LÝ THUYẾT KẾT HỢP BIỆN CHỨNG CÁC MẶT ĐỐI LẬP VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY - Pdf 35

Tiểu luận triết học

PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của tiểu luận
-

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay gọi là quy luật mâu thuẫn)
là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là hạt nhân của phép biện
chứng duy vật vì nó vạch ra nguồn gốc động lực của sự vận động phát triển của thế
giới khách quan: mọi sự vật và hiện tượng trong tự nhiên đều tồn tại và mâu thuẫn
bên trong. Do đó, nó chính là chìa khóa và cơ sở giúp chúng ta nẵm vững thực chất
của tất cả các quy luật và phạm trù của phép biện chứng duy vật.

-

Với mong muốn tìm hiểu thêm về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập, và xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của bản thân, học viên xin chọn tiểu luận “Lý
thuyết kế hợp biện chứng các mặt đối lập và sự vận dụng lý thuyết này trong việc
giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trong sự nghệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
hiện nay, cũng như trong công tác chuyên môn của bản thân”.
Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn của tiểu luận
Mục đích của tiểu luận:

-

Nắm vững quy luật này là cơ sở để hiểu biết tất cả các phạm trù và quy luật khác của
phép biện chứng duy vật. Nghiên cứu quy luật này giúp mọi người hình thành
phương pháp, hình thành tư duy khoa học, biết khám phá bản chất của các sự vật và
giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh, vận dụng để nhận biết các mâu thuẫn nảy sinh
trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc hiện nay để có những nhìn nhận đúng đắn và khách
quan về sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc do Đảng và Nhà nước lãnh đạo, từ đó

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

-

Những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

-

Những quan điểm của C. Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh, Đảng Cộng
sản Việt Nam về CNXH và con đường lên CNXH

Trang


Tiểu luận triết học

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NỘI DUNG QUY LUẬT MÂU THUẪN
VÀ TƯ TƯỞNG KẾT HỢP CÁC MẶT ĐỐI LẬP
1.
1.1. Định nghĩa
- Mâu thuẫn: là hiện tượng khách quan và phổ biến, chỉ mối liên hệ tác động qua lại
giữa các mặt đối lập trong cùng một sự vật.
Như vậy, mâu thuẫn là cái vốn có ở mọi sự vật hiện tượng. Khi sự vật hay hiện
tượng được hình thành và phát triển sẽ xuất hiện mâu thuẫn, là do cấu trúc tự nhiên
của sự vật quy định, không phụ thuộc vào bất kỳ một lực lượng siêu nhiên nào,
không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật
xuất hiện cho đến khi kết thúc, ở mọi không gian, thời gian, mọi giai đoạn phát triển.
Mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác được hình thành.
Trong những điều kiện cụ thể khác nhau, mâu thuẫn thể hiện ra dưới nhiều hình thức

thuẫn biện chứng cũ;
- Mâu thuẫn biện chứng là nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển xảy
ra trong thế giới vật chất. Vận động, phát triển mang tính tự thân.
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận – nguyên tắc phân tích mâu thuẫn
Trong hoạt động nhận thức, để hiểu đúng sự vật, thấy được nguồn gốc vận
động, phát triển (tức mâu thuẫn) của nó:
- Phân đôi sự vật thành các cặp mặt đối lập, khảo sát sự thống nhất và đấu tranh
của các mặt đối lập để phát hiện ra các mâu thuẫn biện chứng đang chi phối sự
vật đó.
- Phân loại và xác định đúng vai trò, giai đoạn tồn tại của từng mâu thuẫn biện
chứng (đặc biệt là mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn bên trong,…)
đang chi phối sự vận động, phát triển của bản thân sự vật.
- Phân tích kết cấu và điều kiện tồn tài của sự vật để xác định đúng quy mô và
phương thức giải quyết của từng mâu thuẫn biện chứng, dự đoán cái mới ra đời sẽ
vận động dưới sự tác động của những mâu thuẫn biện chứng nào.
Trong hoạt động thực tiễn, để đạt được hiệu quả phải:
- Hiểu rõ nguồn gốc, động lực thúc đẩy sự vận động, phát triển của bản thân sự vật là
những mâu thuẫn biện chứng; xác định đúng những mâu thuẫn biện chứng đang chi
phối sự vật để từ đó xây dựng các đối sách thích hợp.
- Tìm hiểu và sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp (mà trước hết
là những công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để can thiệp đúng lúc, đúng chỗ,
đúng mức độ và tiến trình vận động, phát triển của bản thân sự vật để lèo lái nó theo
đúng quy luật và hợp lợi ích của chúng ta.
1.4. Sự kết hợp các mặt đối lập
Trang


