1
VẤN ĐỀ CON NGƯỜI LĨNH HỘI KINH NGHIỆM XÃ HỘI - LỊCH SỬ
TRONG TÁC PHẨM “VỀ QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ TRONG NGHIÊN
CỨU TÂM LÝ NGƯỜI” CỦA A.N.LÊ-ÔN-CHÉP
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, khoa học tự nhiên phát triển mạnh
mẽ đặc biệt là khoa học vật lý và khoa học sinh học. Làm cho các trường phái
tâm lý học duy tâm nội quan và các trường phái tâm lý học khách quan chủ
nghĩa đi vào bế tắc. Trước sự khủng hoảng đó đòi hỏi phải có một trường phái
tâm lý học mới thực sự khách quan, khoa học và cách mạng ra đời, đó là tâm
lý học Mác xít, mà người đặt nền móng cho sự ra đời của trường phái tâm lý
học này là Lép Xêminôvich Vưgốtxki bằng bài báo “Ý thức như một vấn đề
của tâm lý học hành vi”. Đi theo quan điểm của Ông, các nhà tâm lý học Mác
xít mà đại biểu chủ yếu là các nhà tâm lý học Liên Xô như K.N.Coócnhilốp,
X.L.Rubinstêin và đặc biệt là A.N.Lêônchiép đã đề ra nhiệm vụ xây dựng một
khoa học tâm lý trên lập trường của triết học Mác - Lênin, và phải có “quan
điểm lịch sử trong nghiên cứu tâm lý người”.
A.N.Lêônchiép là một nhà tâm lý học vĩ đại người Nga. Ông sinh ngày
05 tháng 02 năm 1903, mất ngày 21 tháng 01 năm 1979. Ông là Viện sỹ Viện
hàn lâm giáo dục Liên Xô, giáo sư, tiến sỹ tâm lý học, Chủ nhiệm Khoa Tâm
lý học Trường Đại học Tổng hợp Mátxcơva từ năm 1966, là người sáng lập ra
một trong các phương án tiếp cận hoạt động trong Tâm lý học. Vào cuối
những năm 20 của thế kỷ trước, cùng với L.X.Vưgốtski và A.R Luria A. N.
Lêônchiép đã xây dựng lý thuyết Tâm lý học lịch sử - văn hoá, Ông là người
để lại nhiều tác phẩm và công trình khoa học có giá trị to lớn cho nền tâm lý
học Mác xít. Nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết cũng như thực nghiệm
của A.N Lêônchiép đã được tiến hành nhằm nghiên cứu các vấn đề phát triển
tâm lý người. Ông đã xây dựng nên lý thuyết tâm lý học đại cương về hoạt
động, đây là một phương hướng nghiên cứu mới của Tâm lý học. Những lĩnh
3
lý người có tính lịch sử, sự cải tổ các cơ chế tâm lý của các quá trình tâm lý
phải được thực hiện trong tiến trình lịch sử và trong mỗi cá thể. Thực chất của
vấn đề này là con người lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch sử và giao
lưu. L.X. Vưgốtxki là người đầu tiên ở Liên Xô đưa ra luận điểm cho rằng:
quan điểm lịch sử phải trở thành nguyên lý chỉ đạo việc xây dựng tâm lý học
người. Ông đưa ra hai giả thuyết để bảo vệ quan điểm của mình. Giả thuyết
thứ nhất: tính gián tiếp trong quá trình hình thành tâm lý, nghĩa là tâm lý
người không phải hình thành dưới tác động trực tiếp của các yếu tố bên ngoài
như quan điểm hành vi của Watson. Giả thuyết thứ hai: nguồn gốc của các
quá trình trí tuệ bên trong vốn từ bên ngoài, từ các hoạt động tâm lý giữa
người này với người khác.
