ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
KHÚC THỊ TRANG NHUNG
Nh÷ng vÊn ®Ò vÒ MIÔN TR¸CH NHIÖM BåI TH¦êNG
THIÖT H¹I DO VI PH¹M HîP §åNG theo ph¸p luËt viÖt nam
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGÔ HUY CƯƠNG
HÀ NỘI - 2014
Ay
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
1.2.3.
1.2.4.
Yếu tố thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường .......................................... 15
Yếu tố mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt
hại do hành vi đó gây ra ........................................................................... 16
1.2.5.
Yếu tố lỗi của người vi phạm nghĩa vụ ..................................................... 17
1.3.
Khái niệm, bản chất, ý nghĩa của miễn trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng ............................................................... 19
Khái niệm và bản chất của miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
vi phạm hợp đồng .................................................................................... 19
Ý nghĩa của quy định về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng ........................................................................................ 22
1.3.1.
1.3.2.
1.3.3.
Các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng .................................................................................................. 24
Kết luận chương 1 ............................................................................................... 31
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG ................... 32
2.4.
Các bất cập của pháp luật về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do vi phạm hợp đồng ....................................................................... 72
Kết luận chương 2 ............................................................................................... 87
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG ........................... 88
3.1.
Hoàn thiện quy định của pháp luật về miễn trừ trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do sự kiện bất khả kháng ........................................... 89
3.2.
Hoàn thiện quy định của pháp luật về miễn trừ trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do sự vi phạm nghĩa vụ của một bên hoàn toàn
do lỗi của bên kia.................................................................................... 92
3.3.
Hoàn thiện quy định của pháp luật về miễn trừ trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do việc thực hiện quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ............................................................................... 94
3.4.
Hoàn thiện quy định của pháp luật về việc miễn trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng khi có sự thỏa thuận của
Dân sự sơ thẩm
GĐT:
Giám đốc thẩm
HĐTS:
Hợp đồng thuê sạp
HĐXX:
Hội đồng xét xử
KDTM:
Kinh doanh thương mại
NXB:
Nhà xuất bản
UBND:
Ủy ban nhân dân
MỞ ĐẦU
căn cứ miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng còn mang
tính chất sơ sài, chung chung và thiếu tính chi tiết. Bên cạnh đó, những quy
định về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Bộ luật dân sự 2005 và
Luật thương mại 2005 còn nhiều những vấn đề chưa thống nhất và cụ thể. Do
đó đã dẫn đến có nhiều vụ tranh chấp xảy ra kéo dài, giải quyết qua nhiều cấp
nhưng không thành bởi lẽ có nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này.
Chính vì vậy, tác giả quyết định chọn đề “Những quy định về miễn trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam” làm
đề tài tốt nghiệp luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về chế định hợp đồng nói chung và về miễn trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng nói riêng đã được nhiều nhà
nghiên cứu tập trung tìm hiểu ở các khía cạnh khác nhau. Có thể kể đến các
công trình nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu về hợp đồng nói chung có các tác giả như:
+ Tác giả Nguyễn Ngọc Khánh với cuốn sách “Chế định hợp đồng
trong Bộ luật dân sự Việt Nam”, Nxb Tư pháp, năm 2007;
+ Tác giả Ngô Huy Cương với cuốn sách “Giáo trình luật hợp đồng
Việt Nam - Phần chung” Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2013;
+ Tác giả Nguyễn Như Phát, Lê Thị Thu Thủy với cuốn sách “Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay”, Nxb
Công an nhân dân, năm 2003.
Những công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu tập trung nghiên cứu về
vấn đề hợp đồng nói chung, về vấn đề nghiên cứu về miễn trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng các công trình trên mới chỉ dừng lại ở
khía cạnh nghiên cứu tổng thể, chỉ ra được những vấn đề chung nhất.
- Nghiên cứu về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng, về vấn đề này hiện chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính
2
3
giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề miễn trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
4. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
biện chứng, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới, xây dựng nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa; các chính
sách pháp luật, chính sách kinh tế của Nhà nước ta trong những năm qua.
