BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN HỢI
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÀI
SẢN GÂY RA THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 62.38.01.03
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2017
Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS Bùi Đăng Hiếu
2. TS Hoàng Thị Thúy Hằng
Phản biện 1: PGS. TS. Hà Thị Mai Hiên
Phản biện 2: TS. Đinh Trung Tụng
Phản biện 3: TS. Nguyễn Văn Cường
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp
hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân
sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
: Nghiên cứu sinh
: Người chiếm hữu
: Người sử dụng
: Trách nhiệm bồi thường
: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1
MỞ ĐẦU
Trước khi BLDS 2015 có hiệu lực, văn bản pháp luật quy
định về BTTH do tài sản gây ra là BLDS 2005, trong đó có những
quy định được hướng dẫn bởi NQ 03/2006. Các quy định về
BTTH do tài sản gây ra trong hai văn bản này còn còn tồn tại
nhiều bất cập ở như: (1) Bộ luật dân sự mới chỉ quy định thành 4
trường hợp cụ thể về BTTH do tài sản gây ra mà chưa có quy định
bao quát được tất cả các trường hợp xảy ra trên thực tiễn; (2) Các
quy định hiện tại cũng chưa rõ ràng, tản mát, việc hướng dẫn áp
dụng pháp luật cũng chưa rõ ràng. Những bất cập này dẫn đến
việc thiếu cơ sở cho việc thực hiện, chấp hành pháp luật, đồng
thời thiếu cơ sở để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải
quyết các tranh chấp phát sinh. Dẫn đến việc Tòa án thường vận
dụng không chính xác quy định pháp luật để giải quyết. Đồng
thời, cùng một vụ việc hoặc những vụ việc tương tự nhau nhưng
còn mâu thuẫn giữa các cấp xét xử hoặc các Hội đồng xét xử
trong cùng một cấp Tòa trong việc xác định các vấn đề có liên
quan như chủ thể phải bồi thường, mức bồi thường, …
Những bất cập của BLDS 2005 đã phần nào được khắc
và kiến nghị cụ thể để hoàn thiện pháp luật và thực tiễn áp dụng
pháp luật về TNBTTH do tài sản gây ra. Luận án được nghiên cứu
trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước và pháp luật, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên
cứu khoa học chuyên ngành phù hợp khác như: phân tích, chứng
minh, so sánh, diễn giải và phương pháp xã hội học để làm sáng
tỏ những vấn đề nghiên cứu.
Những đóng góp mới của luận án gồm:
Thứ nhất, luận án đã xác định bản chất của TNBTTH do tài
sản gây ra;
Thứ hai, đã chỉ ra được các học thuyết về BTTH ngoài hợp
đồng nói chung và học thuyết chủ đạo cho việc nghiên cứu TNBTTH
do tài sản gây ra nói riêng;
Thứ ba, xác định được các điều kiện phát sinh TNBTTH do
tài sản gây ra;
3
Thứ tư, việc phân tích nguyên tắc chung trong việc xác định
chủ thể chịu TNBTTH trên cơ sở quy định về năng lực chịu
TNBTTH của cá nhân;
Thứ năm, xác định chủ thể chịu TNBTTH trong trường hợp
tài sản vô chủ, tài sản của người được giám hộ, của người chưa thành
niên gây thiệt hại;
Thứ sáu, việc nghiên cứu các trường hợp BTTH do tài sản
gây ra theo hướng khái quát hoàn toàn mới nhằm xây dựng một bức
tranh toàn diện các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp
luật. Qua đó, giúp các nhà lập pháp cũng như các nhà nghiên cứu có
không gắn liền với sự vi phạm nghĩa vụ quản lý tài sản của CSH, của
NCH, sử dụng tài sản. Do đó, theo quan điểm của NCS, bản chất của
TNBTTH do tài sản gây ra là hậu quả bất lợi mà một chủ thể phải
gánh chịu do sự vi phạm các quy định pháp luật về quản lý tài sản
hoặc do họ là người được hưởng các lợi ích mà tài sản mang lại
nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa những giá trị mà hoạt động của tài
sản mang lại với thiệt hại mà nó gây ra.
