TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
(Niên khóa 2009 – 2013)
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SÚC VẬT
GÂY RA: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giảng viên hướng dẫn:
Th.s: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Sinh viên thực hiện:
Chao Thị Mỹ Lệ
MSSV: 5095431
Lớp: Luật Hành chính – K35
Cần Thơ, tháng 6/2012
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………..
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU------------------------------------------------------------------------------01
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO SÚC VẬT GÂY RA -----------------------------------------------------------------04
thực -------------------------------------------------------------------------------------------32
2.2.2.4. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra thả rông theo tập quán gây
thiệt hại --------------------------------------------------------------------------------------34
2.3. Thủ tục giải quyết tranh chấp và thi hành án về bồi thường thiệt
hại do súc vật gây ra. --------------------------------------------------------------------35
2.3.1. Thủ tục giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại do súc vật
gây ra ----------------------------------------------------------------------------------------35
2.3.1.1. Việc xác định các đương sự trong các vụ kiện yêu cầu bồi thường
thiệt hại do súc vật gây ra-----------------------------------------------------------------35
2.3.1.2. Việc xác định Tòa án có thẩm quyền để thực hiện việc khởi kiện
bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra ---------------------------------------------------37
2.3.2. Vấn đề thi hành án về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra --------------42
CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI
THƯỜNG THIỆT DO SÚC VẬT GÂY RA VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN
THIỆN---------------------------------------------------------------------------------------43
3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật vể bồi thường thiệt hại do súc vật
gây ra ----------------------------------------------------------------------------------------43
3.1.1. Tình hình chung áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do súc
vật gây ra ------------------------------------------------------------------------------------43
3.1.2. Một số vướng mắc -----------------------------------------------------------------45
3.1.2.1. Việc áp dụng súc vật thả rông theo tập quán và xác định mức độ
lỗi của chủ thể ------------------------------------------------------------------------------45
3.1.2.2. Việc xác định một động vật khi nào là súc vât khi nào là nguồn
nguy hiểm cao độ ---------------------------------------------------------------------------47
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện những vấn đề về bồi thường
thiệt hại do súc vật gây ra ---------------------------------------------------------------50
3.2.1. Về khái niệm trách nhiệm bồi thường do súc vật gây thiệt hại làm
bình diện chung cho nghiên cứu và áp dụng thực tiễn pháp luật-----------------50
nền kinh tế thị trưòng. Với những điểm còn thiếu vắng của chế định này làm cho
cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khi áp dụng
qui định của pháp luật để giải quyết đối với loại trách nhiệm này cần được khắc
phục kịp thời.
Ở nước ta hiện nay thì vấn đề súc vật thuộc quyền sở hữu của chủ thể ngày
càng trở nên phức tạp và đa dạng. Vì thế, "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
súc vật gây ra: lý luận và thực tiễn" cũng đặt ra nhiều hơn những vấn đề lý luận
và thực tiễn cần giải quyết.
Tuy nhiên, quy định về trách nhiệm bổi thường thiệt hại do súc vật gây ra
trong Bộ luật Dân sự 2005 còn rất chung chung chỉ mang tính định hướng trong
quá trình áp dụng, thông qua một điều luật cụ thể chưa thể khái quát được những
tình huống, những vấn đề vướng mắc, thiếu sót gặp phải trong thực tế. Do đó,
thông qua Điều 625 Bộ luật Dân sự 2005 người viết chọn đề tài, trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do súc vật gây ra lý luận và thực tiễn, nhằm hoàn thiện hơn quy
GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
1
SVTH: Chao Thị Mỹ Lệ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: lý luận và thực tiễn
định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra, giúp người đọc có
một cách nhìn và cách hiểu khái quát nhất về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
đúng theo tinh thần pháp luật Việt Nam, tạo tiền đề cho các quy định sau này hoàn
thiện hơn. Thông qua việc nghiên cứu đề tài sẽ có những phân tích, luận giải về
vấn đề nghiên cứu, tìm ra những thiếu khuyết trong qui định đó, đưa ra hướng
hoàn thiện pháp luật về chế định này nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp
SVTH: Chao Thị Mỹ Lệ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: lý luận và thực tiễn
Luận văn được trình bày trên cơ sở lý luận của học thuyết Mác – Lênin về
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nhằm tìm ra mối liên
hệ giữa các hiện tượng để đánh giá các vấn đề nghiên cứu một cách khoa học. Các
phương pháp luận kết hợp với một số phương pháp phân tích, so sánh, diễn giải,
tổng hợp, ... cũng được sử dụng hợp lý trong quá trình thực hiện đề tài.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài các phần mục lục, lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn bao gồm 3 chương. Cụ thể:
Chương 1: Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây
ra.
