BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Tr¸ch nhiÖm båi thêng thiÖt h¹i do
hµnh vi vi ph¹m ph¸p luËt m«i trêng g©y nªn
T¹i viÖt nam
(ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG)
Chủ nhiệm đề tài: TS. VŨ THU HẠNH
Bộ môn Luật Môi trường
HÀ NỘI - 2007
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
1
DO HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG
GÂY NÊN TẠI VIỆT NAM
(ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG)
NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Stt
Họ và tên
Học hàm –
học vị
Tiến sĩ
Nguyễn Văn Tài
Tiến sĩ
7.
Dương Thanh An
Thạc sĩ
Cơ quan công tác
Khoa Pháp luật Kinh tế
Trường Đại học Luật Hà Nội
Khoa Pháp luật Kinh tế
Trường Đại học Luật Hà Nội
Khoa Pháp luật Kinh tế
Trường Đại học Luật Hà Nội
Khoa Pháp luật Kinh tế
Trường Đại học Luật Hà Nội
Khoa Pháp luật Kinh tế
Trường Đại học Luật Hà Nội
Vụ Môi trường
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Cục Bảo vệ môi trường
Bộ Tài nguyên và Môi trường
MỤC LỤC
2
Những căn cứ và nguyên tắc xác định thiệt hại
về môi trường.
75
2.3
Chuyên đề 3
Bước đầu nghiên cứu về giám định thiệt hại môi
trường.
87
2.4
Chuyên đề 4
Những vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại về môi trường.
100
2.5
Chuyên đề 5
Phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây nên
với trách nhiệm bồi thường thiệt hại từ sự cố môi
Việt Nam trong thời gian qua.
151
2.9
Chuyên đề 9
Kinh nghiệm của nước ngoài về áp dụng trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm
pháp luật môi trường gây nên.
160
Bước đầu nghiên cứu về bảo hiểm trách nhiệm
bồi thường thiệt hại về môi trường.
183
2.10 Chuyên đề 10
3.
Tài liệu tham
khảo
191
3
thời gian qua tại Việt Nam gặp không ít khó khăn do chưa có sự thống nhất về
cách hiểu và áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này. Do
1
Được Quốc hội Khoá XI, kỳ họp thứ tám thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và sẽ có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006.
2 Sau đây gọi tắt là bồi thường thiệt hại về môi trường
5
vậy, cần phải có thêm những nguyên cứu có tính chuyên sâu về loại trách
nhiệm này, góp phần cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
6
Trong nước: Trong một số lĩnh vực khoa học có liên quan như xã hội
học môi trường, kinh tế học môi trường, khoa học quản lí về môi trường...
cũng đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến trách nhiệm bồi thường
thiệt hại về môi trường, như: “Xây dựng phương pháp xác định mức đền bù
thiệt hại bởi ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất, dịch vụ gây ra” do
Trung tâm kĩ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp, trường Đại học xây
dựng Hà Nội thực hiện năm 1999; “Bước đầu tiếp cận công tác thanh tra giải
quyết đền bù thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây bởi các hoạt động của Nhà
máy Nhiệt điện Phả lại” do Nguyễn Thị Thanh Minh, sinh viên Khoa Môi
trường, trường Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học quốc gia Hà Nội thực
hiện năm 2000, "Chính sách quản lý môi trường đối với việc giải quyết xung
Tạm dịch là "Trích yếu tóm tắt các quyết định của toà án trong các vụ có liên quan đến môi trường".
9
Phạm vi nghiên cứu:
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường gồm 2 nội dung chính:
Bồi thường thiệt hại về môi trường do hành vi vi phạm pháp luật gây nên và
bồi thường thiệt hại về môi trường do sự cố môi trường gây nên. Trong phạm
vi nghiên cứu của đề tài này, nhóm tác giả chỉ tập trung nghiên cứu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây nên.
Nghĩa là chỉ nghiên cứu trách nhiệm thiệt hại về môi trường đối với những
các chủ thể có năng lực chủ thể thực hiện các hành vi trái pháp luật, xâm hại
các quan hệ xã hội được pháp luật môi trường bảo vệ mà không nghiên cứu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường do tai biến hoặc rủi ro xảy ra
trong quá trình hoạt động của con người.
Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây nên tại Việt Nam.
- Đánh giá một số kết quả thực tiễn của việc áp dụng trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường ở Việt Nam trong
thời gian qua.
- Học hỏi kinh nghiệm của một số nước về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại về môi trường.
- Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây nên.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Phương pháp nghiên cứu gồm phương pháp phân tích và khái quát hoá,
phương pháp lịch sử, phương pháp chuyên gia; phương pháp điều tra, nghiên
Khác với thiệt hại trong dân sự, trong lĩnh vực môi trường, thiệt hại lại
được hiểu là những tổn thất do ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường gây
ra. Theo qui định tại Điều 130 Luật bảo vệ môi trường 2005, thiệt hại do ô
nhiễm, suy thoái môi trường bao gồm:
11
Một là: Sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường.
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh
con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con
người và sinh vật. Xem xét dưới giác độ xác định thiệt hại và bồi thường thiệt
hại thì các yếu tố nhân tạo thường được nhìn nhận là các loại tài sản hiện hữu,
thuộc quyền sở hữu của một chủ thể xác định. Nếu chúng có bị suy giảm chức
năng, tính hữu ích thì cần được hiểu là suy giảm chức năng, tính hữu ích của
chính tài sản đó. Nói cách khác, đó là các thiệt hại về tài sản của người bị
thiệt hại và người bị thiệt hại trong trường hợp này có thể là Nhà nước cũng
có thể là một tổ chức, cá nhân cụ thể. Trong khi đó, các yếu tố tự nhiên lại
được xem là những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại, phát triển chung của cả
cộng đồng, không do một tổ chức, cá nhân nào tạo ra và đương nhiên thuộc
quyền sở hữu chung của cả cộng đồng mà đại diện là Nhà nước. Do đó, nếu
có sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của các yếu tố này thì đó là sự suy
giảm các giá trị môi trường sống nói chung. Chính vì vậy, nói đến thiệt hại
trong lĩnh vực môi trường dưới góc độ chức năng, tính hữu ích của môi
trường bị suy giảm là nói đến sự suy giảm chức năng, tính hữu ích vốn có của
môi trường tự nhiên.
Xét một cách khái quát, nói đến chức năng, tính hữu ích của môi trường,
có thể kể đến ba chức năng chính sau đây: i) Môi trường là không gian sinh
tồn của con người; ii) Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên, kể cả vật
liệu, năng lượng, thông tin cần thiết cho cuộc sống và hoạt động của con
môi trường đã bị suy giảm chức năng, tính hữu ích. Họ là những chủ thể
được phép khai thác, sử dụng một cách hợp pháp các thành phần môi trường
đó để phục vụ cho các hoạt động của mình. Tuy nhiên, do các thành phần môi
trường này đã bị ô nhiễm hoặc suy thoái nên họ không thể tiếp tục khai thác,
sử dụng hoặc phải khai thác, sử dụng một cách hạn chế, dẫn đến lợi ích vật
chất của họ bị tổn hại.
Như vậy, nói đến thiệt hại trong lĩnh vực môi trường là nói đến hai loại
thiệt hại. Thứ nhất là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường. Loại
13
thiệt hại này thường gắn với chủ thể bị thiệt hại là Nhà nước, người đại diện
cho lợi ích chung của cả cộng đồng. Loại thiệt hại thứ hai lại thường gắn với
chủ thể bị thiệt hại là các tổ chức, cá nhân cụ thể. Đó là những thiệt hại về tính
mạng, sức khoẻ của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra.
Trong mối quan hệ với loại thiệt hại thứ nhất, loại thiệt hại thứ luôn được xem
là thiệt hại gián tiếp (còn gọi là thiệt hại phái sinh hay thiệt hại thứ sinh).
So với các thiệt hại trong các lĩnh vực khác, thiệt hại trong lĩnh vực môi
trường có những dấu hiệu đặc trưng riêng của nó. Đó là:
- Thiệt hại thường có giá trị lớn. Môi trường có vai trò hết sức quan
trọng đối với sự tồn tại, phát triển của con người nên khi bị tổn hại, nó thường
để lại hậu quả rất lớn. Mặt khác, thiệt hại trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
không dễ nhận biết. Vì thế, trong rất nhiều trường hợp, thiệt hại về môi
trường chỉ được xác định khi đã ở vào giai đoạn cuối của quá trình ô nhiễm và
suy thoái nên hậu quả đã trở nên khá nặng nề.
- Thiệt hại thường khó xác định một cách chính xác. Có cả những thiệt
hại gián tiếp, thiệt hại lâu dài... nên không thể dễ dàng trị giá thiệt hại ngay
trong một thời điểm cụ thể. Có những thiệt hại có thể xác định được mức độ bị
Thứ nhất, đối với thiệt hại về sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của
môi trường, căn cứ để xác định thiệt hại bao gồm:
- Căn cứ vào mức độ chức năng, tính hữu ích của môi trường bị suy giảm.