Theo Lêônchiép những quan điểm mà L.X.Vưgốtxki đưa ra thời kỳ đó
chưa thành một hệ thống hoàn chỉnh trong tâm lý học, các vấn đề nêu ra chủ
yếu dưới dạng định hướng cách giải quyết hay những giả thuyết chứ chưa
phải là lời giải đáp, giải thích vấn đề này một cách triệt để.
Tiếp theo L.X.Vưgốtxki, trong thời kỳ từ 1934- 1935 X.L.Rubinstêin
tiếp tục giải quyết vấn đề tâm lý người theo quan điểm lịch sử. Quan điểm cơ
bản của X.L.Rubinstêin là tâm lý phải được nghiên cứu trong hoạt động,
thông qua hoạt động. Ông coi hoạt động tâm lý như là một hình thái đặc biệt
của hoạt động, vì trong hoạt động ý thức của con người tồn tại trong một quan
hệ thống nhất. Hoạt động tâm lý là sản phẩm và là ngành nhánh của hoạt
động. Ông khẳng định trong quá trình phát triển của xã hội thì hoạt động bên
ngoài thành hoạt động bên trong thành hoạt động ý thức, vì vậy nhiệm vụ của
tâm lý học phải nghiên cứu hoạt động, nghiên cứu cấu trúc, cách thức chuyển
hoạt động từ bên ngoài thành hoạt động bên trong. Quan điểm lịch sử trong
nghiên cứu tâm lý người của X.L.Rubinstêin tuy có nhiều tiến bộ nhưng vẫn
của chúng cho thế hệ sau thông qua con đường di truyền cơ thể từ cha mẹ
sang con. Chẳng hạn, con Vịt truyền kinh nghiệm bơi của mình cho con của
nó thông qua con đường di truyền cơ thể, nhờ đó mà Vịt con vừa nở ra khỏi
quả trứng đã có thể bơi ngay được. Tương tự như vậy, các giống loài động vật
5
khác cũng truyền kinh nghiệm của thế hệ trước cho thế hệ sau thông qua con
đường di truyền cơ thể từ cha mẹ sang con. Thứ hai, động vật có thể truyền
những kinh nghiệm của loài cho thế hệ sau thông qua huấn luyện trực tiếp của
cha mẹ cho con. Chẳng hạn, Hổ và một số loài động vật săn mồi khác có thể
huấn luyện cho con của nó cách thức săn mồi ngay từ khi con của nó còn nhỏ.
Nhờ đó mà thế hệ sau tiếp thu được những kinh nghiệm của thế hệ trước. Tuy
nhiên, dù truyền đạt bằng cách nào thì những kinh nghiệm mà thế hệ sau của
động vật thu lượm được suy đến cùng cũng chỉ là những kinh nghiệm bản
năng di truyền mà không hề có ý thức, tức là không hề có sự sáng tạo. Mác đã
khẳng định: kinh nghiệm xây tổ của con ong hàng triệu năm về trước và kinh
nghiệm xây tổ của con ong hiện nay cũng không hề có sự khác nhau. Điều
này cho thấy đời sống tâm lý của động vật không hề phong phú hơn khi đã
trải qua hàng triệu năm phát triển, sở dĩ như vậy là do tâm lý của động vật là
tâm lý bản năng chứ không phải là tâm lý ý thức.
