Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra - Pdf 65

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
----------o0o----------

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÀI SẢN GÂY
RA – MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG
TẠI VIỆT NAM

Ngành: Luật kinh tế

NGUYỄN THỊ THANH LIỄU

Hà Nội - 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
----------o0o----------

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÀI SẢN GÂY
RA – MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG
TẠI VIỆT NAM

Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107

Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Thanh Liễu

Nguyễn Thị Thanh Liễu


iii

MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN ……………………………………..………………………….. i
LỜI CẢM ƠN ………………………..………………………………………...… ii
MỤC LỤC ...…………………………………………………………..…………. iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ………...…………………………. . .…….. viii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN .……………….....……… ix
MỞ ĐẦU ………………………………..………………………………………… 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO TÀI SẢN GÂY RA ………..…………………………………... 6
1.1. Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại..........................6
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại............................................ 6
1.1.2. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại............................................. 9
1.1.3. Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại...........................................10
1.1.3.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.......................................................... 10
1.1.3.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra
và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra................................12
1.1.3.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên đới và trách nhiệm bồi
thường thiệt hại riêng rẽ............................................................................ 13
1.2. Một số vấn đề pháp lý cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài
sản gây ra........................................................................................................... 14


iv

1.3.3. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra.................................................. 34
1.3.4. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra.......34
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÀI SẢN GÂY RA TẠI
VIỆT NAM …………………………………………………………………........36
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài
sản gây ra ………………………………………. .…...………..………………… 36
2.1.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về các điều kiện phát sinh trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.............................................................. 36
2.1.1.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về thiệt hại do tài sản gây ra.......36
2.1.1.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về sự kiện gây ra thiệt hại của tài
sản.............................................................................................................. 37
2.1.1.3. Thực trạng pháp luật Việt Nam về mối quan hệ nhân quả giữa sự
kiện gây ra thiệt hại của tài sản và thiệt hại xảy ra.................................... 41
2.1.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về cơ sở xác định chủ thể chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra................................................... 42
2.1.2.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu.........................42
2.1.2.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, người được
giao quản lý, sử dụng................................................................................. 47
2.1.2.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng
trái pháp luật.............................................................................................. 54


vi

2.1.2.4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thứ ba......................56
2.1.2.5. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công....................57
2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài
sản gây ra tại Việt Nam...................................................................................... 59
2.2.1. Thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do

3.2.1.4. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra..................89
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện hoạt động áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do tài sản gây ra tại Việt Nam............................................... 93
3.2.2.1. Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của Thẩm
phán
trong việc xét xử các vụ án bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.............94
3.2.2.2. Ban hành án lệ về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra..............94
3.2.2.3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trách
nhiệm
bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra........................................................ 95
3.3. Một số kiến nghị.......................................................................................... 96
3.3.1. Đối với Tòa án...................................................................................... 96
3.3.2. Đối với các cơ quan, tổ chức khác........................................................ 97
KẾT LUẬN …………………………………………………………..………….. 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………. 99


viii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS:

Bộ luật dân sự

HĐXX:

Hội đồng xét xử


dụng pháp luật về TNBTTH do tài sản gây ra tại Việt Nam, tác giả đưa ra một số
giải pháp hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về TNBTTH do tài sản gây ra
tại Việt Nam.
3. Luận văn đã đạt được những kết quả chính như sau
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn đã khái quát một số vấn đề lý
luận cơ bản nhất về TNBTTH do tài sản gây ra. Tác giả đã phân tích rõ khái niệm,
đặc điểm của TNBTTH nói chung và quy định về TNBTTH do tài sản gây ra nói
riêng. Phân tích căn cứ phát sinh TNBTTH, cơ sở xác định chủ thể chịu TNBTTH


