêu nước được phát huy trong nhân dân thì
sức mạnh tinh thần và vật chất của cả dân tộc sẽ được nhân lên gấp bội, tạo sức
mạnh vô địch để bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc và chế độ xã hội
chủ nghĩa của nhân dân.
Sự định hướng chính trị của Đảng thông qua ngọn cờ độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội nhằm phát triển nhân tố chính trị tinh thần của nhân dân là cơ
sở vững chắc đem lại sự thống nhất và sức mạnh toàn dân đoàn kết, nâng chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam lên một tầm cao mới – chủ nghĩa yêu nước thời đại
Hồ Chí Minh. Qua đó, chủ nghĩa yêu nước trở thành “thế trận lòng dân” vững
chắc của nền quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, tạo
thế và lực mới cho đất nước đi vào thế kỷ XXI.

Quan điểm kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt
Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chính là thể hiện sự nhận thức quy luật dựng
nước đi đôi với giữ nước của dân tộc trong thời kỳ lịch sử mới; quy luật xây
dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa theo lý
luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, quy luật đó được thể hiện ở hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ
nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đối với nước ta các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược "Diễn
biến hòa bình", bạo loạn lật đổ hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Hoạt động "Diễn
biến hòa bình" của các thế lực thù địch đối với Việt Nam là sự tiếp tục âm mưu
chiến lược cơ bản của chúng hòng tiêu diệt chủ nghĩa xã hội. Chúng sử dụng tổng
hợp các biện pháp và thủ đoạn tinh vi, thâm độc để chống phá Nhà nước Việt
Nam trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, răn đe
1

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.44-45.


15
quân sự... Các thế lực thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" đối với Việt Nam
trong bối cảnh nước ta đổi mới về kinh tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Đến nay, nền kinh tế của nước ta đã vượt qua thời kỳ suy giảm
và có sự phát triển tương đối toàn diện. Tuy nhiên, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh
tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tiềm ẩn, những biểu hiện
xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục. Các thế lực thù địch
đã và đang triệt để khoét sâu những khó khăn yếu kém của chúng ta để thực hiện
cho âm mưu chiến lược của chúng. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có thể
mất bằng nhiều cách, không nhất thiết bị đánh chiếm bằng quân sự. Vì vậy, bảo
vệ Tổ quốc không chỉ chống giặc ngoại xâm mà còn chống cả "thù trong" và

Trong thời kỳ mới, cần nhận thức một cách toàn diện và thấu đáo về mối
quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa phát triển kinh tế - xã hội với
củng cố quốc phòng, an ninh. Mục tiêu của sự kết hợp ấy là khai thác, sử dụng
có hiệu quả nguồn lực tổng hợp của quốc gia và chế độ nhằm bảo đảm cho kinh
tế - xã hội phát triển ổn định, nhanh và bền vững; xây dựng quốc phòng, an ninh
vững chắc; lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế
- xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ quốc. Sự kết hợp chặt chẽ giữa hai nhiệm vụ
chiến lược không chỉ trong nhận thức mà cả trong hành động, trong mỗi nhiệm
vụ, lĩnh vực, khu vực và địa bàn chiến lược nhất định mà xác định trong mọi chủ
thể, ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Vì vậy, phải kết hợp chặt chẽ giữa quân sự, quốc phòng với chính trị, kinh
tế, đối ngoại, khoa học, công nghệ, văn hóa, xã hội; xây dựng nền quốc phòng
toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; kết
hợp quốc phòng với an ninh và hoạt động đối ngoại.
Sự kết hợp giữa hai nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa hiện nay là sự vận dụng quy luật xây dựng và bảo vệ tổ quốc của Chủ
nghĩa Mác- Lênin, đồng thời là sự vận dụng và phát triển lên một tầm cao mới
truyền thống kinh nghiệm của dân tộc ta trong quá trình dựng nước và giữ nước
vào thời kỳ lịch sử mới của đất nước ta- thời kỳ cả nước đẩy mạnh công cuộc
đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ


17
nghĩa. Thời kỳ mới đòi hỏi phải có hệ thống tổ chức, đội ngũ cán bộ của Đảng,
Nhà nước trong sạch vững mạnh, có như vậy mới đảm bảo cho đất nước vừa
được xây dựng phát triển mạnh mẽ đồng thời được bảo vệ một cách vững chắc.
Ba là, Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng,
đoàn kết toàn dân, toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, trên lãnh thổ Việt Nam, suốt mấy
nghìn năm lịch sử, các dân tộc phải thường xuyên đối phó với thiên tai, địch họa

chăm lo xây dựng và bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nòng cốt là liên
minh của giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bồi đắp cơ sở xã hội sâu rộng và vững chắc của
chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Phải đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết trên tinh thần yêu nước Việt
Nam và tôn trọng những lợi ích chính đáng của Việt Nam. Muốn vậy, Đảng phải
có cương lĩnh, đường lối đúng đắn, có hình thức tổ chức và phương pháp xây
dựng và bảo vệ phù hợp để tập hợp và phát huy sức mạnh của quần chúng. Phải
đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân để phân tích đầy đủ thái độ
chính trị - xã hội của các giai tầng, phân biệt rõ đối tượng – đối tác, bạn – thù,
nhằm xây dựng và sắp xếp lực lượng cách mạng, không ngừng mở rộng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc. Nắm vững mục tiêu và nguyên tắc đoàn kết, xây dựng tinh
thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau trên cơ sở kết hợp hài hòa các lợi ích.
Phải tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng làm cơ sở cho đàn kết
toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế vững chắc. Đoàn kết cần dựa trên quan điểm của
chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh đường lối, chủ
trương chính sách và Điều lệ của Đảng để thống nhất nhận thức và hành động.
Đoàn kết thống nhất trong Đảng cần dựa trên cơ sở thực hiện nghiêm túc các
nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng.
Phải tăng cường đoàn kết quốc tế, mà trước tiên là đoàn kết trong phong
trào cộng sản. Mở rộng đoàn kết với phong trào cộng sản quốc tế là một nguyên
tắc chiến lược của cách mạng vô sản. Sự đoàn kết đó phải dựa trên cơ sở của
chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. Kiên quyết
đấu tranh với mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, chống chủ nghĩa cơ hội xét lại dưới
mọi màu sắc. Chống chủ nghĩa dân tộc nước lớn, chủ nghĩa xô vanh và tư tưởng
bành trướng dân tộc.


19
Trước đây trong chiến tranh giải phóng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc

động bởi nhà cầm quyền. Vì vậy, chủ nghĩa yêu nước thường bị liên hệ chặt chẽ
và đôi lúc dễ dàng bị thao túng bởi những ý đồ của các triều đại hoặc thể chế
đương thời. Trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, chủ
nghĩa yêu nước hay ái quốc thường đi đôi với trung quân. Nhưng khi các thế lực
cầm quyền tranh giành quyền lực thì chủ nghĩa yêu nước có thể bị các nhà cầm
quyền sử dụng phục vụ mục đích bá quyền nhiều hơn và vì dân tộc quốc gia.
Cũng vì thế mà chủ nghĩa yêu nước thường không thực sự phát huy được sức
mạnh vốn có của nó. Thậm chí có lúc bị hiểu lầm là chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ, cách mạng Việt Nam đi theo con
đường cách mạng. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam kết hợp với chủ


20
nghĩa Mác –Lênin, kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản của giai cấp công nhân,
làm cho nó trở nên trong sáng, chân chính hơn trong thời đại Hồ Chí Minh. Sự
trong sáng và chân chính đó đã giúp chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ
Chí Minh trở thành nguồn cội sức mạnh vô địch, mà không kẻ thù hùng mạnh nào
trên thế giới có thể khuất phục được. Sự kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản làm
cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trở nên mạnh mẽ hơn, không bó hẹp khép kín,
mà rộng mở, hòa chung dòng chảy tiến bộ của cách mạng thế giới, trở nên trường
tồn cùng thời gian.
Sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính Việt Nam với chủ nghĩa quốc
tế trong sáng của giai cấp công nhân đã tạo ra chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
thời đại Hồ Chí Minh. Để kế thừa và phát huy đầy đủ sức mạnh của chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, cần tăng cường giáo dục sâu rộng
chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh trong các tầng lớp nhân
dân, nhất là trong cán bộ, đảng viên, trong lực lượng vũ trang nhân dân và trong
thanh thiếu niên, định hướng giá trị cho sự phát triển những phẩm chất nhân
cách của con người Việt Nam đương đại.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh được định hướng và