Khác với động vật, con người tiếp thu các giá trị kinh nghiệm xã hội lịch sử thông qua con đường bên ngoài chứ không thông qua con đường di
truyền cơ thể. Con người chỉ di truyền cho thế hệ sau của mình những yếu tố
sinh vật của cơ thể như hình dáng, cấu trúc của loài. Và ngay cả những yếu tố
sinh vật ấy cũng không phải được di truyền nguyên vẹn mà đã có sự chọn lọc
nhất định, nhờ đó mà hình dáng của thế hệ sau đã tốt hơn hình dáng của thế
hệ trước. Rõ ràng con người ngày nay cao lớn và xinh đẹp hơn rất nhiều so
với tổ tiên của mình là loài vượn. Quá trình con người tiếp thu những kinh
nghiệm xã hội - lịch sử của thế hệ trước diễn ra bằng nhiều cách thức khác
khó chịu khi đi qua một khu vực ô nhiễm nào đó…Như vậy có thể khẳng định
rằng các cơ quan giác quan của con người là nơi đầu tiên đón nhận sự tác
động từ bên ngoài vào, nhờ nó mà con người nhận biết được sự vật hiện
tượng cả về hình dáng, kích thước, màu sắc, mùi vị…và cả những thuộc tính
bên trong của nó như tình cảm, thái độ của những người xung quanh đối với
mình. Nói tóm lại là nhờ có các giác quan mà con người có thể nhận biết
7
được bản chất của các sự vật hiện tượng, làm cho kinh nghiệm xã hội - lịch sử
của họ ngày càng nhiều hơn và đời sống tâm lý của con người cũng ngày càng
phong phú hơn, đa dạng hơn. Đây cũng là điểm khác biệt giữa con người và
động vật, nhưng điểm khác biệt lớn hơn giữa con người và động vật còn ở
chỗ: phương pháp lĩnh hội các giá trị vật chất, tinh thần và các kinh
nghiệm xã hội - lịch sử mà loài người để lại.
Như đã trình bày ở phần trên, động vật chỉ tiếp nhận các kinh nghiệm xã
hội - lịch sử thông qua con đường di truyền cơ thể hoặc huấn luyện trực tiếp
từ cha mẹ sang con. Còn ở con người việc lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội lịch sử của loài người truyền lại được diễn ra theo hai phương pháp: Phương
pháp lĩnh hội trực tiếp là con người lĩnh hội các giá trị văn hoá vật chất, tinh
thần và các kinh nghiệm xã hội - lịch sử thông qua truyền đạt trực tiếp từ cha
mẹ, từ những người đi trước và những người xung quanh đang cùng sống.
Việc truyền đạt này diễn ra ngay từ khi đứa trẻ còn nhỏ, mới tập nói những
câu nói đầu tiên, chính sự truyền đạt kiên trì dài lâu của cha mẹ, người lớn và
các thầy, cô giáo… đã giúp cho đứa trẻ nhận biết được đâu là bà, bố mẹ,
những người xung quanh, những giá trị đạo đức và chuẩn mực xã hội mà nó
phải tuân theo… Quá trình phát triển và trưởng thành con người ngày càng
tham gia vào nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau, được hoạt động và giao
tiếp với nhiều người nên con người đã tích luỹ cho mình những kinh nghiệm
hẹp của mỗi người khác nhau, nói cách khác là sự tác động trực tiếp của
những người xung ở mỗi người là khác nhau. Vì vậy, nếu được sống trong
môi trường xã hội hẹp thuận lợi, có nhiều yếu tố tích cực thì quá trình hình
thành và phát triển tâm lý ý thức của con người diễn ra thuận lợi và chứa
đựng nhiều nhân tố tích cực. Thông thường những người sống trong gia đình
có văn hoá thì tâm lý của họ phát triển tốt hơn những người sống trong gia
đình kém văn hoá, thiếu hiểu biết. Học sinh thành phố được giao tiếp sớm với
môi trường giáo dục thuận lợi nên tâm lý của chúng cũng phát triển tốt hơn
9
học sinh ở vùng cao, vùng sâu…Quá trình hoạt động và giao tiếp với những
người xung quanh, con người không chỉ lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội lịch sử từ người khác truyền sang, mà con người còn truyền vào các sản
phẩm lao động của mình những giá trị văn hoá tinh thần, những kinh nghiệm
xã hội - lịch sử và những nội dung tâm lý mà họ đã tích luỹ được trong quá
trình sống. Chính vì vậy mà trong mỗi sản phẩm lao động của con người đều
chứa đựng những giá trị văn hoá lịch sử nhất định, các nhà tâm lý học gọi đây
là quá trình xuất tâm hay quá trình đối tượng hoá.