x

do tài sản gây ra. Hiện nay, có 4 trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra,
đó là: bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, do súc vật gây ra, do
cây cối gây ra và bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra.
Tác giả cũng phân tích lồng ghép quy định pháp luật của một số quốc gia trong từng
nội dung cụ thể. Qua việc nghiên cứu này, có thể nhận thấy những điểm tương đồng
và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật một số quốc gia để có cái nhìn
bao quát hơn, góp phần hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam.
Trên cơ sở hệ thống các lý luận, Luận văn đã đi sâu vào nghiên cứu thực trạng
các quy định pháp luật hiện hành (BLDS năm 2015) về điều kiện phát sinh trách
nhiệm bồi thường, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các quy định trong BLDS năm 2005 để thấy được
những thay đổi, những điểm tích cực và hạn chế trong quy định pháp luật về bồi
thường thiệt hại do tài sản gây ra. Cùng với việc nghiên cứu các quy định pháp luật
Việt Nam, tác giả cũng đi vào nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về bồi
thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể thông qua các bản án của Tòa án
Việt Nam. Qua đó, có thể thấy rằng những vấn đề bất cập về việc áp dụng pháp luật
của Tòa án trong việc xét xử các vụ án liên quan đến bồi thường thiệt hại do tài sản
gây ra.

điểm sửa đổi, bổ sung phù hợp, tích cực. Sự sửa đổi, bổ sung này tập trung chủ yếu
vào các chủ thể có trách nhiệm bồi thường và quy định khái quát, mở rộng thêm các
trường hợp bồi thường. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm trái
ngược nhau về các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi
thường thiệt hại do tài sản gây ra. Những mâu thuẫn này bao gồm: các điều kiện
phát sinh trách nhiệm bồi thường; cơ sở để xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi
thường; tài sản gây thiệt hại có tồn tại hành vi trái pháp luật của chủ sở hữu, người
1Chẳng hạn: cháu Nguyễn Đắc Nguyên (7 tuổi) bị đàn chó tấn công gây tử vong ngày 03/4/2019 tại Hưng
Yên (xem tài liệu tham khảo số 40) hoặc hàng năm vào mùa mưa bão tại Hà Nội cây đổ gây thiệt hại về
người và tài sản khi đang lưu thông trên đường (xem tài liệu tham khảo số 37).


2

chiếm hữu, sử dụng tài sản không… Nguyên nhân của những mâu thuẫn này là do
quy định pháp luật chưa thực sự rõ ràng. Nếu như những mâu thuẫn này vẫn tồn tại
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn, và điều này sẽ gây
ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Để tìm hiểu rõ hơn các vấn đề pháp lý về TNBTTH do tài sản gây ra, bảo đảm
việc hiểu và áp dụng thống nhất các quy định pháp luật vào thực tiễn, tác giả lựa
chọn đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra - Một số vấn đề
pháp lý và thực trạng áp dụng tại Việt Nam” làm đề tài luận văn của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
TNBTTH do tài sản gây ra là một trong những vấn đề được nhiều công trình
trong nước và quốc tế quan tâm nghiên cứu. Vì vậy, trước khi BLDS năm 2015 thay
thế BLDS năm 2005, đã có nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả trong và
ngoài nước được nghiên cứu dưới các hình thức khác nhau và đạt được những thành
công nhất định như: luận án, luận văn, khóa luận, sách, bài viết, tạp chí…
Trên thế giới, có thể kể đến một số công trình khoa học nghiên cứu về

từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về
TNBTTH do tài sản gây ra tại Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật và áp dụng pháp luật về TNBTTH do tài sản gây ra tại Việt Nam trên cơ sở hệ
thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về TNBTTH do tài sản gây ra, đánh giá thực
trạng quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về TNBTTH do tài
sản gây ra để từ đó
Những nhiệm vụ cần phải thực hiện để hoàn thiện đề tài “Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do tài sản gây ra - Một số vấn đề pháp lý và thực trạng áp
dụng tại Việt Nam” như sau:
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, những vấn đề lý luận về TNBTTH nói chung và
quy định về TNBTTH do tài sản gây ra nói riêng.
- Phân tích về điều kiện phát sinh TNBTTH, cơ sở xác định chủ thể chịu
TNBTTH do tài sản gây ra, trong đó có sự nghiên cứu, so sánh với pháp luật một số
nước trên thế giới như Đức, Nhật Bản, Pháp, Thái Lan.
- Phân tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về TNBTTH do
tài sản gây ra để từ đó có sự đánh giá tổng quan nhất những ưu điểm và hạn chế, bất


