Header Page 1 of 146.
Bộ công thơng
trung tâm thông tin khkt hóa chất
báo cáo tổng kết đề tài kh&cn cấp bộ
khảo sát đánh giá thực trạng về chuyển
giao công nghệ và đề xuất các giải pháp
thúc đẩy chuyển giao công nghệ
trong ngành hoá chất và dầu khí phù hợp
với điều kiện việt nam
chủ nhiệm đề tài: ts. trần kim tiến
7073
04/01/2009
Hà nội - 2008
Footer Page 1 of 146.
Header Page 2 of 146.
Tổng công ty hóa chất việt nam
Trung tâm Thông tin KHKT Hóa chất
_____________________________________________________
Báo cáo đề tài cấp Bộ năm 2008
Khảo sát, đánh giá thực trạng về chuyển
giao công nghệ và đề xuất các giải pháp
Họ và tên
Học vị
Cơ quan công tác
1
Nguyễn Ngọc Sơn
KS
Trung tâm Thông tin KHKT HC
2
Đặng Hoàng Anh
KS
- nt-
3
Vũ Quang Trinh
TS
Công ty TPC Vina
5
II. Tổng Quan
7
II.1. Cơ sở pháp lý và và giới hạn Đề tài
7
II.2. Các văn bản pháp quy của Việt Nam về vấn đề cGCN
7
II.3. Tình hình phát triển của CNHC và CNDK tại Việt Nam
8
II.3.1. Tình hình phát triển của CNHC tại Việt Nam
II.3.1.1. Vài nét về lịch sử
8
8
II.3.1.2. Hiện trạng phát triển CNHC
18
II.3.1.3. Định hớng và triển vọng phát triển CNHC
45
III.2.1. Tình hình phát triển công nghệ sản xuất trong CNHC
45
III.2.2. Đánh giá hiện trạng công nghệ một số ngành sản xuất chính
trong CNHC
56
III.2.2.1. Nhóm công nghệ sản xuất phân bón
57
III.2.2.2. Nhóm công nghệ sản xuất thuốc BVTV
58
III.2.2.3. Nhóm công nghệ sản xuất các sản phẩm cao su
59
III.2.2.4. Nhóm công nghệ sản xuất hóa chất cơ bản
59
III.2.2.5. Nhóm công nghệ sản xuất các sản phẩm điện hóa
61
65
III.3.2. Phát triển công nghệ lọc- hóa dầu
66
III.3.3. Đánh giá hiện trạng phát triển công nghệ một số ngành sản xuất
chính trong CNDK
68
III.3.3.1. Công nghệ thăm dò và khai thác dầu khí
68
III.3.3.2. Công nghệ chế biến dầu khí
69
III.4. đặc điểm chuyển giao công nghệ trong cNHC và
CNDK ở nớc ta
69
III.4.1. Trong CNHC
69
III.4.2. Trong CNDK
79
4
Footer Page 5 of 146.
Header Page 6 of 146.
I. Mở đầu
Là một nớc đang phát triển, nhất làphải trải qua một thời gian dài chiến
tranh, nên trình độ công nghệ của các ngành sản xuất công nghiệp, trong đó có
Công nghiệp Hóa chất (CNHC) và Công nghiệp Dầu khí (CNDK) ở nớc ta nhìn
chung đều tơng đối thấp.
CNHC nớc ta ra đời đã trên 50 năm, từ một nền công nghệ sản xuất ban
đầu hết sức thô sơ, lạc hậu. Sau hòa bình lập lại, miền Bắc phát triển theo định
hớng lối xã hội chủ nghĩa (XHCN) với sự giúp đỡ của các nớc XHCN anh em
nên CNHC có điều kiện để phát triển cả về quy mô sản xuất và trình độ công
nghệ. Tuy nhiên trong thời gian chiến tranh phá hoại của Mỹ, nhiều cơ sở công
nghiệp, trong đó có các cơ sở sản xuất thuộc CNHC lại bị tàn phá nặng nề.
CNDK Việt Nam là ngành đợc đặt nền móng v phát triển tơng đối muộn
hơn. từ khi Đoàn Địa chất 36 thuộc Tổng cục Địa chất đợc thành lập (năm
1961) để thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, thăm dò dầu khí tại Việt Nam. Song
ngành này cũng bị đình trên trong thời gian chiến tranh.
Chỉ sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nớc, CNHC và CNDK
Việt Nam mới có cơ hội phát triển mạnh.