Theo qui định tại Điều 131, khoản 1 Luật bảo vệ môi trường 2005, sự suy
giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gồm các mức độ: i) Có suy
giảm; ii) Suy giảm nghiêm trọng; iii) Suy giảm đặc biệt nghiêm trọng. Mức
độ suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường thường được xác định
dựa vào mức độ suy giảm về chất lượng, số lượng của các yếu tố môi trường
và khả năng tiếp nhận, hấp thụ tự nhiên các loại chất thải của môi trường. Vì
thế, có thể xác định mức độ suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường
thông qua mức độ ô nhiễm hay suy thoái của một hoặc nhiều thành phần môi
trường. Cụ thể:
15
+ Về mức độ ô nhiễm môi trường: Tương ứng với ba mức suy giảm chức
năng, tính hữu ích của môi trường là ba mức độ ô nhiễm môi trường. Đó là ô
nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và ô nhiễm môi trường
đặc biệt nghiêm trọng. Theo qui định tại Điều 92, Luật bảo vệ môi trường
(2005) thì một thành phần môi trường bị coi là ô nhiễm khi hàm lượng một
hoặc nhiều chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng của thành
phần môi trường đó. Môi trường bị coi là ô nhiễm nghiêm trọng khi hàm
lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất
lượng môi trường từ 3 lần trở lên hay hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây
ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên.
Khi hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu
chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc
nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ
10 lần trở lên thì đó là tình trạng môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng.
tuỳ thuộc vào giới hạn, diện tích thành phần môi trường bị suy giảm chức
năng, tính hữu ích là lớn hay nhỏ, tuỳ thuộc vào vùng bị suy giảm của chính
thành phần môi trường đó là vùng lõi, vùng đệm hay các vùng khác.
- Căn cứ vào các thành phần môi trường bị suy giảm: Theo căn cứ này,
tuỳ thuộc vào số lượng thành phần môi trường bị suy giảm nhiều hay ít, loại
hệ sinh thái và giống loài bị thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra có mức độ quí
hiếm đến đâu thì mức độ thiệt hại sẽ được xác định là lớn hay nhỏ. Điều 131,
khoản 3 Luật bảo vệ môi trường 2005 có quy định rõ việc xác định các thành
phần môi trường bị suy giảm gồm có: i) Xác định số lượng thành phần môi
trường bị suy giảm, loại hình hệ sinh thái, giống loài bị thiệt hại; ii) Mức độ
thiệt hại của từng thành phần môi trường, hệ sinh thái, giống loài.
Thứ hai, đối với thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người, tài sản và
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng,
tính hữu ích của môi trường gây ra. Căn cứ để xác định loại thiệt hại này được
17
áp dụng giống như trong lĩnh vực dân sự nói chung. Theo đó, việc xác định
thiệt hại trong lĩnh vực này được thực hiện dựa trên các căn cứ cơ bản sau:
- Căn cứ vào thiệt hại thực tế: Theo căn cứ này, thiệt hại được xác định
dựa trên những tổn thất thực tế mà người bị thiệt hại phải gánh chịu do tình
trạng môi trường bị suy giảm chức năng, tính hữu ích gây ra. Đó là các thiệt
hại về tài sản và sức khoẻ của người bị thiệt hại, bao gồm: i) Thu nhập thực tế
bị mất hoặc bị giảm sút do tình trạng sức khoẻ bị suy giảm của người bị thiệt
hại về sức khoẻ; ii) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt
hại về sức khoẻ trong thời gian điều trị; iii) Thiệt hại do tài sản bị mất và
những lợi ích gắn liền với việc khai thác tài sản.
- Căn cứ vào các chi phí hợp lý phát sinh từ những tổn thất về tính mạng,
sức khoẻ, tài sản và các lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, bao gồm: i)
lượng, sức khoẻ trước và sau khi bị ô nhiễm và suy thoái môi trường. Ví dụ,
thiệt hại về tài sản được đánh giá thông qua sản lượng bị giảm sút so với trước
khi môi trường bị ô nhiễm bởi các các loại khí độc hại, sản lượng giống loài
bị suy giảm do ô nhiễm nguồn nước, số lượng khách du lịch vắng hơn….
