Header Page 1 of 133.
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thông tin BCTC là một trong những kênh thông tin mà các
công ty niêm yết được yêu cầu cung cấp trên thị trường chứng
khoán. Trong thị trường chứng khoán, Công ty niêm yết là bên
cung cấp thông tin, nhà đầu tư là đối tượng chủ yếu tiếp nhận và
sử dụng các thông tin này trong quá trình ra quyết định của
mình. Chất lượng thông tin BCTC phụ thuộc vào chất lượng
của quá trình tạo lập, trình bày và công bố của các công ty niêm
yết, quá trình này chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố bên trong
lẫn bên ngoài doanh nghiệp.
Chất lượng thông tin BCTC chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu
tố, trong đó QTCT được quan tâm nhiều trong hơn thập niên
gần đây. Chức năng QTCT bao gồm những nhân tố bên ngoài
lẫn bên trong. Nhân tố bên trong là việc thiết lập cơ cấu nhằm
kiểm soát hành vi lập và công bố thông tin BCTC. Cơ cấu này
hoạt động hiệu quả sẽ giúp thông tin BCTC có chất lượng cao.
Rất nhiều nghiên cứu cho thấy rằng QTCT tốt sẽ dẫn đến thông
tin BCTC có chất lượng cao và ngược lại chất lượng thông tin
BCTC thấp phần lớn xuất phát từ những doanh nghiệp có
QTCT yếu kém (Cohen, 2004).
Theo sự hiểu biết của tác giả, tại Việt Nam có rất ít các
nghiên cứu đo lường chất lượng thông tin BCTC cũng như đánh
giá về sự tác động của QTCT đến chất lượng thông tin BCTC
một cách toàn diện. Xuất phát từ khoảng trống trong nghiên cứu
lý thuyết và nhu cầu thực tế, nên luận án chọn đề tài: “Tác
lượng thông tin BCTC các công ty niêm yết tại Việt Nam?
Câu hỏi 3: Định hướng nào để tăng cường QTCT qua đó
nâng cao chất lượng thông tin BCTC tại các công ty niêm yết ở
Việt Nam?
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Footer Page 2 of 133.
Header Page 3 of 133.
3
Đối tượng nghiên cứu trong luận án là chất lượng thông tin
BCTC và sự tác động của QTCT đến chất lượng thông tin
BCTC.
Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng khảo sát là thông tin BCTC và các đặc tính
QTCT các công ty niêm yết tại HOSE và HNX cho năm tài
chính 2012.
- Thông tin BCTC bao gồm thông tin tài chính và phi tài
chính được doanh nghiệp công bố trên các báo cáo, bao gồm:
báo cáo thường niên, báo cáo QTCT, BCTC quý 4.
- Các yếu tố QTCT được giới hạn trong luận án bao gồm:
HĐQT, BKS và KTNB.
5.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận án là phương pháp hỗn
thông tin BCTC các công ty niêm yết tại Việt Nam ngày một
hoàn thiện hơn.
- Từ thực trạng qua việc phân tích đánh giá các đặc tính chất
lượng thông tin BCTC và các yếu tố QTCT giúp các nhà hoạch
định chính sách, lập pháp có cái nhìn sâu hơn trong việc xây
dựng luật pháp có liên quan nhằm nâng cao chất lượng thông
tin BCTC và QTCT tốt phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế.
Bên cạnh đó, những kiến nghị trong luận án giúp các công ty
niêm yết tự hoàn chỉnh các nội dung về thông tin BCTC cần
thiết phải cung cấp cho cổ đông và hoàn thiện QTCT hướng đến
đảm bảo chất lượng thông tin BCTC công bố.
7. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án bao gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu chất lượng
thông tin BCTC và QTCT; Chương 2: Cơ sở lý thuyết về chất
lượng thông tin BCTC và QTCT; Chương 3: Phương pháp
nghiên cứu;
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận;
Chương 5: Kết luận và kiến nghị; Tài liệu tham khảo; Phụ lục
Footer Page 4 of 133.
Header Page 5 of 133.
5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Header Page 6 of 133.
6
như: quản trị lợi nhuận, công bố lại BCTC, gian lận BCTC,
công bố tự nguyện….