Việc lĩnh hội các giá trị văn hoá vật chất, tinh thần và các kinh nghiệm
xã hội - lịch sử của con người còn thông qua phương pháp gián tiếp, tức là
thông qua các tài liệu, tranh ảnh, sách báo…và các sán phẩm lao động mà các
thế hệ trước đó để lại. Theo tác giả A. N. Lêônchiép, trong quá trình phát triển
cá thể, con người có những quan hệ chuyên biệt, đặc biệt với thế giới đồ vật
và các hiện tượng xung quanh do những người khác và những người thuộc thế
hệ trước tạo ra. Những đồ vật này chứa đựng năng lực, kinh nghiệm xã hội lịch sử và nội dung tâm lý của các thế hệ người trước đó, khi con người quan
hệ, tiếp xúc với các đồ vật đó họ sẽ bóc tách và lĩnh hội những giá trị văn hoá
tinh thần và những kinh nghiệm xã hội - lịch sử từ các đồ vật đó. Chẳng hạn,
khi nghiên cứu các kim tự tháp của Ai cập cổ đại chúng ta có thể hiểu được
những tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo và nền văn minh của con người
là thích nghi bản năng của cơ thể sống của chúng với môi trường xung quanh,
thích nghi của con người là sự thích nghi chủ động do mình đặt ra thông qua
các mối quan hệ xã hội của họ, làm cho họ có khả năng tiếp thu kinh nghiệm
tốt hơn. Song chúng ta cần hiểu rõ sự khác nhau giữa quá trình thích nghi với
quá trình tiếp thu, lĩnh hội của con người. Thích nghi là quá trình thay đổi các
thuộc tính, thay đổi năng lực và hành vi của cơ thể, còn quá trình tiếp thu, lĩnh
hội là quá trình cá thể tái tạo lại những năng lực, những kinh nghiệm, vốn
sống mà loài người đã hình thành và kết tinh trong các đồ vật, trong sản phẩm
lao động của họ trong suốt quá trình lịch sử. Những nội dung mà mỗi người
11
tiếp thu, lĩnh hội được chính là cấu tạo tâm lý mới của họ. Quá trình này chỉ
diễn ra ở con người, động vật không bao giờ có quá trình đó.
Tóm lại, thực chất của vấn đề con người lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử chính là quá trình con người hình thành, phát triển và làm phong phú
đời sống tâm lý của mình thông qua việc tiếp thu, lĩnh hội các giá trị văn hoá
lịch sử của những người cùng sống và những thế hệ người đi trước để lại. Con
đường tiếp nhận các giá trị đó bao giờ cũng thông qua hoạt động và giao tiếp
của mỗi người. Do đó, khi nghiên cứu tâm lý con người phải theo quan điểm
lịch sử, xem xét đánh giá tâm lý con người phải gắn vào một điều xã hội –
lịch sử cụ thể nhất định mà con người đó sống và hoạt động; phải thông qua
hoạt động, giao tiếp của họ, thông qua kết quả hoạt động mà họ đã tạo ra
trong lịch sử và xu hướng tương lai mà họ hướng tới, có như vậy mới hiểu
đúng bản chất và sự phong phú tâm lý của mỗi người. Đúng như Giáo sư
Hoàng Linh đã nhận định: “Con người với những niềm vui và những khổ đau,
những chí hướng và những đam mê, những thành công và những sai lầm, với
lòng trung thành đến tuyệt đỉnh và sự phản bội đến ghê gớm, với lòng nhân ái
đại hiền và sự tàn ác trung cổ ở ngay ngưỡng cửa của thế kỷ XXI. Không một
dụng cụ thí nghiệm nào, không một tiền đề sinh vật trực tiếp nào khám phá
được hình thành thông qua giáo dục và hoạt động quân sự của cá nhân họ, vì
vậy cần tổ chức cho quân nhân học tập tiếp thu, lĩnh hội những kinh nghiệm
xã hội – lịch sử trong xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Đảng, của dân
tộc và quân đội qua các thời kỳ.