Tiểu luận triết học

- Theo tư tưởng của Mác – Lênin về sự kết hợp giữa các mặt đối lập của sự vật



Tiểu luận triết học

mặt đối lập, với những thỏa hiệp nhất định ở đây không phải là hoạt động
xóa bỏ nguyên tắc đấu tranh giữa các mặt đối lập. Đây chỉ là hoạt động đưa
cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập vào trong một hình thức cụ thể, có lợi
cho chủ thể mà thôi. Trong trường hợp giữa các mặt đối lập hoàn toàn không
có điểm chung, tương đồng, mâu thuẫn xã hội này hoàn toàn mang tính đối
kháng thì việc kết hợp không thể thực hiện được một cách đúng đắn và đem
lại hiệu quả mong muốn cho chủ thể.
o Thứ hai, việc kết hợp các mặt đối lập chỉ có thể thực hiện trong điều kiện
hoàn cảnh thuận lợi (bao gồm cả điều kiện trong nước và Quốc tế). Cụ thể
đó phải là những điều kiện hoàn cảnh cho phép chủ thể thực hiện được việc
kết hợp theo mong muốn. Thậm chí đó còn là những điều kiện hoàn cảnh
như một đòi hỏi tất yếu khách quan, buộc chủ thể phải thiến hành giải quyết
mâu thuẫn bằng phương thức kết hợp này. Chẳng hạn, những biến đổi về
kinh tế quốc tế hiện nay, về sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ hiện nay… là những điều kiện khách quan cho phép
chủ thể hoạt động có thể thực hiện sự kết hợp các mặt đối lập.
o Thứ ba, về mặt chủ quan, việc kết hợp các mặt đối lập chỉ thực hiện được và
đạt kết quả mong muốn khi chủ thể có đủ năng lực và bản lĩnh chính trị cần
thiết đáp ứng được yêu cầu của sự kết hợp này. Đòi hỏi chủ thể ở đây phải
có đủ khả năng sớm nắm bắt được yêu cầu khách quan cũng như thời cơ
thuận lợi của việc kết hợp, từ đó tiến hành tổ chức kết hợp một cách khéo
léo, khoa học nhằm hướng có lợi cho chủ thể. Có thể khẳng định, trong
chừng mực nào đó, vai trò của chủ thể trong việc kết hợp các mặt đối lập ở
đây là có ý nghĩa quyết định.
o Thứ tư, việc kế hợp các mặt đối lập đó phải thể hiện được tính định hướng rõ
rang, phải góp phần thúc đầy sự phát triển xủa xã hội.

Tiểu luận triết học

không nhận thức đượ tính tất yếu và vai trò tích cực của kinh tế thị trường đối với
quá trình đi lên CNXH ở nước ta, dẫn tới phủ định kinh tế thị trường, duy trì quá lâu
kinh tế tập trung kế hoạch hóa cao độ. Hậu quả là cuộc khủng hoảng kinh tế đầu
những năm 80 của thế kỷ XX. Trí tuệ, kinh tế đất nước ngày một đi xuống. Chính sự
nhận thức sai lầm trong chính sách đổi mới kinh tế đã không tạo ra được sức mạnh
tổng hợp thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước mà đưa nước ta rơi vào tình trạng
lạc hậu, gia tăng khoảng cách với các nước trong khu vực và trên thế giới.
- Hiểu được sai lầm đó, năm 1986 Đảng đã đề ra chính sách kinh tế mới với mục tiêu
công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đưa đất nước thoát khỏi trì trệ một cách
nhanh chóng đồng thời đẩy mạnh quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội. Cụ thể, chúng ta
đã biết vận dụng ngày càng tốt hơn tư tưởng biện chứng của V.I.Lênin về sự kêt hợp
các mặt đối lập như sau:
o Thứ nhất, kết hợp nền kinh tế XHCN và phi XHCN trong một nền kinh tế
nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường định hướng XHCN. Trong
đó, một mặt chúng ta khẳng định vai trò tích cực của nền kinh tế phi XHCN,
song mặt khác chúng ta cũng nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế XHCN
với tư cách là nhân tố quyết định tính chất XHCN của nền kinh tế quốc dân
o Thứ hai, kết hợp giữa công tác kế hoạch hóa nhà nước với sự điều tiết của thị
trường hàng hóa. Chúng ta nhận thức rằng, nếu chỉ thực hiên kế hoạch hóa
mà không chấp nhận sự diều tiết của thị trường hàng hóa thì không vận dụng
hết sự năng độngcủa nền kinh tế thị trường. Song nếu chỉ dựa và sự điều tiết
của nền kinh tế thị trường thì sẽ đưa nền kinh tế nước ta đi chệch hướng. Do
đó, việc kết hợp giữa công tác kế hoạch hóa và điều tiết thị trường là điều
cần thiết, đảm bảo cho nền kinh tế vừa phát triển năng động, kích thích tăng
trưởng kinh tế nhanh, vừa phát triển theo định hướng XHCN
- Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã khẳng định vai trò chủ đạo của nền kinh tế Nhà
nước, song mặt khác cũng khẳng định vai trò của các nền kinh tế khác. Mặc dù thừa
nhận nền kinh tế tư nhân, song nước ta là nước XHCN nên Đảng đã rất khôn khéo