Các đặc tính của từng yếu tố QTCT, cụ thể như sau:
- HĐQT : quy mô HĐQT, Thành viên độc lập trong HĐQT,
chuyên gia kế toán – tài chính trong HĐQT, tần suất cuộc họp
của HĐQT, kiêm nhiệm hai chức danh: chủ tịch HĐQT và
Tổng giám đốc…
- UBKT: Thành viên độc lập trong UBKT, chuyên gia kế
toán – tài chính trong UBKT, cuộc họp của UBKT…
- Sự hiện diện của KTNB
Phương pháp các nghiên cứu nước ngoài chủ yếu là sử dụng
phân tích hồi quy để đánh giá sự tác động của các đặc tính
QTCT đến chất lượng thông tin BCTC.
1.3 Xác định khoảng trống nghiên cứu
Thứ nhất, trong khi tại Việt Nam chưa có nghiên cứu về sự
tác động của QTCT đến chất lượng thông tin BCTC, thì các
nghiên cứu nước ngoài chỉ xem xét sự tác động của QTCT đến
chất lượng thông tin BCTC ở những khía cạnh khác nhau.
Thứ hai, chất lượng thông tin BCTC, các nghiên cứu tại Việt
Nam tập trung vào xem xét quy trình kế toán và chất lượng
chuẩn mực kế toán được thiết lập tại Việt Nam, từ đó đưa ra
những kiến nghị liên quan đến việc hoàn thiện quy trình kế toán
và xây dựng các chuẩn mực kế toán theo hướng hòa nhập chuẩn
mực kế toán quốc tế, chưa có công trình nào nghiên cứu chất
lượng thông tin BCTC theo hướng hữu ích cho quá trình ra
quyết định.
việc xây dựng thang đo trong chương 3. Chất lượng thông tin
BCTC, luận án sử dụng các đặc tính chất lượng của FASB và
IASB để đo lường. Ngoài ra, luận án trình bày các khái niệm,
nguồn gốc về QTCT và cơ cấu QTCT mà luận án nghiên cứu,
Footer Page 7 of 133.
Header Page 8 of 133.
8
làm cơ sở xây dựng các giả thuyết về sự tương quan giữa QTCT
và chất lượng thông tin BCTC được xây dựng trong chương 3.
- Từ các cơ sở lý thuyết của các nội dung trên, luận án xây
dựng mô hình lý thuyết nghiên cứu để trả lời các câu hỏi nghiên
cứu đã trình bày.
Hình 4: Mô hình lý thuyết nghiên cứu
TV ĐỘC LẬP HĐQT
TVHĐQTĐL CÓ
CHUYÊN MÔN KTTC
KIÊM NHIỆM
HAI CHỨC DANH
CHẤT LƯỢNG
TTBCTC
TẦN SUẤT CUỘC HỌP
TV ĐỘC LẬP BKS
TVBKS CÓ
thang đo của Ferdy Van Beest được thực hiện ở các quốc gia
phát triển. Nhằm đảm bảo xây dựng thang đo sự phù hợp với
môi trường Việt Nam, luận án sử dụng phương pháp định tính
phỏng vấn các chuyên gia về sự cần thiết các thang đo tạo nên
chất lượng thông tin BCTC.
Bước 2: Đo lường chất lượng thông tin BCTC và kiểm định
giả thuyết
Bước này, luận án chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng
để đo lường chất lượng thông tin BCTC và xem xét mức độ tác
động của các biến QTCT vào chất lượng thông tin BCTC, cụ
thể:
- Từ thang đo được xây dựng ở bước 1, luận án tiến hành
khảo sát BCTN của 195 công ty niêm yết dựa trên thang đo
Likert 5 bậc, để xác định tổng số điểm của từng công ty niêm
yết. Thang đo ban đầu bao gồm 19 thuộc tính tạo nên các đặc
tính chất lượng theo FASB (2010) và IASB (2010). Sau khi dữ
liệu được thu thập, luận án tiến hành kiểm định đánh giá độ tin
cậy (Cronbach alpha) và giá trị thang đo (phân tích EFA). Kết
Footer Page 9 of 133.
Header Page 10 of 133.
10
quả sau cùng cho thấy thang đo chính thức bao gồm 16 thuộc
tính.