Tuy nhiên sự trì trệ trong t duy bao cấp và trong cách thực hiện phát triển
sản xuất kém hiệu quả vào những năm đầu thập kỷ 80 của Thế kỷ trớc, các
ngành sản xuất công nghiệp nớc ta, trong đó có CNHC và CNDK, đã trải qua
một thời kỳ khó khăn với nhiều thách thức lớn.
Chỉ từ năm 1986 trở đi, khi cả nớc thực hiện đờng lối đổi mới và phát
nhận thức về hội nhập của doanh nghiệp cha đầy đủ, trình độ của đội ngũ cán
bộ quản lý và ngời lao động trong doanh nghiệp còn thấp, thiếu vốn cho đổi
mới công nghệ và nội dung về đổi mới công nghệ còn cha rõ ràng. Vì hạn chế
trong đổi mới công nghệ/thiết bị của doanh nghiệp đã dẫn đến tình trạng thiết
bị/công nghệ lạc hậu. Hậu quả là sản phẩm kém đa dạng, tiêu tốn nguyên liệu,
gây ô nhiễm môi trờng và ảnh hởng đến sức khỏe cộng đồng. Một trong những
nguyên nhân hạn chế quá trình đổi mới và phát triển công nghệ là có những bất
cập về chuyển giao công nghệ ( CGCN).
Để bớc đầu có cái nhìn tổng thể về tình hình phát triển và CGCN sản xuất
của CNHC và CNDK nớc ta, Đề tài cấp Bộ Khảo sát, đánh giá thực trạng về
chuyển giao công nghệ và đề xuất các giải pháp thúc đẩy trong chuyển giao
công nghệ trong ngành công nghiệp hóa chất và dầu khí phù hợp với điều kiện
Việt Nam đợc đặt ra với mục tiêu nghiên cứu và đa ra một số thông tin liên
quan đến vấn đề CGCN sản xuất thuộc các ngành công nghiệp đã nêu, đồng thời
có các đề xuất liên quan nhằm thúc đẩy và phát triển CGCN.
Đề tài đợc thực hiện theo các phơng pháp sau:
- Thu thập cơ sở dữ liệu (CSDL) về tình hình phát triển sản xuất của các
doanh nghiệp thuộc CNHC và CNDK ở nớc ta.
- Thu thập CSDL về tình hình hình áp dụng công nghệ và CGCN trong sản
xuất của các doanh nghiệp thuộc CNHC và CNDK ở nớc ta.
- Thu thập CSDL về các văn bản pháp quy liên quan đến CGCN.
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp để thúc đẩy công tác CGCN.
6
Footer Page 7 of 146.
Header Page 8 of 146.
II. Tổng Quan
II.1. Cơ sở pháp lý và và giới hạn Đề tài
7
Footer Page 8 of 146.
Header Page 9 of 146.
BKHCNMT) do Bộ Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng ban hành ngày 1
tháng 10 năm 1999
5/ NGHị ĐịNH Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
quản lý nhà nớc về chuyển giao công nghệ (Số: 16/2000/NĐ-CP) do Chính
phủ ban hành ngày 10 tháng 5 năm 2000
6/ LuậT Chuyển giao công nghệ (Số: 80/2006/QH11) do Quốc hội Nớc
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006
II.3. Tình hình phát triển của CNHC và CNDK tại Việt Nam
II.3.1. Tình hình phát triển của CNHC tại Việt Nam
II.3.1.1. Vài nét về lịch sử
Sự ra đời và phát triển của CNHC trớc năm 1960
CNHC nớc ta đã đợc hình thành từ trong cuộc trờng kỳ kháng chiến
chống Pháp với nhiều thành tích trong sản xuất các loại hóa chất, vật liệu phục
chiến đấu và sản xuất.
Trong thời kỳ này, CNHC hoạt động dới dạng các công binh xởng, các xí
nghiệp sản xuất nhỏ tại các địa phơng hoặc tại an toàn khu (ATK) Việt Bắc và
phục vụ nhu cầu kháng chiến với 3 mục tiêu quan trọng (quốc phòng, nông
nghiệp và dân sinh). Sản phẩm sản xuất bao gồm thuốc nổ, ngòi nổ và các hóa
chất liên quan (axit sunfuric, than cốc, phốt phát nghiền, v.v...) cùng một số mặt
hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ bộ đội và nhân dân nh xà phòng, diêm, thuốc
đánh răng, quặng phốt phát nghiền, giấy, mực in, v.v...
Ngay sau ngày hòa bình lập lại (năm 1954), CNHC chỉ bao gồm một số ít
ỏi các cơ sở rất lạc hậu, trong đó có 6 xí nghiệp quốc doanh sản xuất xi măng và
nghìn tấn.