Để tính được các thiệt hại trên cần dựa vào một số căn cứ: i) Xác định tổ
chức, cá nhân gây ra ô nhiễm, suy thoái môi trường và chịu trách nhiệm bằng
cách xem xét công nghệ của các cơ sở trên địa bàn có khả năng gây ô nhiễm
môi trường, kiểm tra các chỉ tiêu môi trường tại từng cơ sở xem có vượt chỉ
tiêu cho phép không? Kiểm tra các chỉ tiêu tại nơi bị ô nhiễm xem có vượt
mức cho phép không và những chỉ tiêu nào vượt? Thống kê số cơ sở có chỉ
tiêu tại cơ sở và tại nơi bị ô nhiễm, gây thiệt hại vượt mức cho phép; ii) Xác
định phạm vi, đối tượng bị hại- khu vực bị thiệt hại nặng, khu vực bị thiệt hại
trung bình và khu vực bị thiệt hại nhẹ. Thống kê lĩnh vực bị thiệt hại như:
nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt, ngư nghiệp, du lịch, đa dạng
sinh học…; iii) Xác định thiệt hại đối với từng lĩnh vực bằng cách khảo sát,
thống kê, đánh giá và so sánh sản lượng thu hoạch trung bình của vụ, mùa,
năm bị ô nhiễm với năm không bị ô nhiễm có cùng điều kiện canh tác. Từ đó
đánh giá bằng tiền mức độ giảm sút của trước và sau khi ô nhiễm môi trường
19
cho từng khu vực ô nhiễm nặng, trung bình hay nhẹ; iv) Tổng số tiền thiệt hại
do giảm năng suất thu hoạch, cây trồng, vật nuôi giảm năng suất lao động và
sức khoẻ được sử dụng làm cơ sở thương lượng và đòi bồi thường thiệt hại.
Hai là, đánh giá thiệt hại thông qua chi phí giảm thiểu ô nhiễm tại nguồn.
Cụ thể là thiệt hại gây ra cho môi trường được tính bằng tổng chi phí các nguồn
gây ô nhiễm đạt tới mức được thải ra môi trường mà không gây ô nhiễm. Khi
cơ sở đầu tư để xử lý chất thải thì sẽ không gây ô nhiễm môi trường, và tất
nhiên sẽ không có thiệt hại cho cộng đồng. Như vậy, nếu môi trường bị ô
phương pháp nên trên chủ yếu là xác định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ
cũng như về tài sản, chứ chưa đề cập đến việc xác định thiệt hại đối với môi
trường tự nhiên.
1.1.3. Những nguyên tắc xác định thiệt hại về môi trường
Việc xác định thiệt hại về môi trường được thực hiện trên cơ sở các
nguyên tắc sau:
Một là: Nguyên tắc phối hợp, hợp tác. Để có thể xác định được những
biến đổi của môi trường và những tổn hại gây ra từ chính sự biến đổi đó cần
phải có sự can thiệp của các biện pháp kỹ thuật môi trường. Vì thế, để xác
định thiệt hại trong lĩnh vực môi trường, cần phải đảm bảo sự phối hợp chặt
chẽ giữa các cơ quan giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại với các cơ quan
quản lý môi trường. Ngoài ra, sự phối hợp, hợp tác ở đây còn cần được hiểu là
sự phối hợp giữa các bên bị thiệt hại và bên gây thiệt hại. Điều đó góp phần
đảm bảo cho việc xác định thiệt hại được thuận lợi và nhanh chóng hơn trên
tinh thần thiện chí của các bên tham gia tranh chấp.
Hai là: Nguyên tắc xác định một cách có căn cứ khoa học các thiệt hại
xảy ra. Nguyên tắc này được hiểu là mọi loại thiệt hại trong lĩnh vực môi
trường đều phải được xác định dựa trên các căn cứ khoa học cụ thể. Đây là
một nguyên tắc cơ bản đồng thời cũng là một yêu cầu đặt ra cho việc xác định
thiệt hại về môi trường. Cơ sở của việc xây dựng nguyên tắc này bắt nguồn từ
những đặc trưng của thiệt hại trong lĩnh vực môi trường. Đây thường là những
thiệt hại có giá trị lớn, không dễ khắc phục, không dễ định lượng và xảy ra
21
trên một phạm vi rộng lớn nên việc xác định các thiệt hại này không đơn giản.
Nó luôn đòi hỏi phải dựa trên những căn cứ khoa học rõ ràng, chính xác.
Ba là: Nguyên tắc đảm bảo tính toán chính xác chi phí thiệt hại về môi
trường. Theo nguyên tắc này, khi xác định thiệt hại cần phải tính đến các chi
tính chất thiện chí của bên gây thiệt hại làm cho quá trình xác định thiệt hại
khó khăn hơn và mất rất nhiều thời gian.