Muốn vậy, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, phải xây dựng cho
được một nền kinh tế độc lập tự chủ, phải gắn quá trình hội nhập với việc xây dựng
nền kinh tế độc lập tự chủ.
- Việc thực hiện, phát triển kinh tế tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức, đặc biệt là
liên doanh, liên kết kinh tế giữa Nhà nước với tư bản nước ngoài sẽ cho phép động
viên, khai thác được khả năng to lớn về vốn, công nghệ tiên tiến và khoa học hiệu
quả kinh tế cao của các nhà kinh tế tư bản nước ngoài, vì lợi ích chiến lược, lâu dài
của CNXH. Điều đó đã được phản ánh qua các kì đại hội VI, VII, VIII, IX. Chính
Trang


Tiểu luận triết học

chủ trương kết hợp các mặt đối lập về sự vận động và phát triển kinh tế cho thấy
được sự sáng suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng ,thúc đẩy nền kinh tế nước ta
phát triển năng động hơn,đẩy mạnh công cuộc Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất
nước. “Hòa nhập chứ không Hòa tan !”
- Chủ trương đổi mới kinh tế trên tinh thần kết hợp biện chứng, có nguyên tắc định
hướng XHCN của Đảng ta vừa là sự vận dụng sáng tạo tinh thần biện chứng lại vừa
đáp ứng đòi hỏi to lớn của sự phát triển nền kinh tế hiện đại. Minh chứng cho chính
sách đổi mới của Đảng thể hiện qua nền KTXH qua các kì Đại hội toàn quốc. Nền
kinh tế nước ta đã có những biểu hiện khả quan sau đầu Đại hội nhiệm kì Đại hội X:
kinh tế ổn định, duy trì tốc độ tăng trưởng tương đối cao (7,6%năm), GDP tăng từ
53 tỉ USD lên 89 tỉ USD (2005–2008), vốn đầu tư nước ngoài cao (62 tỉ USD ) thể
chế kinh tế thị trường định hướng XHCN tiếp tục hoàn thiện. Nhờ vận dụng kết hợp
các mặt đối lập làm nền kinh tế xã hội hội nhập vào trường quốc tế, ngày
25/07/1995, nước ta chính thức gia nhập ASEAN. Tháng 11/1998, nước ta chính
thức được công nhận là thành viên của diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình
Dương . Đồng thời, ngày 7/11/2006 nước ta gia nhập WTO, và gần đây nhất là sự
kiện Việt Nam tham gia đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình dương

cô lập các phần tử, thế lực ngoan cố chống phá Việt Nam; lấy việc giáo dục, thuyết
phục, phòng ngừa là chính, đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, xử lý nghiêm
minh hành vi vi phạm pháp luật; chủ động đấu tranh với các âm mưu, hoạt động
"diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch, không để hình thành tổ chức chính trị
đối lập dưới bất kỳ hình thức nào...
- Mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã được Đảng ta nhìn
nhận toàn diện và sâu sắc hơn. Mục tiêu kết hợp giữa hai nhiệm vụ chiến lược là
phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính
trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng; là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại, giữa quốc phòng với an ninh, kinh tế, đối ngoại và các lĩnh vực khác, bảo đảm
kinh tế xã hội phát triển ổn định, bền vững; quốc phòng, an ninh được tăng cường.
Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội là nền tảng vững
chắc của quốc phòng-an ninh. Phát triển kinh tế-xã hội đi đôi với tăng cường sức
mạnh quốc phòng, an ninh; bảo đảm quốc phòng, an ninh trở thành một trong những
mục tiêu trọng yếu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội; kinh tế phát triển, các
vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết, đời sống nhân dân không ngừng được nâng
cao, thực hiện tốt công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh được bảo đảm, đối ngoại
được mở rộng sẽ tạo ra sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn, mạnh mẽ để xây dựng
và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Trang 11