4

cập của hệ thống những văn bản pháp luật này để đưa ra những giải pháp hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về TNBTTH do tài sản gây ra;
- Tìm hiểu thực trạng áp dụng các quy định về TNBTTH do tài sản gây ra tại
Việt Nam để tìm ra những vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng quy định pháp
luật. Từ đó, đề xuất một số giải pháp cụ thể để áp dụng pháp luật về TNBTTH do tài
sản gây ra tại Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp so sánh luật học: nhằm chỉ ra những điểm tương đồng và khác
biệt giữa quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nước trên thế
giới như Đức, Pháp, Nhật Bản, Thái Lan (chương 1).
- Phương pháp tổng hợp nhằm khái quát hoá thực trạng pháp luật và thực tiễn
áp dụng pháp luật về TNBTTH do tài sản gây ra tại Việt Nam, nhằm đưa ra những
giải pháp phù hợp (chương 2, 3).
6. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản
gây ra
Chương 2: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do tài sản gây ra tại Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra tại Việt Nam


6

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI DO TÀI SẢN GÂY RA
1.1. Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trong lịch sử pháp luật thế giới, TNBTTH là một trong những chế định có
sớm nhất của pháp luật dân sự. Trải qua các thời kỳ lịch sử và ở những nước khác
nhau, quy định về cách thức bồi thường, thiệt hại phải bồi thường, người phải bồi
thường cũng như mức độ bồi thường là khác nhau. Vấn đề này phụ thuộc vào quan
điểm giai cấp, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Ngay từ thời La Mã cổ đại, Luật La Mã đã coi quyền khiếu nại đòi bồi thường

5 Điều 48, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.


8

nói trên thì không có quy định nào nêu ra khái niệm cụ thể về loại trách nhiệm này
mà chỉ có quy định về căn cứ phát sinh TNBTTH, nguyên tắc bồi thường, năng lực
chịu trách nhiệm bồi thường, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường. Theo đó,
TNBTTH chỉ được định nghĩa dưới dạng liệt kê bao gồm TNBTTH về vật chất và
6

TNBTTH bù đắp tổn thất và tinh thần .
- TNBTTH về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính
được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý
để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút
(khoản 2, Điều 307, BLDS năm 2005).
- TNBTTH bù đắp tổn thất về tinh thần được hiểu là việc một người gây thiệt
hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi,
cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh
thần cho người bị thiệt hại (khoản 3, Điều 307, BLDS năm 2005).
BLDS năm 2015 ra đời không định nghĩa về TNBTTH dưới dạng liệt kê như
BLDS năm 2005 nữa mà chỉ quy định thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt
7

hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần .
Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống
trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của
mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người
vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó


pháp và các nguyên tắc cơ bản được quy định trong BLDS .
Thứ hai, về cơ sở hình thành: TNBTTH được hình thành dựa trên sự thỏa
thuận hợp pháp giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật, xuất hiện khi có sự
kiện gây thiệt hại thì người gây thiệt hại phải bồi thường cho những thiệt hại đó.
Thứ ba, về khách thể của quan hệ bồi thường thiệt hại: Lợi ích mà các bên
hướng tới trong quan hệ bồi thường bao giờ cũng mang tính chất tài sản, là “hành
động” bù đắp những tổn thất cho người bị thiệt hại. Bởi lẽ, khi một người gây tổn
thất cho người khác thì tổn thất đó phải được khắc phục thiệt hại chính là những
những giá trị vật chất mà người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
Hay nói cách khác là những thiệt hại mà bên gây thiệt hại gây ra sẽ được quy đổi
thành giá trị vật chất nhất định như tiền để thực hiện việc đền bù nhằm cho bên bị
thiệt hại nhằm khắc phục thiệt hại đã xảy ra. Do đó, những thiệt hại về tinh thần

8Điều 20, Hiến pháp năm 2013.
9 Điều 3, BLDS năm 2015.


10

mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của
pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại.
Thứ tư, về chủ thể có nghĩa vụ bồi thường: Chủ thể bị áp dụng TNBTTH thông
thường là người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại, trong một số trường hợp
TNBTTH còn được áp dụng cả đối với những chủ thể khác có mối liên hệ với người
gây ra thiệt hại như: cha, mẹ của người chưa thành niên; của người giám hộ đối với
người được giám hộ; của pháp nhân đối với người của pháp nhân gây thiệt hại;
trường học, bệnh viện hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề trong trường hợp
người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự… gây thiệt hại trong thời
gian quản lý của những tổ chức này.