1.2. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
Ngoài những đặc điểm chung của TNBTTH ngoài hợp đồng,
TNBTTH do tài sản gây ra cũng có những đặc điểm riêng biệt sau:
Thứ nhất, hoạt động của tài sản là nguyên nhân dẫn đến thiệt
hại chứ không phải do hành vi sử dụng tài sản;
Thứ hai, lỗi không phải là điều kiện bắt buộc phải chứng
minh khi xác định TNBTTH của CSH, NCH, NSD tài sản;
Thứ ba, khi xác định chủ thể chịu TNBTTH do tài sản gây ra,
chúng ta không chỉ căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức và năng
lực về tài sản của CSH, NCH, NSD tài sản tại thời điểm tài sản gây
thiệt hại, mà còn phải căn cứ vào việc chủ thể có được hưởng lợi ích
và các quyền năng đối với tài sản hay không.
5
Thứ tư, chủ thể chịu TNBT có thể xác định theo thỏa thuận
1.3. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do tài sản gây ra
* Về điều kiện “có thiệt hại xảy ra”
Trong TNBTTH ngoài hợp đồng nói chung, thiệt hại thường
được xác định là những tổn thất về vật chất và những tổn thất về tinh
thần. Thiệt hại do hành vi gây ra hay do tài sản gây ra cũng đều có
Có hai quan điểm liên quan đến việc xác định lỗi có phải là
một trong các điều kiện phát sinh TNBTTH do tài sản gây ra hay
không. Quan điểm thứ nhất cho rằng, lỗi không phải là một trong
các điều kiện phát sinh TNBTTH do tài sản gây ra. Quan điểm thứ
hai lại cho rằng lỗi là cơ sở của TNBTTH nói chung và TNBTTH do
tài sản gây ra nói riêng. NCS đồng ý với quan điểm thứ nhất. Tức là lỗi
không phải là một trong các điều kiện phát sinh TNBTTH.
1.4. Cơ sở xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do tài sản gây ra
TNBTTH do tài sản gây ra không phải lúc nào cũng xuất
phát từ sự vi phạm quy định về quản lý tài sản mà nó còn xuất phát
từ nguyên tắc chịu rủi ro do tài sản mang lại. Do đó, trong trường
hợp tài sản gây thiệt hại thì việc xác định chủ thể chịu TNBTTH của
cá nhân sẽ không chỉ dựa vào yếu tỗ lỗi của người phải bồi thường
mà còn sự vào nguyên tắc “người được hưởng lợi ích từ tài sản hoặc
được quyền khai thác lợi ích từ tài sản phải gánh chịu rủi ro do tài
sản mang lại”.
1.5. Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
Căn cứ loại tài sản gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do tài sản gây ra bao gồm: TNBTTH do động vật gây ra;
TNBTTH do cây cối gây ra; TNBTTH do nhà cửa, công trình xây
dựng khác gây ra; TNBTTH do các tài sản khác gây ra
Căn cứ mức độ nguy hiểm của tài sản, TNBTTH do tài sản
gây ra bao gồm: TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra và
TNBTTH do các nguồn nguy hiểm khác gây ra.
Căn cứ nguồn gốc phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do tài sản gây ra bao gồm: (i) trách nhiệm bồi thường thiệt hại xuất phát
từ sự vi phạm quy định về quản lý tài sản; (ii) trách nhiệm bồi thường
thiệt hại xuất phát từ nguyên tắc chịu rủi ro do tài sản mang lại.
đề này như Bộ luật dân sự Pháp, Bộ luật dân sự Đức, Bộ luật dân sự
Nhật Bản, Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan.
2.1.2.2. Xác định nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại
8
Để xác định thiệt hại do nguồn nguy hiểm gây ra phải xác
định được hai yếu tố:
Một là, phải có sự hiện diện của một loại nguồn nguy hiểm
cao độ, tức là tài sản gây thiệt hại phải là nguồn nguy hiểm cao độ
theo quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS 2005 cũng như khoản 1
Điều 601 BLDS 2015;
Hai là, thiệt hại phải do tự thân hoạt động của nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra (ví dụ xe ô tô đang di chuyển thì bị nổ lốp gây
thiệt hại, xe ô tô đang xuống dốc thì đứt phanh dẫn đến tai nạn, …).