- Để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, luận án sử dụng
mô hình hồi quy đa biến, trong đó biến phụ thuộc là chất lượng
sách kế toán (T2); Trình bày không thiên lệch (T3); Chênh lệch
lợi nhuận trước và sau kiểm toán (T4); Ý kiến kiểm toán viên
độc lập (T5) và Thông tin về QTCT (T6). Có thể hiểu được: 3
thuộc tính: Diễn giải, bố cục rõ ràng (H1); Số lượng bảng biểu,
sơ đồ (H2) và Giải thích thuật ngữ (H3). Có thể so sánh: 4
thuộc tính: Thay đổi ước tính kế toán (S1); Thay đổi chính sách
kế toán (S2); Số lượng các năm trước so sánh (S3) và Số lượng
các tỷ số (S4). Kịp thời: 1 thuộc tính (K).
Luận án sử dụng thang đo Likert 5 điểm để đánh giá từng
khoản mục, các khoản mục này được hoạt động hóa từng đặc
tính tạo nên chất lượng, trong đó điểm 1 dành cho khoản mục
đạt mức độ yếu nhất và điểm 5 cho khoản mục đạt mức hoàn
hảo của tiêu chuẩn đặt ra.
3.2.2. Xây dựng giả thuyết về các yếu tố QTCT tác động đến
chất lượng thông tin BCTC
Từ mô hình lý thuyết nghiên cứu được mô tả chương 2, luận
án xây dựng các giả thuyết nhằm xem xét sự tác động của các
yếu tố QTCT đến chất lượng thông tin BCTC, cụ thể như sau:
H1: Tỷ lệ thành viên HĐQTĐL trong tổng số HĐQT càng cao
giúp cho thông tin BCTC có chất lượng hơn.
H2: Việc kiêm nhiệm hai chức danh Tổng Giám đốc và Chủ tịch
HĐQT sẽ tác động tiêu cực đến chất lượng TT BCTC.
H3: Sự hiện diện thành viên HĐQTĐL có kiến thức và kinh
nghiệm về kế toán tài chính có tác động tích cực đến chất
lượng thông tin BCTC.
H4: Doanh nghiệp có cuộc họp HĐQT càng nhiều thì chất
lượng thông tin BCTC càng cao.
Footer Page 11 of 133.
Để đánh giá sự tác động các đặc tính QTCT đến chất lượng
thông tin BCTC, luận án sử dụng mô hình hồi quy đa biến.
Trong đó, biến phụ thuộc là chất lượng thông tin BCTC, biến
Footer Page 12 of 133.
Header Page 13 of 133.
13
độc lập là 7 thuộc tính của QTCT. Cụ thể mô hình được xây
dựng như sau:
CLBCTC
=
3CGHĐQTĐL
7KTNB
+
0
+
4SLCH
1ĐLHĐQT
tài liệu liên quan (BCTN niên và BCTC quý 4) để cho điểm
từng thuộc tính theo phụ lục 3. Việc cho điểm từng thuộc tính
của các đặc tính chất lượng thông tin BCTC dựa vào cột “Diễn
giải” và “Nhận diện” tại phụ lục 3 để xác định mức độ điểm từ
1 đến 5. Nhằm giảm sự chủ quan trong quá trình cho điểm, tác
Footer Page 13 of 133.
Header Page 14 of 133.
14
giả tiến hành bước 2. Bước 2 tiến hành cho điểm các thuộc tính
như: P1, P2, P4, P5, T3, T6, H1. Cho điểm lần 2 độc lập với lần
1 đối với những thuộc tính mang tính chất định tính, sau đó so
sánh với số điểm lần 1. Trường hợp có sự khác biệt giữa hai lần,
tác giả sẽ xem xét lại từng thuộc tính để lấy số điểm cuối cùng.
Kết quả đo lường chất lượng thông tin BCTC được trình bày
tóm tắt tại Phụ lục 09.
3.3 Đánh giá độ tin cậy và giá trị thang đo chất lượng thông
tin BCTC
3.3.1 Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng Cronbach alpha
Trong mô hình lý thuyết nghiên cứu được đề xuất, để nghiên
cứu những thuộc tính tạo nên chất lượng thông tin BCTC, tác
giả đã đề xuất 19 biến quan sát để đo lường. Phương pháp
nghiên cứu định lượng được thực hiện trong bước nghiên cứu
này. Ứng dụng hệ số Cronbach alpha để đánh giá độ tin cậy của
các thang đo dùng để đo lường các khái niệm có trong mô hình
nghiên cứu. Sau khi đánh giá độ tin cậy thang đo bằng
phương pháp hỗn hợp gắn kết và giải thích. Theo đó, phương pháp
này sử dụng định lượng là chính, phương pháp định tính với mục
đích nhằm khẳng định sự cần thiết các thang đo chất lượng thông tin
BCTC và giải thích những kết quả của phương pháp định lượng.