ra. Cơ sở để phát sinh TNBTTH trong hợp đồng bao giờ cũng phải dựa trên một hợp
đồng có trước tức là giữa người được hưởng bồi thường và người gây ra thiệt hại
trước đó phải có một quan hệ hợp đồng. Còn TNBTTH ngoài hợp đồng là loại trách
nhiệm dân sự phát sinh bên ngoài, không phụ thuộc hợp đồng mà chỉ cần tồn tại một
hành vi vi phạm pháp luật dân sự gây thiệt hại cho người khác và hành vi này cũng
không liên quan đến bất cứ một hợp đồng nào có thể có giữa người gây thiệt hại và
người bị thiệt hại, thiệt hại không chỉ là nền tảng cơ bản mà còn là điều kiện bắt
buộc của TNBTTH ngoài hợp đồng.
Thứ hai, về chủ thể trong quan hệ bồi thường thiệt hại: đối với TNBTTH trong
hợp đồng thì chủ thể gây thiệt hại và người bị thiệt hại chính là các bên trong quan
hệ hợp đồng đó. Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng được áp dụng khi hành
vi gây thiệt hại là hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng. Hành vi vi phạm nghĩa
vụ theo hợp đồng chỉ có thể làm ảnh hưởng đến lợi ích của các bên tham gia trong
hợp đồng đó. Còn đối với TNBTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý
áp dụng đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác. Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu về TNBTTH
ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân và tổ chức.
Thứ ba, về cơ sở phát sinh trách nhiệm: TNBTTH ngoài hợp đồng là một loại
trách nhiệm dân sự phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định. Còn TNBTTH trong
hợp đồng phát sinh trên cơ sở thoả thuận của các bên ví dụ như buộc phải thực hiện
nghĩa vụ theo hợp đồng, phạt vi phạm hoặc trách nhiệm bồi thường thiệt hại.


12

Thứ tư, về điều kiện phát sinh trách nhiệm: TNBTTH ngoài hợp đồng chỉ phát
sinh khi có đủ các căn cứ do pháp luật quy định bao gồm: có thiệt hại xảy ra, có
hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt
hại xảy ra. Tuy nhiên, đối với TNBTTH trong hợp đồng, căn cứ phát sinh TNBTTH

nên điều kiện này không thể được xem xét đến.
Ngoài ra, việc phân loại này còn có ý nghĩa trong việc xác định chủ thể chịu
trách nhiệm bồi thường: Về nguyên tắc thì người nào có hành vi trái pháp luật gây
ra thiệt hại thì người đó phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra còn đối với bồi
thường thiệt hại do tài sản gây ra thì về nguyên tắc trách nhiệm lại thuộc về chủ sở
hữu hoặc người được chủ sở hữu giao quản lý tài sản đó chứ không phải thuộc về tất
cả mọi người đang chiếm giữ tài sản đó.
1.1.3.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên đới và trách nhiệm bồi thường thiệt
hại riêng rẽ
Căn cứ vào mối liên hệ giữa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, TNBTTH
được phân loại thành TNBTTH liên đới và TNBTTH riêng rẽ.
TNBTTH liên đới được hiểu là trách nhiệm nhiều người mà theo đó thì mỗi
người trong số những người có trách nhiệm phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ
thiệt hại và mỗi người trong số những người có quyền đều có quyền yêu cầu người
gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ cho mình.
TNBTTH riêng rẽ là trách nhiệm nhiều người mà theo đó thì mỗi người có
trách nhiệm chỉ phải chịu trách nhiệm đối với phần thiệt hại do mình gây ra và mỗi
người trong số những người có quyền cũng chỉ có quyền yêu cầu người gây thiệt hại
bồi thường những tổn thất mà mình phải gánh chịu.
Việc phân loại này có ý nghĩa trong việc xác định cách thức thực hiện nghĩa
vụ, căn cứ phát sinh, chấm dứt nghĩa vụ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
các bên. Đối với TNBTTH liên đới thì khi một bên thực hiện xong phần nghĩa vụ
của mình trách nhiệm vẫn chưa chấm dứt mà họ còn phải chịu trách nhiệm đối với
toàn bộ thiệt hại. Khi một người gây thiệt hại đã thực hiện trách nhiệm bồi thường
thì sẽ phát sinh nghĩa vụ hoàn lại giữa những người có trách nhiệm khác với người
đó và khi một người trong số những người bị thiệt hại đã yêu cầu người gây thiệt
hại bồi thường toàn bộ thiệt hại cho mình thì phải hoàn lại phần tương ứng cho
những người bị thiệt hại khác.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status