Tiểu luận triết học

- Phương thức kết hợp giữa hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng được đổi
mới và hoàn thiện theo hướng chủ động gắn kết xây dựng với tự bảo vệ; kết hợp
theo quy hoạch, kế hoạch của từng địa phương, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung
thống nhất của Trung ương; kết hợp theo khu vực, vùng lãnh thổ, ngành, lĩnh vực
kinh tế-xã hội trên phạm vi toàn quốc; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo
đảm quốc phòng, an ninh trong các dự án đầu tư, quy hoạch phát triển các vùng, các

khoảng thời gian trở lại đây đã phát triển một cách nhanh chóng và mạnh mẽ, thể
hiện được sự tăng trưởng của nền kinh tế nước nhà.
- Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đó, đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn trong ngành nghề
nói chung và bản thân người kỹ sư – kiến trúc sư nói riêng. Là một người kỹ sư, tôi
quan niệm nếu kiến trúc sư được xem là linh hồn của công trình thì người kỹ sư
được ví von như thể xác chứa đựng linh hồn đó, thể xác có khỏe, có bền vững và đủ
sức sống thì mới có thể có được một linh hồn đẹp, hoàn mỹ. Người kỹ sư đứng trước
yêu cầu ngành nghề đó, dù muốn hay không, càng sớm càng tốt ngày càng phải nâng
cao chất lượng tay nghê của mình. Do đó, giải quyết được những mâu thuẫn nảy
sinh trong công tác xây dựng chính là tạo động lực cho sự phát triển trình độ tay
nghề một cách chất lượng và đúng đắn, chuẩn mực mà không làm mất đi các giá trị
sống, đạo đức nghề nghiệp theo thị trường thời bấy giờ.
3.2. Vận dụng giải quyết các mâu thuẫn trong chuyên môn
- Ngành nghề kỹ sư xây dựng là một ngành nghê đặc thù, tùy theo từng bộ phận mà
có môi trường làm việc cùng các mẫu thuẫn nảy sinh khác nhau. Bản thân tôi là một
kỹ sư, làm việc ở vị trí nhà thầu thi công gặp không ít mâu thuẫn nảy sinh trong
công việc, mà thường xuyên nhất là mẫu thuẫn giữa yếu tố chất lượng kỹ thuật công
trình và lợi ích kinh tế của chủ đầu tư.
- Trong hoạt động xây dựng, chất lượng kỹ thuật công trình chịu tác động từ nhiều
yếu tố, như năng lực của chủ đầu tư, năng lực tư vấn thiết kế và giám sát, năng lực
nhà thầu, điều kiện thi công, điều kiện khoa học kỹ thuật và công nghệ… nhưng phụ
thuộc nhất vẫn là chi phí đầu tư. Chi phí đầu tư được huy động từ nhiều nguồn vốn
khác nhau, như nguồn vốn từ Nhà nước, nước ngoài, tư nhân, các nhân, tập thể ….
với các hình thức khác nhau, rồi dùng nguồn vốn huy động đó để xây dựng công
trình. Trong quá trình xây dựng và huy động vốn, chủ đầu tư (có thể hiểu là cá nhân
hay tập thể đứng ra chịu trách nhiệm đầu tư xây dựng công trình) sẽ thu lợi nhuận
sau khi đã trừ đi chi phí thi công xây dựng và khoản huy động vốn. Giá trị tạo ra
chính là giá trị thặng dư do hoạt động tư vấn, thiết kế và xây dựng tạo nên. Chất
lượng công trình càng cao thì chi phí xây dựng càng lớn, kéo theo chi phí đầu tư lớn,
dự án sẽ gặp nhiều rủi ro và khó khăn về thu hút vốn đầu tư, dẫn đến không khả thi.

mà còn phải cải tiến về vật liệu, phương tiện thi công ( cơ giới hóa, tự động hóa theo
quy trình), tạo áp lực để cho ngành kỹ thuật xây dựng phát triển không ngừng với
những phát kiến mới, vừa đảm bảo chất lượng mà giá thành vừa phải, đáp ứng được
nhu cầu của khách hang và người đầu tư.
3.3. Kết luận
- Tóm lại, trong quá trình làm việc, không nhiều thì ít, sẽ có những lúc nảy
sinh những mâu thuẫn. Việc nắm vững lý thuyết kết hợp biện chứng các mặt đối lập
Trang 14


Tiểu luận triết học

sẽ giúp chúng ta biết được cách thức để nhìn nhận, đánh giá và giải quyết những
mâu thuẫn này một cách hợp lý nhất.

Mục lục.

Trang 15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status