Đặc biệt cuối thời kỳ này, CNHC đã bắt đầu đa ra thị trờng hai mặt hàng
tiêu dùng mới, đó là săm lốp xe đạp, đồ dùng bằng nhựa và thuốc trừ sâu.
Đặc điển của CNHC thời kỳ này là bên cạnh vai trò chủ đạo của các cơ sở
quốc doanh trung ơng đợc khôi phục hoặc thành lập mới, thì CNHC tại các địa
phơng cũng có một vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu sản xuất
các nhu yếu phẩm phục vụ nhân dân (xà phòng, thuốc đánh răng, sơn) và tham
gia phục vụ nông nghiệp. Hàng chục tấn thuốc trừ sâu đầu tiên là do công nghiệp
địa phơng sản xuất ngay từ năm 1960.
Ngoài sản xuất, khu vực nghiên cứu cũng đợc hình thành. Trong ngành có
một cơ quan nghiên cứu khoa học công nghệ là Viện Hoá học Công nghiệp đã
đợc thành lập năm 1955.
Từ năm 1960, một số cơ sở nghiên cứu và sản xuất thuộc CNHC đợc khôi
phục hoạt động hoặc thành lập mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế 5 năm lần
thứ nhất ở miền Bắc.
Thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965)
Trong kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), CNHC đã có bớc
phát triển mạnh. Lúc này nhiều nhà máy mới trong ngành đã bắt đầu đợc xây
dựng và đi vào sản xuất trên cơ sở công nghệ sản xuất luôn đi kèm với thiết bị do
các nớc trong phe XHCN anh em viện trợ. Trong kỳ đã hình thành 3 khu CNHC
tập trung ở các khu vực : Hà Nội, Phú Thọ (Việt Trì, Lâm Thao) và Hải Phòng và
9
Footer Page 10 of 146.
Header Page 11 of 146.
đây chính là cơ sở để phát triển sản xuất tập trung các sản phẩm của ngành
CNHC sau này. Tại các khu công nghiệp trên, hàng loạt nhà máy lớn của CNHC
đã đợc đầu t xây dựng nh : Nhà máy Hoá chất Việt Trì (Phú Thọ, năm 1961),
Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, mặc dù chịu nhiều tổn thất do chiến
tranh phá hoại của Mỹ, nhng CNHC và vật liệu xây dựng vẫn tiếp tục phát triển
với cơ cấu ngành có nhiều thay đổi. Lĩnh vực sản xuất và số ngành hàng tăng
10
Footer Page 11 of 146.
Header Page 12 of 146.
nhanh. Trong kỳ, trong CNHC đã hình thành một số ngành hàng chuyên biệt nh
hóa chất vô cơ cơ bản, phân bón, và nguồn điện hoá, v.v...
Thời kỳ 10 năm chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ (1965 1975)
Trong thời kỳ này, miền Bắc nớc ta phải trải qua hai lần bị bom Mỹ đánh
phá nặng nề. Đây cũng là thời kỳ CNHC có một bớc biến chuyển mới : Ngày
19 tháng 8 năm 1969 Nhà nớc đã quyết định thành lập Tổng cục Hóa chất trực
thuộc Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ), đồng thời đây cũng là thời kỳ mà
các cơ sở CNHC miền Bắc phải vừa chiến đấu vừa sản xuất. Mặc dù gặp rất
nhiều khó khăn do hai cuộc chiến tranh phá hoại gây ra, nhng nhìn chung
CNHC vẫn bảo đảm có tốc độ tăng trởng. Giá trị tổng sản lợng năm 1975 tăng
gấp 1,65 lần so với năm 1965.
Trong kỳ, trừ Nhà máy Que hàn điện Việt Đức tại Thờng Tín (Hà Tây
trớc đây) đợc xây dựng mới vào năm 1967, Nhà máy Sơn tổng hợp Hà Nội vào
năm 1971 và Nhà máy Phân đạm Hà Bắc (đạt công suất 100 nghìn tấn urê/năm)
đợc khôi phục hoạt động vào các năm 1973-1977, v.v..., CNHC hầu nh không
có thêm cơ sở đầu t mới nào. Lúc này cán bộ công nhân viên (CBCNV) trong
ngành chủ yếu tập trung sửa chữa, hoặc di dời (sơ tán) các cơ sở sản xuất để đảm
bảo duy trì sản xuất phục vụ chiến đấu và đời sống nhân dân. Sản phẩm quan
trọng nhất trong thời kỳ này là các loại phân lân chế biến.