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả cũng kết hợp sử dụng các
phương pháp nghiên cứu: so sánh, tác giả đã tiến hành so sánh những quy
định về căn cứ miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
theo pháp luật các nước trên thế giới với quy định của pháp luật Việt Nam,
so sánh những quy định trong Bộ luật dân sự 2005 và Luật thương mại 2005.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng những phương pháp phân tích và bình luận các
bản án, những quy định của pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp
luật để giải quyết những tranh chấp phát sinh đối với những trường hợp vi
phạm hợp đồng và đặc biệt là các quy định của pháp luật về miễn trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại, trong bối cảnh
Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế để làm rõ hơn các nội dung
được nghiên cứu.
5. Cơ sở lý luận và khoa học của đề tài
- Cơ sở lý luận: Với phương pháp luận là Chủ nghĩa Mác Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới, xây
dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, các chính sách pháp luật, chính sách kinh tế giúp cho tư duy và góc độ
nghiên cứu luôn đi đúng hướng và có hiệu quả.
- Cơ sở khoa học: Đề tài được nghiên cứu dựa trên các cơ sở các ngành
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng.
5
Chương 1
LÝ LUẬN VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm vị trí, vai trò của chế tài bồi thường thiệt
hại do vi phạm hợp đồng
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của chế tài bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng
Khi hợp đồng bị vi phạm dưới hình thức không thực hiện nghĩa vụ hoặc
thực hiện nghĩa vụ không đúng cam kết, bên vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm
hợp đồng (hay còn gọi là trách nhiệm dân sự theo hợp đồng) với bên có
quyền. Theo quy định của phần lớn các hệ thống pháp luật trên thế giới, các
hình thức trách nhiệm theo hợp đồng bao gồm: Bồi thường thiệt hại, phạt vi
phạm hợp đồng. Tuy nhiên hiện nay chiếu theo pháp luật Việt Nam có sự
khác biệt giữa quy định về trách nhiệm hợp đồng trong Bộ luật dân sự
(BLDS) và Luật thương mại. Theo đó, Bộ luật dân sự quy định hai hình thức
trách nhiệm theo hợp đồng là: Bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm; còn Luật
thương mại thì quy định sáu hình thức chế tài thương mại (về bản chất cũng là
trách nhiệm hợp đồng) gồm: Buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm,
buộc bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng.
Trong các chế tài đối với vi phạm hợp đồng thì bồi thường thiệt hại là
một trong những chế tài phức tạp nhất về các điều kiện áp dụng [1, tr.398].
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một dạng của trách nhiệm pháp lý. Và
tinh thần và mục đích của nó. Trong Công ước Viên 1980 và Bộ nguyên tắc
Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004 tương ứng tại Điều 74 và
Điều 7.4.1. quy định quyền bồi thường thiệt hại phát sinh ngay cả khi xảy ra
vi phạm bất kỳ một nghĩa vụ nào của hợp đồng. Và cuối cùng, trong hệ thống
pháp luật hợp đồng Common law, mọi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đều là căn
cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại [5, tr.298].
7
Trong quan hệ giữa các thương nhân, pháp luật thương mại ra đời là
cần thiết để duy trì và bảo đảm sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia quan hệ
hợp đồng. Khi một hợp đồng thương mại đã được giao kết hợp pháp và phát
sinh hiệu lực pháp luật thì các bên phải thực hiện các nghĩa vụ mà mình đã
thỏa thuận trong hợp đồng. Việc vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng dẫn
đến hậu quả bên vi phạm phải chịu các hình thức trách nhiệm - chế tài. Đây là
khái niệm chế tài hiểu theo nghĩa hẹp, chế tài chỉ bao gồm các chế tài do vi
phạm hợp đồng trong thương mại mà bên bị vi phạm có quyền được lựa chọn
áp dụng hoặc yêu cầu áp dụng chế tài. Đó là các biện pháp tác động bất lợi về
tài sản của bên có quyền lợi bị vi phạm đối với chủ thể có hành vi vi phạm
cam kết hợp đồng trong thương mại. Nếu một bên có hành vi vi phạm hợp
đồng thì phải gánh chịu những hậu quả pháp lí (bất lợi) nhất định do hành vi
vi phạm đó gây ra. Luật thương mại 2005 quy định các loại chế tài tại Điều
292 theo đó có các chế tài sau: “(a) Buộc thực hiện đúng hợp đồng; (b) Phạt
vi phạm; (c) Bồi thường thiệt hại; (d) Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; (e)
Đình chỉ hợp đồng; (f) Hủy bỏ hợp đồng; (g) Các biện pháp khác do các bên
thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật” [11].