Thực hiện phương pháp định tính, luận án sử dụng 2 bảng khảo
sát song song với nhau, cụ thể như sau:
- Bảng khảo sát liên quan đến thông tin BCTC bao gồm 16 câu
hỏi . Mục đích bảng khảo sát này nhằm khẳng định sự phù hợp của
các thuộc tính tạo nên chất lượng thông tin BCTC trong môi trường
Việt Nam. Đối tượng khảo sát bao gồm 8 chuyên gia có kiến thức và
kinh nghiệm về lĩnh vực kế toán, kiểm toán, tài chính, phân tích
chứng khoán, nhà đầu tư, công bố thông tin...
- Bảng khảo sát về QTCT, bao gồm 5 câu hỏi. Mục đích của
Bảng khảo sát này nhằm giải thích các kết quả kiểm định các giả
Footer Page 15 of 133.
Header Page 16 of 133.
16
thuyết liên quan quan đến các đặc tính về QTCT và làm cơ sở để bàn
luận trong chương 4 và định hướng kiến nghị được trình bày tại
chương 5 của luận án. Đối tượng khảo sát bao gồm 4 chuyên gia có
kiến thức và kinh nghiệm về QTCT như: chuyên gia về luật doanh
nghiệp, QTCT, thành viên HĐQT, trưởng BKS, ...
Kết luận chương 3
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
4.1 Kết quả đánh giá thực trạng chất lượng BCTC và sự tác
hệ số , cho thấy CGHĐQTĐL = 0.389 có giá trị lớn nhất trong
các biến có tác động, điều này có nghĩa yếu tố CGHĐQTĐL có
tác động lớn nhất vào chất lượng thông tin BCTC, lần lượt giảm
dần là KTNB, CGBKS, ĐLHĐQT và SLCH có mức độ ảnh
hưởng nhỏ nhất.
Bảng 4.8: Các biến độc lập tác động đến chất lượng
thông tin BCTC
Biến
1
(Constant)
DLHDQT
KNCD
Hệ số chưa chuẩn
hóa
Trọng số
Sai lệch
HQ B
chuẩn
26.236
1.052
14.894
3.738
-1.129
.804
SLCH
DLBKS
CGBKS
.000
.162
.107
-.002
.197
.287
.389
2.883
-.054
4.407
6.777
7.941
.004
.957
.000
.000
.000
Beta
Phương trình thể hiện chất lượng thông tin BCTC dự đoán
theo tất cả các biến độc lập là các đặc tính QTCT:
CLBCTC = 26,236 + 14,894DLHĐQT – 1,129KNCD +
0,231SLCH
–
thành viên BKS có tác động ngược chiều với chất lượng thông
tin BCTC.
4.1.3.2 Biến điều tiết về vốn nhà nước (VNN)
Đối với chất lượng thông tin BCTC
Đối với chất lượng thông tin BCTC, kết quả cho thấy giữa
các loại hình công ty có tỷ lệ VNN khác nhau thì chất lượng
BCTC cũng khác nhau. Kết quả phân tích này cho thấy, nhóm
công ty không có VNN có chất lượng BCTC cao hơn nhóm
công ty có tỷ lệ VNN trên 50%.
Đối với QTCT
Đối với các biến QTCT, kết quả cho thấy những doanh
nghiệp có vốn nhà nước trên 50% thì hầu như các biến QTCT
không có tương quan gì với chất lượng thông tin BCTC, ngoại
trừ hai biến ĐLHĐQT và KTNB, điều này có nghĩa những
doanh nghiệp này có dấu hiệu QTCT yếu. Những doanh nghiệp
có vốn nhà nước dưới 50% thì sự tương quan giữa các biến
QTCT với biến phụ thuộc có sự tương đồng với trường hợp
không có biến điều tiết. Trong trường hợp này cho thấy, mặc dù
Footer Page 18 of 133.
Header Page 19 of 133.
19
có có sự tham gia của vốn nhà nước nhưng dưới 50% thì các
biến QTCT đều có sự tác động đến chất lượng thông tin BCTC.