Ngoài sản xuất, khu vực nghiên cứu thiết kế phục vụ CNHC cũng đợc hình
thành, trong đó có Viện Thiết kế Hoá chất đợc thành lập năm 1967.
nghiệp miền Nam khi đó và tập trung vào các sản phẩm tiêu dùng nh: sản xuất
phân bón (phốtphorit nghiền, phân trộn), sản xuất hóa chất (axit sunfuric, phèn
nhôm), sản xuất sản phẩm cao su (săm lốp xe đạp và xe máy), sản xuất nguồn
điện (pin, ắc quy), sản xuất các chất giặt rửa và mỹ phẩm (thuốc đánh răng, xà
phòng, bột giặt và mỹ phẩm), sản xuất vật liệu (sơn, que hàn, oxy...) và gia công
hàng nhựa (chất dẻo), v.v... Trong đó, nhiều nhóm ngành hàng có mức phát triển
với trình độ công nghệ khá, tơng đơng sự phát triển cùng kỳ của khu vực (nhất
là nhóm gia công hàng chất dẻo), nhng lĩnh vực sản xuất phân bón lại có công
nghệ lạc hậu và phát triển chậm.
Trong thời kỳ này trong CNHC, một mặt Nhà nớc ta thực hiện cải tạo công
thơng nghiệp miền Nam, sáp nhập nhiều cơ sở sản xuất nhỏ thành các công ty
sở hữu Nhà nớc lớn hơn, mặt khác thành lập nhiều công ty mới thuộc những
phân ngành thuộc quyền quản lý của Tổng cục Hóa chất.Tại miền Bắc, nhiều
nhà máy hoá chất cũng đợc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng mới. Đặc biệt, để
thực hiện mục tiêu 1,3 triệu tấn phân hóa học theo kế hoạch 5 năm, trong kỳ
Tổng cục Hóa chất đã nhanh chóng xây dựng nhiều cơ sở nghiền apatit để dùng
trực tiếp làm phân bón. Kết quả là từ năm 1976 đến 1980, số xí nghiệp do Tổng
cục Hóa chất quản lý đã tăng từ 71 lên 111.
Cuối giai đoạn này, Liên Xô cũng viện trợ xây dựng Nhà máy Tuyển quặng
apatit tại Tằng Loỏng (Lào Cai) để thu hồi tinh quặng apatit từ quặng apatit loại
3. Ngoài ra, Nhà máy Phân lân Ninh Bình đợc đầu t xây dựng và đi vào sản
xuất (năm 1977). Tuy nhiên, do tình hình thế giới và khu vực phức tạp, bên cạnh
việc Mỹ và một số nớc phơng Tây thi hành chính sách cấm vận đối với nớc
ta, còn xảy ra chiến tranh biên giới phía Bắc.
12
Footer Page 13 of 146.
Header Page 14 of 146.
lợng của một số ngành hàng trong CNHC đã bị ảnh hởng. Tuy nhiên khu vực
quốc doanh, chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc Tổng cục Hóa chất, đã nhanh
chóng vợt qua nhiều thử thách và vẫn giữ đợc vai trò chỉ đạo trong quá trình
phát triển chung của CNHC.
Thời kỳ kế hoạch 5 năm 1991 1995
Có thể nói kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 là kỳ kế hoạch đầu tiên mà sản xuất
của CNHC đợc thực hiện theo cơ chế kế hoạch hóa có tính định hớng, trong
13
Footer Page 14 of 146.
Header Page 15 of 146.
đó quyền tự chủ sản xuất kinh doanh (SXKD) đợc giao cho các doanh nghiệp,
ngoại trừ một số sản phẩm đặc biệt trong ngành sản xuất phân bón là đợc giao
theo chỉ tiêu pháp lệnh.
Bớc vào kỳ kế hoạch này về tổ chức cũng có một số thay đổi: Bộ Công
nghiệp nặng đợc thành lập lại; Tổng cục Hóa chất chấm dứt sự tồn tại và trên cơ
sở cơ chế quản lý mới, Nhà nớc đã thành lập 2 Tổng Công ty quản lý các doanh
nghiệp thuộc Tổng cục Hóa chất trớc đây: 1/ Tổng Công ty Phân bón và Hóa
chất Cơ bản; 2/ Tổng Công ty Hóa chất Công nghiệp và Hóa chất Tiêu dùng.