2.1.2.3. Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, người phải BTTH
có thể là CSH, NCH, NSD hoặc người chiếm hữu, sử dụng trái pháp
luật. Căn cứ quy định tại Điều 601 BLDS 2015, có thể xác định cụ thể
chủ thể chịu TNBTTH.
2.1.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Thứ nhất, hầu hết các vụ việc Hội đồng xét xử không phân
biệt hành vi điều khiển phương tiện gây thiệt hại với tự thân nguồn
nguy hiểm cao độ gây thiệt hại mà đều xác định thiệt hại do nguồn
nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, nên việc áp dụng cơ sở pháp lý về
BTTH trong nhiều vụ việc còn chưa chính xác.
Thứ hai, trong một số vụ việc, Hội đồng xét xử còn mâu thuẫn
với nhau trong việc xác định căn cứ loại trừ TNBTTH. Nguyên nhân
trong không gian.
Thứ hai, hoạt động của động vật có thể vượt ra khỏi tầm
kiểm soát của con người.
Thứ ba, động vật có thể tự gây thiệt hại mà không có bất kỳ
sự tác động nào của con người cũng như môi trường xung quanh.
Thứ tư, động vật có thể gây thiệt hại trong phạm vi rộng do
khả năng tự di chuyển trong môi trường sống.
Thứ năm, động vật là loại tài sản đòi hỏi mức độ quản lý cao
của con người.
2.2.2. Thực trạng về bồi thường thiệt hại do động vật gây ra
2.2.2.1. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
a. Khái niệm, đặc điểm của súc vật
* Khái niệm súc vật
“Súc vật là những loài động vật đã được con người thuần
dưỡng để trở thành những vật nuôi trong nhà, sống thân thiện với
10
con người và môi trường xung quanh, con người có thể điều khiển
được hoạt động của chúng để phục vụ cho các nhu cầu của mình”
* Đặc điểm của súc vật
Ngoài các đặc điểm chung của động vật, súc vật có những
đặc điểm riêng có thể phân biệt với thú dữ, cụ thể như:
Thứ nhất, súc vật thường là những động vật đã được con
người thuần dưỡng.
Thứ hai, súc vật là động vật sống cùng với môi trường sống
của con người
Thứ ba, súc vật thường gây thiệt hại khi bị đe dọa
Thứ tư, con người có thể dễ dàng kiểm soát được hoạt động
“Thú dữ là một trong những loài động vật ăn thịt, rất lớn,
chưa được con người thuần hóa, hoạt động mang tính bản năng cao,
có thể gây thiệt hại cho con người và các loài động vật khác ”.
Những đặc điểm đặc trưng của thú dữ so với các loài động
vật khác như sau:
Thứ nhất, thú dữ là một nguồn nguy hiểm cao độ.
Thứ hai, thú dữ là những loài động vật lớn.
Thứ ba, thú dữ là những loài động vật rất hung dữ, tức là “sẵn
sàng gây tai họa cho con người một cách đáng sợ”.
Thứ tư, thú dữ là những loài động vật chưa được con người
thuần dưỡng để nuôi trong nhà.
Thứ năm, thú dữ là loài động vật có thể vượt khỏi tầm kiểm
soát của con người ngay cả khi con người đang trực tiếp kiểm soát.
b. Những điểm tương đồng và khác biệt với bồi thường thiệt hại do
súc vật gây ra
Thứ nhất, những điểm tương đồng:
Một là, về chủ thể chịu TNBT, cả hai trường hợp đều xác
định chủ thể chịu TNBTTH bao gồm CSH, NCH sử dụng (gồm cả
NCH sử dụng trái pháp luật);
Hai là, về yếu tố lỗi của chủ thể phải bồi thường, cả hai
trường hợp đều hướng tới việc xác định TNBT của CSH, người được
giao chiếm hữu, sử dụng không dựa vào lỗi;
Ba là, về căn cứ loại trừ trách nhiệm, cả hai trường hợp chủ
thể đều được loại trừ khi xảy ra sự kiện bất khả kháng.