4.1.4 Kiểm định với hai đặc tính cơ bản
Đặc tính tính hợp
chuyên gia là do: chỉ trình bày theo yêu cầu, không muốn công
bố, không có kiến thức về công bố thông tin và cơ chế giám sát
yếu.
Thực trạng tác động QTCT đến chất lượng thông tin BCTC
Song song với quả phân tích hồi quy, tác giả thực hiện
phỏng vấn sâu các chuyên gia QTCT, kết quả nghiên cứu này
cho thấy chất lượng thông tin BCTC của các công ty niêm yết
tại Việt Nam ở mức dưới trung bình, khi xem xét mối tương
quan giữa QTCT và chất lượng thông tin BCTC cho thấy công
ty niêm yết chưa xây dựng cơ cấu QTCT trong từng yếu tố hiệu
quả, cụ thể như sau:
Hội đồng quản trị
Sự độc lập và trình độ chuyên môn của HĐQT
- Số lượng thành viên độc lập trong HĐQT độc lập chiếm tỷ
lệ ít trong tổng số thành viên HĐQT.
- Vẫn còn nhiều công ty niêm yết duy trì sự kiêm nhiệm hai
chức danh Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc.
Nhiệm vụ HĐQT
- Trong HĐQT, chưa có sự phân công thành viên HĐQT
giám sát quá trình lập và công bố thông tin BCTC.
- Hoạt động của HĐQT trong việc giám sát quá trình lập và
công bố thông tin BCTC chưa hiệu quả.
- BCTN khi công bố ra bên ngoài chưa được thông qua
HĐQT.
Thu thập thông tin của HĐQT
Nhiệm vụ của từng thành viên HĐQT thể hiện qua cuộc họp,
tuy nhiên, các thành viên HĐQT thiếu thông tin của ban điều
Footer Page 20 of 133.
phận KTNB, vì vậy số lượng công ty niêm yết có bộ phận
KTNB là rất ít.
Kết luận chương 4:
Footer Page 21 of 133.
Header Page 22 of 133.
22
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng thông tin BCTC của
các công ty niêm yết Việt Nam là dưới mức trung bình.
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, hầu hết các biến QTCT
đều có sự tác động đến chất lượng thông tin BCTC, kết quả này
phù hợp với các nghiên cứu trên thế giới. Riêng sự độc lập của
BKS là không có sự tương quan với chất lượng thông tin
BCTC. Theo các chuyên gia, kết quả này là do trong thực tế
BKS không có sự độc lập và quyền hạn thật sự.
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng thông
tin BCTC và sự tác động của QTCT đến chất lượng thông tin
BCTC chịu sự ảnh hưởng của quy mô công ty và tỷ vốn nhà
nước trên vốn điều lệ.
5.2. Kiến nghị
5.2.1 Kiến nghị nâng cao chất lượng thông tin BCTC
Các công ty niêm yết tại Việt Nam, hiện nay bắt buộc công
bố thông tin theo thông tư 52. Chất lượng thông tin BCTC được
đánh giá trên cơ sở những thông tin được trình bày theo quy
- Xây dựng QTCT tốt là trách nhiệm và văn hóa của từng
doanh nghiệp.
5.2.4 Các cơ quan giám sát:
- Hiệp hội nghề nghiệp: tập huấn về công bố thông tin
BCTC trên BCTN và thông lệ QTCT tốt.
- Sở giao dịch chứng khoán cần đánh giá những BCTN của
các doanh nghiệp chưa đạt yêu cầu, để từng bước nâng cao chất
lượng BCTN chung cho các công ty niêm yết, kể cả quy định về
chế tài.
- Ủy ban chứng khoán nhà nước: điều chỉnh QCQTCT, tăng
cường giám sát và chế tài.
5.2.5 Công ty kiểm toán độc lập
Footer Page 23 of 133.
Header Page 24 of 133.
24
Ngoài việc cung cấp dịch vụ kiểm toán BCTC, trong tương
lai các công ty kiểm toán độc lập cần cung cấp dịch vụ đảm bảo
nhằm đánh giá tính hợp lý về những thông tin phi tài chính mà
doanh nghiệp trình bày trên BCTN.
5.3. Các hạn chế của luận án và những hướng nghiên cứu
trong tương lai
5.3.1 Các hạn chế của luận án
- Thang đo chất lượng thông tin BCTC chỉ có giá trị trong
hiện tại.
- Mặc dù cố gắng hạn chế những yếu tố chủ quan, chắc chắn