Về bản chất chế tài trong thương mại chính là các chế tài hợp đồng,
được quy định trong các quy phạm pháp luật thương mại bao gồm những hình
thức xử lí và hậu quả pháp lí áp dụng đối với bên có hành vi vi phạm trong
Khi thương nhân thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng trong thương
mại, có thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi mang tính vật chất trong đó
có hình thức chế tài bồi thường thiệt hại. Bản chất của các giao dịch dân sự và
thương mại là các quan hệ về tài sản, có tính chất đền bù ngang giá, trong đó
hợp đồng trong thương mại được các bên kí kết chủ yếu là những hợp đồng
mang tính chất đền bù ngang giá, phản ánh mối quan hệ mang tính chất hàng
hóa tiền tệ, nên việc áp dụng các chế tài mang tính tài sản là tất yếu, trừ khi
chính bản thân người bị vi phạm trong cùng quan hệ hợp đồng không muốn
áp dụng chế tài hợp đồng đối với bên vi phạm. Hậu quả bất lợi mang tính chất
9
tài sản thể hiện ở việc bên có hành vi vi phạm phải nộp một khoản tiền phạt
hợp đồng, nộp tiền bồi thường hợp đồng hay những chi phí cần thiết để thực
hiện đúng hợp đồng… Chính vì vậy, theo quy định của Điều 229, khoản 1
Luật thương mại: “Bồi thường thiệt hại là việc bên có quyền lợi bị vi phạm
yêu cầu bên vi phạm trả tiền bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây
ra” [11]. Như vậy, Điều 229 đã xác định rõ tính chất của việc bồi thường
thiệt hại đó là việc bên vi phạm phải trả tiền bồi thường thiệt hại, đây chính là
việc bù đắp một lợi ích vật chất do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng.
- Chủ thể lựa chọn và quyết định hình thức chế tài buộc bồi thường
thiệt hại chính là bên bị vi phạm trong quan hệ hợp đồng
Những điều khoản các bên đã cam kết trong hợp đồng là điều khoản bắt
buộc phải được tuân thủ thực hiện, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng theo các cam kết được thỏa thuận trong hợp đồng thì chủ thể đó bị coi là
có hành vi vi phạm hợp đồng. Lúc này bên bị vi phạm có thể áp dụng một
hoặc một số chế tài theo cam kết trong hợp đồng hay theo quy định của pháp
luật. Khi bên bị vi phạm áp dụng các chế tài trong thương mại trong đó có chế
tài buộc bồi thường thiệt hại, nhưng bên vi phạm không thừa nhận hành vi vi
giữa hành vi gây thiệt hại và hậu quả do hành vi đó gây ra và cuối cùng là có
lỗi của chủ thể vi phạm nghĩa vụ. Khi có đầy đủ các yếu tố trên thì chế tài
buộc bồi thường mới được áp dụng, mặc dù không có sự thỏa thuận trước trong
hợp đồng như trường hợp chế tài phạt vi phạm hợp đồng. Việc chế tài buộc bồi
thường thiệt hại hợp đồng như trên là nhằm để bù đắp một phần những thiệt hại
do nghĩa vụ hợp đồng không được thực hiện đối với bên có quyền.
1.1.2. Vị trí, vai trò của chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
Chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, với tư cách là một bộ
phận của chế tài do vi phạm hợp đồng là điều kiện cần thiết đảm bảo cho
những cam kết của các bên được thực hiện, đặc biệt trong nền kinh tế thị
11
trường khi mà các yếu tố cạnh tranh luôn là động lực cho sự phát triển của
chính các thương nhân. Thương nhân có quyền tự do kinh doanh những gì
pháp luật không cấm, tự mình quyết định kinh doanh cái gì, kinh doanh cùng
với ai và kinh doanh như thế nào. Hợp đồng là công cụ để thương nhân tiến
hành các hoạt động sản xuất kinh doanh và là cơ sở pháp lí để áp dụng chế tài
trong thương mại đối với bên vi phạm.
- Nâng cao ý thức kỷ luật trong việc thực hiện hợp đồng trong thương mại
Kỷ luật hợp đồng đòi hỏi các bên nghiêm chỉnh chấp hành đầy đủ các
quy định của pháp luật về hợp đồng cũng như tự nguyện thi hành các cam kết
trong hợp đồng mà các bên đã xây dựng. Điều đó khẳng định, chế tài hợp
đồng có vai trò trong việc hình thành và củng cố thái độ tích cực của các bên
đối với nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hợp đồng.