Thứ hai, những điểm khác biệt:
Một là, về chủ thể chịu TNBT, khi súc vật gây thiệt hại, ngoài
CSH, NCH, sử dụng súc vật (bao gồm cả NCH, sử dụng trái pháp
12
được nuôi trong các hộ gia đình mà gây thiệt hại cho con người và tài
13
sản, thì việc vận dụng cơ sở pháp lý để buộc CSH, người quản lý
phải bồi thường là một vấn đề cần được xem xét.
2.2.3. Thực tiễn bồi thường thiệt hại do động vật gây ra
2.2.3.1. Thực tiễn bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
Thứ nhất, trong một số vụ việc, Hội động xét xử còn nhầm lẫn
trong việc xác định gia cầm là súc vật và xác định cả “lỗi của súc vật”.
Thứ hai, còn tồn tại việc nhận diện và áp dụng các quy định
pháp luật không chính xác. Tức là súc vật gây thiệt hại nhưng lại căn
cứ vào Điều 604 để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại.
Thứ ba, một số trường hợp còn nhầm lẫn giữa trường hợp
súc vật gây thiệt hại với hành vi gây thiệt hại có liên quan đến súc
vật, dẫn đến việc xác định chủ thể chịu TNBT là không chính xác
Thứ tư, còn tồn tại mâu thuẫn giữa các cấp Tòa trong việc
xác định chủ thể chịu TNBT, cũng như mức bồi thường
Thứ năm, còn tồn tại một số vụ việc Tòa án xác định đúng
nguyên nhân gây thiệt hại không phải súc vật nhưng lại xác định
CSH súc vật phải bồi thường
Thứ sáu, một số vụ việc, Tòa án xác định lỗi của CSH và
người bị thiệt hại chưa chính xác nên việc giải quyết vấn đề bồi
thường thiệt hại chưa phù hợp
2.2.3.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do các
loài động vật khác gây ra
Qua nghiên cứu thực tế, hầu như các vụ việc có liên quan đến
BTTH do các loại động vật khác (không phải thú dữ, súc vật) gây ra
thường không được giải quyết tại Tòa án. Hầu như, nếu có phát sinh
nhân nào) mà đủ các điều kiện phát sinh TNBTTH thì cơ sở pháp lý
được áp dụng để giải quyết vấn đề BTTH là Điều 604 BLDS 2015.
2.3.2.2. Các trường hợp làm phát sinh trách nhiệm bồi thường
BLDS 2015 không xác định cụ thể trường hợp nào cây cối gây
thiệt hại phải bồi thường, tức là có sự kiện cây cối gây thiệt hại xảy ra
trên thực tế thì TNBTTH sẽ phát sinh, bất kể thiệt hại xảy ra là do cây
cối đổ, gẫy, cháy hay các bộ phận của cây tiết chất độc, ....
2.3.2.3. Chủ thể chịu bồi thường thiệt hại
Theo Điều 604 BLDS 2005, chủ thể chịu TNBTTH do cây
cối gây ra có thể là CSH, NCH, người được giao quản lý. Đây là một
15
sự thay đổi phù hợp, thể hiện sự tiến bộ của hoạt động lập pháp. Sự
thay đổi này đã khắc phục những hạn chế, bất cập của BLDS 2005.
2.3.2.4. Căn cứ loại trừ trách nhiệm
BLDS 2005 và BLDS 2015 đều quy định hai căn cứ loại trừ
TNBTTH do cây cối gây ra đó là thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của
người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng.
2.3.3. Thực tiễn bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra
Thứ nhất, cây cối chủ yếu gây thiệt hại do bị đổ, gẫy bất ngờ
khi trời mưa tại các khu đô thị lớn đông người qua lại. Hơn nữa, hầu
hết mọi người không thể đề phòng nên thiệt hại xảy ra trong hầu hết
các vụ đều rất nặng nề cả về người và tài sản có giá trị lớn.