Xác định thiệt hại về môi trường là một công việc phức tạp và khó khăn,
song lại là một đòi hỏi khá bức thiết, đặc biệt trong điều kiện các tranh chấp
môi trường ngày một gia tăng ở Việt Nam. Đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc
đặt ra cũng như các căn cứ khoa học chính xác là yêu cầu cơ bản của việc xác
định thiệt hại về môi trường nhằm giải quyết tốt các yêu cầu đặt ra khi giải
quyết tranh chấp môi trường, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp về môi
trường của các bên.
1.1.4. Giám định thiệt hại môi trường
Giám định thiệt hại môi trường có thể hiểu là việc áp dụng các biện pháp
chuyên môn nghiệp vụ để xác định các giá trị thiệt hại cụ thể từ việc suy giảm
chức năng, tính hữu ích của môi trường và những thiệt hại về sức khoẻ, thiệt
hại về tính mạng của con người hay thiệt hại về tài sản do sự suy giảm chức
năng, tính hữu ích của môi trường gây nên. Việc giám định thiệt hại môi
trường có thể được tiến hành một cách độc lập hoặc có sự phối hợp giữa bên
gây thiệt hại và bên bị thiệt hại. Nói cách khác, giám định thiệt hại về môi
trường là việc sử dụng những kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học
kỹ thuật nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vẫn đề có liên quan đến
vụ việc môi trường do nhà giám định thực hiện theo trưng cầu của các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền, của người gây thiệt hại hoặc người bị thiệt hại
nhằm phục vụ cho việc giải quyết các vụ việc có liên quan đến môi trường.
* Các nguyên tắc giám định thiệt hại môi trường. Việc giám định thiệt
hại môi trường được thực hiện với một số nguyên tắc cơ bản sau:
23
- Nguyên tắc coi trọng tính mạng, sức khoẻ của con người. Khác với việc
giám định giá trị thiệt hại về tính mạng và sức khoẻ của con người trong các
- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật và các quy chuẩn chuyên môn. Mặc dù
hiện tại các quy định pháp luật về giám định thiệt hại trong lĩnh vực môi
trường chưa đầy đủ, song công tác giám định nói chung, giám định trong một
số lĩnh vực đặc thù nói riêng lại đang được điều chỉnh bằng những quy định
tương đối cụ thể và chi tiết. Do vậy, cá nhân và tổ chức tiến hành giám định
thiệt hại môi trường phải tuân theo các quy định chung về công tác giám định.
- Nguyên tắc chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận giám định.
Không phải cá nhân, tổ chức nào cũng có chức năng giám định thiệt hại môi
trường hoặc có khả năng giám định thiệt hại môi trường. Những tổ chức có
khả năng và chức năng giám định thiệt hại môi trường mới được phép tiến
hành giám định thiệt hại môi trường. Vì vậy, trong phạm vi công việc của
mình, cá nhân tổ chức tiến hành giám định thiệt hại môi trường sẽ hoàn toàn
chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, khách quan và trung thực
của kết quả giám định.
* Các căn cứ giám định thiệt hại môi trường. Việc tiến hành giám định
thiệt hại môi trường dựa trên các căn cứ cơ bản sau đây:
- Hồ sơ đòi bồi thường thiệt hại: Việc giám định thiệt hại môi trường có
thể được tiến hành trên cơ sở của hồ sơ đòi bồi thường thiệt hại. Thông
thường, chủ thể bị hại sẽ lập một bộ hồ sơ đòi bồi thường thiệt hại, trong đó
nêu cụ thể về hành vi vi phạm, giá trị thiệt hại thực tế, nguyên nhân gây ra
thiệt hại, chủ thể gây thiệt hại và mức đòi bồi thường… Tuy nhiên, trong
nhiều trường hợp, bộ hồ sơ đòi bồi thường thiệt hại cũng có thể được lập ra
bởi một chủ thể khác được uỷ quyền. Chủ thể này phải có uy tín, có kinh
nghiệm hoặc có thầm quyền.
- Các thông tin, số liệu, chứng cứ có liên quan: Để đòi bồi thường thiệt
hại, người bị hại cần phải đưa ra được các chứng cứ xác thực để chứng minh
thiệt hại là có thật, hành vi gây hại là có cơ sở, mối liên hệ nhân quả giữa
hành vi gây hại và hậu quả xảy ra… Các thông tin, số liệu, chứng cứ phải có
25