Trong thời kỳ này, CNHC đã đạt tốc độ tăng trởng rất cao, bình quân hàng năm
đạt mức gần 20% (cao hơn tốc độ tăng trởng bình quân toàn ngành Công
nghiệp) trong suốt kỳ kế hoạch.
Trong nửa đầu thập kỷ 1990, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
thuộc lĩnh vực CNHC phát triển nhanh. Đã xuất hiện những công ty liên doanh
sản xuất chất tẩy rửa nh P&G Việt Nam, Unilever Haso, Unilever Viso, hoặc
các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài hoạt động trong lĩnh vực sản xuất
hóa chất, ắc quy, sơn, v.vvới các đối tác nớc ngoài là những tập đoàn xuyên
quốc gia mạnh trên thế giới. Trong những lĩnh vực này, các xí nghiệp quốc
VINACHEM đã đề ra các mục tiêu chiến lợc:
- Phát triển sản xuất trên cơ sở tích cực đổi mới công nghệ nhằm giảm tiêu
hao nguyên vật liệu, năng lợng, nâng cao chất lợng, hạ giá thành, bảo đảm sức
cạnh tranh trên thị trờng trong nớc và đẩy mạnh xuất khẩu.
- Tập trung vào những lĩnh vực có tính chất then chốt với nền kinh tế quốc
dân, bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc, đó là: 1/ Sản xuất các hóa
chất và sản phẩm phục vụ nông nghiệp; 2/ Sản xuất sản phẩm cao su; 3/ Sản
xuất các hóa chất cơ bản.
- Xây dựng chiến lợng dài hạn đến năm 2010 có tính đến năm 2020.
Liên tục trong những năm sau ngày thành lập, trừ một số năm có khó khăn
đặc biệt về thời tiết hoặc khủng hoảng kinh tế của khu vực, tốc độ tăng trởng
hàng năm của VINACHEM đều đạt khá (11-16%), thuộc loại cao trong toàn
ngành công nghiệp. Trong quá trình phát triển, Tổng Công ty đã thực hiện những
giải pháp có tính chiến lợc quan trọng:
Một là lấy thị trờng trong nớc làm mục tiêu phục vụ chủ yếu, đồng thời
chú trọng đẩy mạnh thị trờng xuất khẩu, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và
thế giới.
Hai là trên cơ sở nắm vững thông tin về thị trờng, đánh giá đúng chu kỳ
của sản phẩm và dự báo chính xác xu thế thị trờng, tiến hành đầu t chiều sâu,
tập trung và dứt điểm cho các dự án u tiên.
Ba là lấy việc đổi mới công nghệ làm nền tảng cho sự phát triển của doanh
nghiệp.
Bốn là sự chỉ đạo tập trung của Tổng Công ty và sự phối hợp, giúp đỡ lẫn
nhau giữa các đơn vị thành viên tạo nên sức mạnh tổng hợp để toàn Tổng Công
ty đủ sức cạnh tranh trên thị trờng.
VINACHEM đã xác định phát triển một số ngành hàng quan trọng nhất
gồm: phân bón, thuốc BVTV, sản phẩm cao su và hóa chất cơ bản. Ngoài ra, các
sản phẩm nh nguồn điện (pin, ắc quy), khai khoáng (chủ yếu là khai thác và chế
biến quặng apatit phục vụ sản xuất phân bón), chất giặt rửa, vật liệu hàn, v.v...
cũng đợc chú ý phát triển.
Đình Vũ (Hải Phòng) do Tổng Công ty làm chủ đầu t cũng đang trong quá trình
hoàn thiện. Dự kiến đầu năm 2009 Nhà máy sẽ đi vào hoạt động.
Đồng thời với việc mở rộng, nâng công suất các nhà máy phân bón, Tổng
Công ty đã chỉ đạo và tổ chức mở rộng khai thác quặng apatit và hoàn thiện các
nhà máy tuyển quặng apatit tại Lào Cai, đáp ứng đủ nhu cầu quặng apatit cho
sản xuất phân bón.
Việc đầu t cải tạo các dây chuyền sản xuất thuốc BVTV cũng đợc Tổng
Công ty chú ý, chuyển từ chỗ chủ yếu sản xuất thủ công và công suất thấp sang
cơ khí hóa và tự động hóa một phần với nhiều thiết bị chuyên dùng hiện đại,
đồng thời đầu t công nghệ để sản xuất một số nguyên liệu hoạt chất nh
cacbofuran, validamyxin, v.v
- Trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm cao su, các dây chuyền sản xuất
săm lốp xe đạp, xe máy và lốp ô tô ở cả ba công ty cao su thành viên của Tổng
16
Footer Page 17 of 146.