- Đảm bảo quyền tự do hợp đồng
Tự do hợp đồng theo pháp luật hiện hành được hiểu rất rộng đó là
thương nhân được tự do lựa chọn đối tác, tự do lựa chọn hình thức hợp đồng,
tự nguyện quyết định việc giao kết hợp đồng, tự do xác định nội dung cụ thể
đồng đối với bên bị vi phạm hay rơi vào trường hợp miễn trách nhiệm theo quy
định của pháp luật. Như vậy, trong trường hợp một bên vi phạm hợp đồng, thì
họ đều có thể bị đe dọa gánh chịu những hậu quả bất lợi về tài sản. Nếu chưa
có hành vi vi phạm hợp đồng, việc quy định các chế tài trong thương mại mang
tính “phòng ngừa” các biểu hiện vi phạm pháp luật hợp đồng, nâng cao ý thức
trách nhiệm và thái độ tích cực hợp tác của các bên trong quan hệ hợp đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu phát sinh vi phạm hợp đồng, các chế
tài hợp đồng được bên bị vi phạm áp dụng nhằm bảo vệ lợi ích của mình. Đó
có thể là các chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, bồi thường
thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng
để trừng phạt và bồi hoàn tổn thất do hợp đồng bị vi phạm.
Như vậy, việc quy định cụ thể các nguyên tắc và căn cứ áp dụng các
13
chế tài hợp đồng trong thương mại, Luật thương mại 2005 đã khẳng định vai
trò của mình là rất quan trọng trong việc phòng ngừa mọi biểu hiện vi phạm
pháp luật hợp đồng. Ngoài ra góp phần giáo dục, nâng cao ý thức trách nhiệm
trong việc thực hiện các điều khoản hợp đồng mà các bên đã thiết lập.
1.2. Điều kiện áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
1.2.1. Các điều kiện tổng quát về việc áp dụng chế tài bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng
Theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật thương mại Việt Nam việc
áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng phải tuân thủ những
điều kiện nhất định như: Các điều kiện này là yêu cầu bắt buộc phải đặt ra
khi chủ thể có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm bồi
thường của mình, đồng thời cũng là những yêu cầu mà Tòa án, Trọng tài
thương mại bắt buộc bên bị thiệt hại phải chứng minh trong những trường hợp
khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng có thể được thể hiện dưới dạng hành động
hoặc không hành động.
Sự vi phạm nghĩa vụ dẫn tới trách nhiệm bồi thường theo Bộ luật dân
sự Việt Nam năm 2005 được chia thành hai loại: Một là, không thực hiện
nghĩa vụ; hai là, thực hiện không đúng nghĩa vụ (Điều 302, khoản 1). Về
nguyên tắc Bộ luật dân sự buộc các bên phải thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ
của mình. Việc thực hiện không đúng, thực hiện không đầy đủ, thực hiện
chậm trễ hoặc không thực hiện đều bị xem là vi phạm. Quan niệm này có lẽ
xuất phát từ nguyên tắc nền tảng của luật hợp đồng - sự tự do ý chí. Tuy
nhiên, sự khắt khe đó không thể là một giải pháp hoàn toàn tốt cho mối quan
hệ giữa các bên trong giao kết hợp đồng [1, tr.406].
1.2.3. Yếu tố thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường
Thiệt hại là một trong những yêu cầu trong xác định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Thiệt hại là sự mất mát hoặc giảm sút
15
về lợi ích vật chất hoặc tinh thần được pháp luật bảo vệ. Thiệt hại vật chất
thực tế được hiểu là sự biến đổi theo chiều hướng xấu trong tài sản của bên bị
vi phạm thể hiện ở những tổn thất thực tế tính được bằng tiền mà bên đó gánh
chịu. Thiệt hại vật chất thực tế do vi phạm hợp đồng mua bán gây ra là căn cứ
bắt buộc phải có khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại. Đối với các hình
thức chế tài thương mại khác, thiệt hại thực tế có thể được coi là tình tiết xác
định mức độ nặng nhẹ của chế tài được áp dụng.