Thứ hai, cây cối thường gây thiệt hại trong tình trạng thời
thiết cực đoan, mưa rông, nên việc xác định TNBTTH thường rất
khó khăn, bởi vì cơ quan có trách nhiệm hoặc là cho rằng đó là do
sự kiện bất khả kháng, hoặc là đùn đẩy trách nhiệm cho nhau.
Thứ ba, cũng giống như hầu hết các vụ việc liên quan đến tài
suy đoán là có lỗi.
2.4.2. Thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do nhà cửa,
công trình xây dựng khác gây ra
2.4.2.1. Các trường hợp phát sinh trách nhiệm bồi thường
BLDS 2015 được ban hành đã giải quyết cơ bản những vấn
đề còn hạn chế trong BLDS 2005. Theo đó, Điều 605 BLDS 2015
không còn quy định cụ thể các trường hợp nhà cửa, công trình khác
gây thiệt sẽ làm phát sinh TNBT, mà trong mọi trường hợp nhà cửa,
công trình xây dựng khác gây thiệt hại, TNBTTH đều sẽ phát sinh.
2.4.2.2. Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường
a. Trách nhiệm của CSH, NCH, người được giao quản lý, sử dụng
nhà cửa, công trình xây dựng khác
* Về cơ sở xác định TNBT của CSH, NCH, người được giao
quản lý, sử dụng
Theo quy định Điều 605 BLDS 2015, TNBTTH của CSH,
NCH, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây
dựng khác phát sinh trên cơ sở họ được thực hiện các quyền năng đối
với nhà cửa, công trình xây dựng khác chứ hoàn toàn không xuất
phát từ yếu tố lỗi của họ trong quản lý tài sản.
* Về thứ tự chịu trách nhiệm và việc phân định trách nhiệm
17
Cả BLDS 2005 và BLDS 2015 đều không xác định thứ tự chịu
trách nhiệm của CSH, NCH, sử dụng tài sản. Điều đó dẫn đến khó khăn
trong việc xác định chủ thể sẽ chịu TNBTTH khi có thiệt hại xảy ra (ví
dụ, khi CSH đã chuyển giao cho người khác quản lý, sử dụng rồi thì có
phải bồi thường nếu có thiệt hại không?). Do đó, cần phải xác định thứ
tự chịu TNBT và phải phân định được trách nhiệm của các chủ thể khi
nếu nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại mà người thứ ba
có lỗi thì họ không phải chịu TNBT. Tuy nhiên, việc không quy định
cụ thể về trách nhiệm của người thứ ba khi nhà cửa, công trình khác
gây thiệt hại như hiện nay sẽ dẫn tới những vấn đề bất cập có thể gây
ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động xét xử cũng như quyền lợi của
các chủ thể có liên quan.
2.4.2.3. Căn cứ loại trừ trách nhiệm
Trong BLDS 2015, các căn cứ loại trừ TNBTTH được quy
định chung cho các trường hợp khác nhau. Theo đó, khi nhà cửa,
công trình xây dựng khác gây thiệt hại, việc xác định các trường hợp
loại trừ TNBTTH sẽ dựa vào quy định chung tại khoản 2 Điều 584.
Trong đó, TNBTTH cũng được loại trừ khi có sự kiện bất khả kháng
hoặc hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại.
2.4.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do nhà
cửa, công trình xây dựng khác gây ra
Thứ nhất, vấn đề bất cập nổi bật khi áp dụng quy định về
BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra đó là trong nhiều
trường hợp, Hội đồng xét xử còn nhầm lẫn giữa nhà cửa, công trình
xây dựng khác gây thiệt hại với hoạt động xây dựng gây thiệt hại, nên
vận dụng không chính xác quy định của pháp luật.
Thứ hai, còn tồn tại việc xác định không chính xác chủ thể phải
BTTH do công trình xây dựng gây ra.