Header Page 18 of 146.
Công ty (gồm Công ty CP Cao su Sao Vàng- SRC tại Hà Nội, Công ty CP Cao su
Đà Nẵng- DRC tại Đà Nẵng và Công ty CP Công nghiệp Cao su miền Nam
CASUMINA tại thành phố Hồ Chí Minh) đều đợc đầu t thêm thiết bị, đổi mới
công nghệ, đổi mới mẫu mã và quy cách sản phẩm, nên đã sản xuất và đa ra thị
trờng nhiều loại sản phẩm mới, chất lợng cao nh lốp ô tô radial bán thép và
toàn thép, lốp ô tô siêu trọng, v.v Các sản phẩm săm lốp không những đáp ứng
yêu cầu trong nớc mà còn đợc xuất khẩu.
- Trong lĩnh vực sản xuất hóa chất cơ bản, Tổng Công ty đã đầu t nâng
cấp 2 cơ sở sản xuất xút-clo tại Việt Trì và Biên Hòa, đa công suất tổng cộng
lên 30 nghìn tấn xút/năm; áp dụng công nghệ mới và mở rộng nâng công suất
sản xuất lên trên 400 nghìn tấn axit sunfuric/năm tại 3 cơ sở sản xuất của Tổng
Header Page 19 of 146.
hợp với các biện pháp phát triển thị phần và thị trờng. Các doanh nghiệp trong
Tổng Công ty, nhất là các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm thuộc các ngành
hàng chủ lực, đã góp phần rất lớn để giá trị sản xuất công nghiệp và doanh thu
của Tổng Công ty đạt mức tăng trởng cao. Trong những năm gần đây, tỷ trọng
các ngành hàng trọng điểm luôn chiếm trên 70 % tổng giá trị sản xuất công
nghiệp của Tổng Công ty, trong đó phân bón và các loại thuốc BVTV chiếm 4042%; sản phẩm cao su 20-22 % và sản phẩm hóa chất cơ bản trên 10 %.
Từ năm 2007, theo quyết định của Chính phủ, VINACHEM đã hoạt động
theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con. Đây là điều kiện tốt để Tổng Công ty tự
tin bớc vào hội nhập kinh tế và góp phần quan trọng đa CNHC Việt Nam tham
gia tiến trình Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nớc.
II.3.1.2. Hiện trạng phát triển CNHC
1. Quy mô và năng lực sản xuất
Trong nhiều năm qua, tỷ trọng của CNHC nớc ta luôn chiếm khoảng trên
10% giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành Công nghiệp với các ngành sản
xuất đã đợc định hình là:
- Nhóm sản phẩm phân bón
+ Phân lân chế biến với tổng năng lực sản xuất hiện tại (năm 2008) là trên
1,4 triệu tấn/năm gồm:
* Supe phốt phát đơn: Hiện đợc sản xuất tại 2 cơ sở thuộc VINACHEM
với năng lực sản xuất tổng cộng khoảng 1 triệu tấn/năm: LAFCHEMCO có năng
lực sản xuất trên 750 nghìn tấn/năm và Nhà máy Supe phốt phát Long Thành
thuộc SFC có năng lực sản xuất trên 200 nghìn tấn/năm. Khi có nhu cầu tiêu thụ
có thể tăng thêm công suất.
* Phân lân nung chảy (PLNC): Hiện chủ yếu đợc sản xuất tại 2 cơ sở
thuộc VINACHEM, năng lực sản xuất có thể đến 600 nghìn tấn/năm. Song hiện
tại công suất thực hiện tổng cộng chỉ cỡ 400 nghìn tấn/năm. VAFCO có năng lực
sản xuất lớn nhất, đến 400 nghìn tấn/ năm. NIFERCO có năng lực sản xuất
khoảng 300 nghìn tấn/năm.
phân dạng lỏng, v.v... đợc xem xét và bổ sung.
- Nhóm sản phẩm thuốc BVTV
Sản xuất trong lĩnh vực thuốc BVTV (với năng lực sản xuất 50-100 nghìn
tấn/năm) hiện tại chủ yếu vẫn dới hình thức gia công. Có một số cơ sở liên
doanh của VINACHEM đã sản xuất đợc một số hóa chất trừ nấm bệnh (nh
cacbofuran, validamyxin và một số hoạt chất khác) với công suất nhỏ.
Đến nay cả nớc có trên hàng trăm cơ sở sản xuất, gia công thuốc BVTV.