Trong các quan hệ thương mại thiệt hại vật chất xảy ra có thể là: Giá
trị tài sản mất mát, hư hỏng; Chi phí thực tế hợp lí để ngăn chặn và hạn chế
tổn thất; Lợi nhuận bị bỏ lỡ thể hiện ở phần chênh lệch giá bán (mua) hàng
hóa dịch vụ trên thực tế so với giá bán (mua) hàng hóa dịch vụ đó theo hợp
đồng đã kí kết…
tế được xác định khi hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế có mối
quan hệ nội tại, tất yếu. Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp
gây ra thiệt hại.
Quan hệ nhân quả, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 307 Bộ luật
dân sự Việt Nam năm 2005 và Điều 303 Luật Thương mại Việt Nam năm
2005 được ngầm hiểu là mối liên hệ khách quan, tất yếu, trực tiếp, trong đó
hành vi vi phạm nghĩa vụ là nguyên nhân trực tiếp, còn việc phát sinh những
tổn thất vật chất thực tế là kết quả khách quan, tất yếu. Việc nhấn mạnh
những đặc tính khách quan, đặc tính tất yếu của quan hệ nhân quả tự thân nó
không sai, nhưng cũng không nên quá tuyệt đối hóa những đặc tính đó trong
mọi trường hợp.
1.2.5. Yếu tố lỗi của người vi phạm nghĩa vụ
Trong hệ thống luật Anh - Mỹ, hợp đồng về mặt nguyên tắc được xem
như là một nghĩa vụ bảo đảm. Nếu người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng, thì họ phải chịu trách nhiệm bồi
17
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, không phụ thuộc vào việc mình hoặc
người được mình thuê mướn có lỗi hay không. Tương tự như hệ thống luật
Anh - Mỹ, trong Công ước Viên 1980 cũng không xác định yếu tố lỗi là cơ sở
của trách nhiệm hợp đồng.
Khác với hệ thống luật Anh - Mỹ, ở các nước theo truyền thống Civil
Law điển hình như Pháp, Đức, Nga và cả Việt Nam, yếu tố lỗi là một nguyên
tắc bắt buộc trong việc được coi là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hợp đồng.
Nói một cách khác, ở các nước này, trách nhiệm hợp đồng nói chung được
xây dựng trên nguyên tắc phạm lỗi.
Theo hệ thống pháp luật Việt Nam, nguyên tắc áp dụng yếu tố lỗi làm
cơ sở cho trách nhiệm hợp đồng được Bộ luật dân sự năm 2005 quy định tại
phạm nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định. Trước
khi tìm hiểu về vấn đề miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng phải đi từ vấn đề miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng (gồm cả miễn
trách nhiệm bồi thường thiệt hại và miễn trách nhiệm phạt vi phạm hợp
đồng). Theo đó miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng là việc bên vi phạm
nghĩa vụ theo hợp đồng thương mại không bị áp dụng các hình thức chế tài.
Về căn cứ miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa
vụ hợp đồng, có một số quan điểm cho rằng, nếu là vi phạm trong hợp đồng
thì bên có hành vi vi phạm sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt
hại khi rơi vào các trường hợp do pháp luật quy định hoặc các bên có thỏa
thuận từ trước đó. Còn đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng thì hoàn toàn có thể áp dụng quy định của pháp luật. Về bản chất, đây
không phải là những căn cứ để miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà
là loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Những nhà nghiên cứu khi theo
những quan điểm này, họ cho rằng không nên sử dụng thuật ngữ miễn trách
nhiệm bồi thường mà phải loại trừ vì rõ ràng do pháp luật quy định khi xuất
hiện những sự kiện đó (ví dụ, do sự kiện là bên vi phạm thực hiện các quy
19
định của nhà nước mà dẫn tới việc vi phạm thực hiện nghĩa vụ trong hợp
đồng, thì bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
phạm vi thực hiện quy định đó). Vì vậy tác giả cho rằng, xét về bản chất thì
không có gì mâu thuẫn lớn dù theo quan điểm nào đó cũng đều phải thừa
nhận một số vấn đề sau:
Thứ nhất, đây là ý chí của Nhà nước thể hiện dưới dạng các quy phạm
pháp luật cho phép một chủ thể không bị áp dụng trách nhiệm bồi thường
thiệt hại khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng;
Thứ hai, sự vi phạm này xuất hiện trong sự kiện, hoàn cảnh đặc biệt