2.5. Bồi thường thiệt hại do các loại tài sản khác gây ra
BLDS 2015 được ban hành đã đưa ra quy định chung về
BTTH do tài sản gây ra tại khoản 3 Điều 584 như sau: “Trường hợp
tài sản gây thiệt hại thì CSH, NCH tài sản phải chịu TNBTTH, trừ
trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”.
Những sửa đổi, bổ sung của BLDS 2015 về BTTH do tài sản gây ra đã
đưa ra được nguyên tắc chung để áp dụng vào các trường hợp BTTH
do tài sản nói chung gây ra.
“Điều 587. Bồi thường thiệt hại khi nhiều người cùng có lỗi
Trường hợp thiệt hại xảy ra mà nhiều người cùng có lỗi thì
những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại.
TNBT của từng người được xác định tương ứng với mức độ lỗi của
20
mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải BTTH
theo phần bằng nhau”.
3.2. Hoàn thiện quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
cao độ gây ra trong Bộ luật dân sự năm 2015
Thứ nhất Theo quan điểm của NCS, cần xây dựng quy định
hướng dẫn xác định các loại nguồn nguy hiểm cao độ khác bằng cách
đưa ra các tiêu chí để có thể xác định một loại tài sản nào đó là
nguồn nguy hiểm cao độ.
Thứ hai, khái niệm thú dữ cần phải được luật hóa hoặc phải
được hướng dẫn chi tiết trong văn bản hướng dẫn thi hành luật.
Thứ ba, NCS kiến nghị sửa đổi đoạn 2 khoản 1 Điều 601
Bô luật dân sự năm 2015 như sau:
“CSH, người được CSH giao chiếm hữu, sử dụng nguồn
nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận
chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật”.
Thứ tư, NCS cho rằng cần phải sửa đổi khoản 2 Điều 601
BLDS 2015 như sau:
“CSH nguồn nguy hiểm cao độ phải BTTH do nguồn nguy
hiểm cao độ gây ra; nếu CSH đã giao cho người khác chiếm hữu, sử
dụng thông qua giao dịch thì người này phải bồi thường, trừ trường
hợp có thoả thuận khác”.
Thứ năm, NCS cho rằng, cần phải sửa đổi khoản 3 và khoản
Một là, NCS cho rằng cần ban hành văn bản hướng dẫn thi
hành, trong đó phần giải thích từ ngữ sẽ đưa ra khái niệm súc vật.
Hai là, NCS cho rằng cần sửa đổi khoản 1 Điều 603 như sau:
“CSH súc vật phải BTTH do súc vật gây ra cho người khác.
Người được CSH giao chiếm hữu, sử dụng súc vật thông qua giao
dịch phải BTTH trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác”.
Ba là, NCS cho rằng khoản 4 Điều 603 BLDS 2015 cần
được xóa bỏ. Trong trường hợp, việc việc xóa bỏ chưa thể thực hiện
được thì cũng cần phải được sửa lại cho phù hợp như sau:
“Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt
hại thì CSH súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không
được trái pháp luật, đạo đức xã hội, trừ trường hợp có thỏa thuận
khác. Nếu có lỗi của người thứ ba hoặc của NCH, sử dụng trái
22
pháp luật thì việc bồi thường được thực hiện theo khoản 2 hoặc
khoản 3 Điều này”
Thứ hai, về BTTH do các loài động vật khác gây ra
NCS cho rằng cần phải sửa đổi khoản 3 Điều 584 BLDS
2015 hoặc quy định chi tiết trong văn bản hướng dẫn thi hành Bộ
luật dân sự về BTTH với nội dung: “Trong trường hợp thú rừng gây
thiệt hại thì việc BTTH thuộc về Nhà nước”.
3.4. Hoàn thiện quy định về bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra
trong Bộ luật dân sự năm 2015
Thứ nhất, NCS cho rằng cần loại bỏ cụm từ “người được giao
quản lý” khỏi Điều 604 BLDS 2015.
Thứ hai, Theo quan điểm của NCS, phải thêm cụm từ “NSD”