Trong số này hầu hết là cơ sở nhỏ đã đợc cổ phần hóa, 9 cơ sở có vốn đầu t
nớc ngoài. VINACHEM có 1 công ty thành viên chuyên sản xuất thuốc BVTV
là Công ty cổ phần Thuốc Sát trùng Việt Nam (VIPESCO). VIPESCO hiện
chiếm khoảng 10% thị phần của sản phẩm thuốc BVTV cả nớc. 3 cơ sở liên
doanh có vốn đầu t nớc ngoài của VIPESCO là KOSVIDA (chuyên sản xuất
các các phụ gia hoạt động bề mặt phục vụ gia công thuốc BVTV và các hoạt chất
thuốc BVTV nh cacbofuran , BPMC, excelBasa, glyphosate, perfect ,
isoprothiolane, difenoconazole, propiconazole, v.vvới năng lực sản xuất 2.000
tấn hoạt chất / năm), và VIGUATO chuyên sản xuất hoạt chất trừ nấm
validamyxin (năng lực sản xuất 3.000 tấn/năm) và MOSFLY Việt Nam chuyên
sản xuất hơng (nhang) trừ muỗi và các chế phẩm diệt côn trùng gia dụng.
19
Footer Page 20 of 146.
Header Page 21 of 146.
- Nhóm sản phẩm cao su
Hiện tại năng lực sản xuất toàn ngành cao su thuộc CNHC là: lốp xe đạp 30
triệu lốp/năm; lốp xe máy15 triệu lốp/năm; lốp ôtô - máy kéo khoảng 2-3 triệu
bộ/năm. Ngoài ra, CNHC còn có thể sản xuất một số sản phẩm cao su công
nghiệp nh : ống bơm nớc, găng tay, ủng cao su... Các sản phẩm cao su chủ yếu
ty Bột ngọt VEDAN sản xuất. Tất cả các cơ sở sản xuất xút-clo ở Việt Nam đều
20
Footer Page 21 of 146.
Header Page 22 of 146.
sản xuất ra sản phẩm xút lỏng (dung dịch 30 - 32% NaOH) phù hợp cho sử dụng
của các ngành giấy, sản xuất hóa chất, v.v...
Hiện tại, VINACHEM đang tiếp tục đầu t nâng công suất các dây chuyền
xút-clo hiện có: VICCO đầu t mới một dây chuyền với công suất 10 nghìn tấn
xút/năm theo công nghệ membrane để đa công xuất tổng lên 20 nghìn tấn
xút/năm; SBCC cũng đầu t để nâng công suất hiện tại (20 nghìn tấn xút/năm)
lên 30 nghìn tấn xút/năm.
Sản xuất axit clohyđric (HCl) toàn ngành có năng lực tổng cộng không dới
200 nghìn tấn/năm (loại 37%) và phục vụ chủ yếu cho sản xuất bột ngọt và chế
biến thực phẩm. Riêng VINACHEM hiện có sản lợng ớc 80 nghìn tấn/năm.
Phần còn lại do nhiều công ty khác thực hiện (Công ty Bột ngọt VEDAN, các
công ty của ngành Giấy, v.v).
Clo lỏng hiện còn có công suất nhỏ (vài chục nghìn tấn/năm) và phụ thuộc
mạnh vào nhu cầu thị trờng xử lý nớc. Trong nhiều năm nay riêng
VINACHEM cung cấp khoảng 6 nghìn tấn/năm.
Nhìn chung đến thời điểm hiện tại, công nghiệp xút - clo của Việt Nam
cha đảm bảo tốt cân bằng clo. Trong khi hầu hết các nhà máy sản xuất đều thừa
clo (và hyđro) thì tại Công ty VEDAN lại thừa xút (phải xuất khẩu). Tuy nhiên
hiện nay tình hình cân bằng clo đang đợc cải thiện dần do các nhà sản xuất nỗ
lực tìm đầu ra cho clo đồng thời do nhu cầu clo lỏng, axit clohyđric và các muối
clorua tăng, mà tình trạng thừa clo hiện đã đỡ gay gắt hơn. Tuy nhiên vấn đề cân
bằng clo hiện vẫn cha đợc giải quyết dứt điểm nên có những thời gian thị
trờng cần xút nhng các nhà sản xuất không thể tăng đợc công suất sản xuất
có thể sẽ giảm đi.
Hiện tại ở Việt Nam không có cơ sở nào sản xuất axit phốtphoric theo công
nghệ trích ly ở quy mô công nghiệp. Dự kiến, khi nhà máy DAP Hải Phòng
(thuộc VINACHEM) hoạt động sẽ có sản phẩm loại này.