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy cao độ truyền
thống đánh giặc giữ nước của dân tộc. Vận dụng sáng tạo học thuyết bảo vệ tổ
quốc của Chủ nghĩa Mác- Lênin vào thực tiễn nước ta, đề ra đường lối chiến tranh
nhân dân. Chiến tranh nhân dân do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo là
cuộc chiến tranh thực sự do dân, vì dân, toàn dân toàn diện phát triển lên đỉnh cao.
Nhờ có đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã động viên được ý chí độc lập tự chủ, tự lực tự cường của dân tộc, phát huy
được truyền thống “cả nước chung sức, toàn dân đánh giặc”, “lấy ít địch nhiều, lấy
nhỏ thắng lớn”… Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng ta
đã khai thác được sức mạnh tổng hợp từ tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự lực tự
cường của nhân dân ta, từ tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh chống xâm
lược, từ sức mạnh của cả dân tộc, của lực lượng vũ trang và của quần chúng nhân
dân với sức mạnh của thời đại; từng bước chuyển hóa tương quan lực lượng tạo lên
sức mạnh to lớn giành thắng lợi.
Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, hơn bao giờ hết chúng ta phải biết kế thừa, vận dụng và phát triển truyền
thống đánh giặc giữ nước của dân tộc cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Sức


22
mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sức mạnh của sự kết hợp sức
mạnh truyền thống và hiện đại, sức mạnh của ý chí độc lập tự chủ, tự lực tự cường
của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa ngày nay còn được tạo lên từ trong quan hệ hợp tác quốc tế, biết tranh
thủ vận hội thời cơ mới, trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền thống nhất
toàn vẹn lãnh thổ. Kết hợp phương thức truyền thống và hiện đại trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay đòi hỏi Đảng,
Nhà nước ta phải tiếp tục tổng kết kinh nghiệm đánh giặc giữ nước, kinh nghiệm
chỉ đạo chiến tranh, phát triển lý luận bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới.
Trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững

Đảng đã đề ra đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đường lối chiến
tranh nhân dân đúng đắn và sáng tạo dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng
Tám 1945 và hai cuộc kháng chiến giành độc lập thống nhất hoàn toàn.
Vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh, Đảng đã đề ra đường lối từng bước đưa đất nước quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của
Đảng là sự tổng kết sâu sắc thực tiễn cách mạng và là bước phát triển quan trọng
trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta.
Đảng lãnh đạo trước hết bằng đường lối chính trị. Đường lối chính trị
đúng đắn phản ánh trình độ trí tuệ, nhận thức và tư duy lý luận của Đảng, là
kết quả của tổng kết thực tiễn, phản ánh lợi ích của giai cấp công nhân, của
nhân dân lao động và toàn dân tộc. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng không
ngừng bổ sung, phát triển, cụ thể hoá đường lối nhằm đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn không ngừng phát triển và biến đổi. Trong lịch sử đấu tranh cách
mạng, Đảng ta thường xuyên biết tự phê bình và phê bình để kịp thời sửa
chữa những sai lầm, khuyết điểm, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, những
biểu hiện chệch hướng "tả", hữu, bảo đảm cho sự thống nhất về quan điểm
đường lối, về ý chí và hành động trong toàn Đảng. Bài học lớn là phải luôn
luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan,


24
kết hợp nhuần nhuyễn sự kiên định về nguyên tắc với sự linh hoạt sáng tạo về
phương pháp, đó là điều kiện cơ bản bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng. Bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí cũng như sự xa rời nguyên tắc và
mục tiêu cơ bản đều rất nguy hại cho Đảng, cho cách mạng.
Sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện thông qua vai trò và năng lực tổ
chức thực tiễn của cán bộ, đảng viên. Qua bao kinh nghiệm thực tiễn, Đảng ta
nhận thức sâu sắc rằng, sau khi đã có đường lối đúng thì cán bộ quyết định tất

Hiểu rõ các thời kỳ Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam với những
thắng lợi vẻ vang và những kinh nghiệm rất phong phú, sáng tạo của Đảng và
nhân dân ta; nhận thức sâu sắc những bài học lớn được Đảng tổng kết từ toàn
bộ quá trình lãnh đạo cách mạng cùng những giá trị truyền thống của Đảng để
vận dụng thích hợp và phát triển hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội theo đường lối đổi mới hiện nay - đó chính là yêu cầu và nội dung cơ
bản của môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

KẾT LUẬN
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được hình thành và hun đúc lên trong chính
quá trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm lịch sử của cha ông ta. Trong
những hoàn cảnh lịch sử - kinh tế - chính trị - văn hóa khác nhau, nội dung của chủ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status