+ Đất đèn: Hiện tại các cơ sở sản xuất đất đèn (CaC2) ở nớc ta đều có quy
mô nhỏ, hoạt động theo công nghệ lò hỗn hợp dùng than cốc và điện với trình độ
thiết bị thấp, năng suất thấp, chi phí giá thành cao và nhất là gây ô nhiễm môi
trờng. Đáng kể nhất là dây chuyền sản xuất đất đèn tại Nhà máy Đất đèn và
Hóa chất Tràng Kênh (thuộc Công ty TNHH một thành viên Hơi kỹ nghệ- Que
hàn - SOVIGAZ) có sản lợng hàng năm khoảng 10 nghìn tấn CaC2/năm.
+ Natri silicat (thủy tinh lỏng): Năng lực sản xuất natri silicat
(Na2SiO3xH2O) cả nớc tổng cộng là khoảng 100 nghìn tấn/năm, chủ yếu dùng
cho công nghiệp sản xuất chất giặt rửa, tuyển quặng, sản xuất que hàn điện, v.v...
Công nghệ phổ biến đợc dùng để sản xuất sản phẩm này là công nghệ nung
phối liệu chứa sôđa (nhập khẩu) và cát thạch anh (nguyên liệu trong nớc) trong
lò bằng. Một số cơ sở còn sản xuất natri silicat từ nguyên liệu cát thạch anh và
xút lỏng sử dụng lò quay có áp suất cao (trên dới 10 at). Riêng VINACHEM
hiện có 7 cơ sở sản xuất natri silicat với sản lợng hàng năm tổng cộng khoảng
50 nghìn tấn.
+Alumin và phèn nhôm: Công suất sản xuất alumin của các cơ sở trong
ngành Hóa chất hiện nay vào cỡ 100 nghìn tấn/năm và phèn nhôm (chủ yếu là
phèn đơn) cỡ 50 nghìn tấn/năm. Sản phẩm phen nhôm đợc dùng để xử lý nớc
cấp. Các cơ sở sản xuất chính các loại sản phẩm này là SBCC và LAFCHEMCO
(đều thuộc VINACHEM).
22
Footer Page 23 of 146.
Header Page 24 of 146.
là các loại nớc giặt, xà phòng bánh và các loại dầu gội, mỹ phẩm.
Hiện tại, các đơn vị sản xuất của VINACHEM có sản lợng chất giặt rửa
tổng cộng khoảng 300 nghìn tấn/năm. Các đơn vị có sản lợng lớn nhất là Công
ty Cổ phần Bột giặt LIX (LIXCO), Công ty Cổ phần Bột giặt NET (NETCO);
Công ty Công nghiệp Hóa chất và Vi sinh (BICICO). Các công ty liên doanh của
VINACHEM nh LEVER Việt Nam, P&G Việt Nam là những đơn vị sản xuất
lớn nhất các chất giặt rửa cung cấp cho thị trờng trong nớc. Tuy nhiên một
23
Footer Page 24 of 146.
Header Page 25 of 146.
phần lớn sản lợng các chất giặt rửa của các đơn vị này lại thuê các doanh
nghiệp trong nớc gia công.
Các doanh nghiệp trong ngành đã đầu t công nghệ, thiết bị tiên tiến và
đảm bảo tốt các quy định về môi trờng, đảm bảo cho các sản phẩm giặt rửa sản
xuất trong nớc có chất lợng tơng đơng với các sản phẩm cùng loại trên thế
giới.
- Nhóm sản phẩm pin, ắc quy
Sản lợng các loại sản phẩm ắc quy sản xuất trong nớc tại các cơ sở thuộc
VINACHEM (chiếm 80% năng lực sản xuất) và tại các doanh nghiệp đầu t
nớc ngoài (chiếm 20% năng lực sản xuất) đủ thoả mãn nhu cầu về ắc quy thông
dụng. Năm 2008 sản lợng ắc quy toàn ngành ớc đạt 2 triệu kWh (riêng
VINACHEM 1,3 triệu kWh).
Các loại pin điện sản xuất trong nớc chủ yếu tại các cơ sở thuộc
VINACHEM (chiếm 95% năng lực sản xuất) và tại các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh (chiếm 5% năng lực sản xuất). Trong những năm gần đây, nhu cầu pin
thông dụng có xu hớng tiến tới bão hòa ở mức 350-400 triệu viên/năm. Năm