Chương 2: Quy chế pháp lý về việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do súc vật gây ra.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do súc vật gây
ra và kiến nghị hoàn thiện.
GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
3
SVTH: Chao Thị Mỹ Lệ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: lý luận và thực tiễn
định. Các điều kiện đó là: có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái phát luật, có mối quan
GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
4
SVTH: Chao Thị Mỹ Lệ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: lý luận và thực tiễn
hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây
thiệt hại (không phải là điều kiện bắt buộc). Đây là những điều kiện chung nhất để
xác định trách nhiệm của một người phải bồi thường những thiệt hại do mình gây
ra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt trách nhiệm có thể bồi thường
thiệt hại phát sinh khi không có đủ các điều kiện trên.
Pháp luật quy định căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng tại các quy định sau:
Một là, căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 604 Bộ luật Dân sự 2005. 1
Hai là, theo Nghị Quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của
Bộ luật Dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo quy định tại
Điều 604 Bộ luật Dân sự 2005, về nguyên tắc chung thì trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây: phải có
thiệt hại xảy ra, phải có hành vi trái pháp luật. phải có mối quan hệ nhân quả giữa
thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật, phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người
gây thiệt hại. 2
Như vậy, pháp luật quy định các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh vào các trường hợp làm căn cứ nêu trên.
định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì
phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra.
So với trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thì trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng có một số khác biệt như: về cơ sở phát sinh trách
nhiệm, về điều kiện phát sinh trách nhiệm, về chủ thể chịu trách nhiệm, về mức
bồi thường.
Việc phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đặc biệt có ý nghĩa trong việc thực hiện
nghĩa vụ chứng minh của đương sự. Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo
hợp đồng nguyên đơn chỉ cần chứng minh thiệt hại là do người gây thiệt hại đã
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng gây ra còn trong trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bên bị thiệt hại ngoài việc chứng minh
thiệt hại còn phải chứng minh hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật.
* Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
Theo quy định chung của pháp luật thì công dân và pháp nhân có quyền được
bảo vệ tài sản, các lợi ích hợp pháp… Tại Điều 1, Sắc lệnh 97/SL ngày 22.5.1950
đã ghi nhận : "Những quyền dân sự đều được luật bảo vệ khi người ta hành xử nó
đúng với quyền lợi của nhân dân". Trong Hiến Pháp 1992 (Đạo luật cơ bản của
Nhà nước) đối với tài sản của công dân đã ghi nhận cụ thể: "Nhà nước bảo hộ
quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”.3 Bộ luật Dân sự 2005
cũng ghi nhận cá nhân có quyền nhân thân gắn với tài sản và quyền nhân thân
không gắn với tài sản, quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài
sản.4 Pháp luật luôn tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu tài sản và quyền được
hưởng lợi từ tài sản của các chủ sở hữu, nhưng đồng thời cũng đặt ra cho chủ sở
hữu những nghĩa vụ khi thực hiện các quyền năng pháp lý của họ. Như vậy pháp
luật qui định, khi tài sản của bất kỳ chủ sở hữu nào mà gây thiệt hại trái pháp luật
cho chủ thể khác thì Nhà nước sẽ áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhất định
3
4
hại do súc vật gây ra.
Theo từ điển Tiếng Việt súc vật là thú vật nuôi trong nhà.5 Về mặt nội dung
thì súc vật là vật nuôi trong nhà đã được con người thuần hóa. Bản chất súc vật là
động vật hoang dã, mang bản tính thú dữ đã được con người thuần hóa, kiểm soát
được hoạt động và tuân thủ theo sự quản lý của con người. Tuy nhiên có những
loại động vật còn mang bản tính hoang dã, chưa được thuần hóa ví dụ: ong bò vẽ,
rắn độc… thì khi gây thiệt hại thì cần coi đây là nguồn nguy hiểm cao độ vì đây là
loại động vật còn mang tính hoang dã, chưa được thuần hóa và có tính chất nguy
hiểm lớn, luôn tìm ẩn khả năng gây thiệt hại Khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự
2005 quy định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra: “Nguồn
nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải
điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc,
5
Xem Từ điển tiếng Việt, trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia NXB Văn hóa Sài Gòn năm
2005, trang.
GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
7
SVTH: Chao Thị Mỹ Lệ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: lý luận và thực tiễn
chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy
định”.6
Nguồn nguy hiểm cao độ theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2005 được hiểu là
những vật đang tồn tại hiện hữu mà hoạt động vận hành, sản xuất, vận chuyển, bảo
309.
7
GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
8
SVTH: Chao Thị Mỹ Lệ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: lý luận và thực tiễn
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cũng mang những đặc điểm của
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung. Tuy nhiên trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra nguyên nhân gây ra thiệt hại không phải là
do hành vi của con người mà là do bản thân súc vật gây ra. Đặc điểm pháp lý của
loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại này là phát sinh theo qui định của pháp luật
và là hậu quả pháp lý nằm ngoài mong muốn của chủ thể (chủ sở hữu súc vật,
người chiếm hữu, sử dụng súc vật, người thứ ba và bên bị thiệt hại) mà không có
sự thỏa thuận trước giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại, đồng thời bên gây
thiệt hại có lỗi. Khác với các trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác,
chủ sở hữu súc vật, người chiếm hữu, sử dụng súc vật, người thứ ba gây thiệt hại
không trực tiếp bằng hành vi của mình mà lại thông qua hoạt động của súc vật và
họ bị suy đoán là có lỗi trong quản lý hoạt động của chúng. Việc gây thiệt hại của
súc vật trong quá trình hoạt động xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau. Chính vì
vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra còn có những nét đặc thù
riêng: về điều kiện phát sinh trách nhiệm, về chủ thể chịu trách nhiệm dân sự do
súc vật gây ra, về năng lực chịu trách nhiệm, về đối tượng bị xâm phạm.
* Về điều kiện phát sinh trách nhiệm.
nhiên. Theo quan điểm của triết học, nguyên nhân và kết quả luôn có mối liên hệ
nối tiếp nhau, nguyên nhân bao giờ cũng đi trước, là cái sinh ra kết quả, nhưng
một kết quả có thể lại do nhiều nguyên nhân sinh ra hoặc ngươc lại. Vì vậy khi xác
định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về ai, cần xem xét thiệt hại đó do các
nguyên nhân nào gây ra, các nguyên nhân đó do đâu mà có… Nếu không xác định
được mối quan hệ nhân quả, nghĩa là không xác định nguyên nhân gây ra thiệt hại
sẽ dễ dẫn đến các sai lầm khi áp dụng trách nhiệm dân sự.
Theo quan niệm truyền thống yếu tố lỗi chỉ được xem xét khi gắn với một
chủ thể xác định. Vì vậy, người ta cho rằng gắn lỗi cho đồ vật khi chúng gây thiệt
hại là không thể xảy ra. Tuy nhiên, theo nguyên tắc chung, lỗi trong dân sự là lỗi
suy đoán cho nên trong trường hợp súc vật gây thiệt hại thiệt hại về tính mạng, sức
khỏe và tài sản cho các chủ thể dân sự thì chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng
súc vật bị suy đoán có lỗi trong quản lý và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt
hại. Việc suy đoán lỗi sẽ không áp dụng trong trường hợp, gia súc gây thiệt hại do
lỗi hoàn toàn thuộc về người chiếm hữu, sử dụng súc vật trái pháp luật, người thứ
ba hoặc của chính người bị thiệt hại.
* Về chủ thể chịu trách nhiệm dân sự do súc vật gây ra.
Trong thực tế, nhiều trường hợp sự kiện gây thiệt hại của đồ vật diễn ra trong
một quá trình và có thể nói là không liên quan gì đến trạng thái tâm lý hay nhận
thức của chủ sở hữu. Nói cách khác sự kiện gây thiệt hại của đồ vật nằm ngoài
mong muốn cũng như sự kiểm soát của chủ sở hữu. Để nâng cao trách nhiệm của
chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật và theo nguyên tắc công bằng thông
thường thì chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật bị suy đoán có lỗi trong
quản lý và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc sở hữu hoặc quyền
quản lý của mình gây ra.
Việc xác định chủ thể trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây
ra cũng có những điểm khác biệt. Nếu xác định chính xác chủ sở hữu đối với súc
GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Theo quy định tại Điều 606 Bộ luật Dân sự 2005 về năng lực chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân thì:
Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì
cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để
bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó
để bồi thường phần còn thiếu.
GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
11
SVTH: Chao Thị Mỹ Lệ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: lý luận và thực tiễn
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải
bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ
phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà
có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám
hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản
để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu
người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không
phải lấy tài sản của mình để bồi thường.8
Theo quy định trên thì người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
dân sự gây thiệt hại thì có thể cha, mẹ hoặc người giám hộ phải chịu trách nhiệm
bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, quy định này chỉ có thể áp dụng đối với trường
hợp thiệt hại là do hành vi của con người gây ra còn nếu thiệt hại là do tài sản gây
trường hợp bị xâm phạm đến các giá trị kể trên thường được thông qua hành vi
của con người dưới dạng hành động (như thông qua lời nói, chữ viết, hành vi cụ
thể) trong sự tác động của quá trình nhận thức cũng như ý thức tôn trọng các
quyền tuyệt đối này và ý thức chấp hành pháp luật của con người. Tuy nhiên việc
xâm phạm các lợi ích này có thể dẫn đến tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt
hại hay thân nhân của họ, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc xác định đối
tương bị xâm hại trong trường hợp súc vật gây thiệt hại lại là danh dự, nhân phẩm,
uy tín.
1.3. Sự cần thiết nghi nhận pháp lý bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng nói riêng là một quan hệ pháp luật dân sự, theo đó người gây ra
thiệt hại trong những điều kiện mà pháp luật quy định phải bồi thường toàn bộ
thiệt hại do hành vi trái pháp luật của họ gây ra. Trong quan hệ nghĩa vụ này bên
bị thiệt hại được coi là người có quyền và có quyền yêu cầu bên gây thiệt hại là
người có nghĩa vụ phải bồi thường những thiệt hại đã xảy ra.
Trong đời sống thực tế hiện nay bên cạnh những thiệt hại do hành vi của con
người gây ra, có nhiều thiệt hại do tài sản gây ra mà cụ thể là do súc vật gây ra.
Vấn đề xác định trách nhiệm dân sự của chủ sở hữu, người sử dụng súc vật, súc
vật khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác, hoặc trách nhiệm
của chủ sở hữu đối với các thiệt hại do súc vật, súc vật thuộc sở hữu của người đó
gây ra cho con người, cho xã hội ngày càng có ý nghĩa thực tế quan trọng.
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng pháp luật nhiều vấn đề mới đã xuất hiện
và gây khó khăn trong thực thi pháp luật khi phải áp dụng trách nhiệm dân sự. Để
đối phó với tình trạng này, từ lâu các luật gia trên thế giới đã bàn luận nhiều về
chủ đề: làm sao có thể tạo thêm những điều kiện thuận lợi nhất để bảo vệ nhanh và
kịp thời khi các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xâm hại.
Các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra đã tạo
cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến thiệt hại do
súc vật gây ra. Ngoài ra, cơ sở của trách nhiệm dân sự nói chung còn được xây
sử dụng, bảo quản, sử dụng..., kịp thời phát hiện nguy cơ súc vật có thể gây thiệt
hại cho những người xung quanh để có biện pháp phòng ngừa, khắc phục thích
hợp. Khi súc vật gây ra thiệt hại, chủ sở hữu, người quản lý tài sản bị suy đoán là
có lỗi, trừ trường hợp họ chứng minh được lỗi thuộc về người khác.
Các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng góp
phần làm minh thị các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng.
1.4. Lược sử phát triển chế định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
súc vật gây ra
Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự nếu không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết hoặc do luật định thì phải gánh chịu
những hậu quả bất lợi về vật chất hoặc tinh thần. Nguyên tắc được coi là có tính
tất yếu để bảo vệ quyền lợi của các cá nhân và tổ chức đồng thời nhằm mục đích
duy trì trật tự lưu thông dân sự trong xã hội. Tuy vậy, nguyên tắc bồi thường thiệt
GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
14
SVTH: Chao Thị Mỹ Lệ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: lý luận và thực tiễn
hại do vi phạm nghĩa vụ lại là kết quả của một quá trình diễn biến rất lâu dài trong
lịch sử.
Trong thời kỳ cổ xưa khi xã hội chưa có nhiều định chế để giải quyết các vụ
tranh chấp giữa các cá nhân với nhau nên mỗi khi quyền lợi của cá nhân bị xâm
phạm, các cá nhân được tự ý trừng phạt lẫn nhau hoặc bắt đối phương làm nô lệ,
hay tước đoạt tài sản của họ. Đây là chế độ tư nhân phục cừu. Dấu ấn của chế độ
15
SVTH: Chao Thị Mỹ Lệ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: lý luận và thực tiễn
phẩm, tòng lục phẩm 1.000 quan, thất phẩm, tòng thất phẩm 500 quan, bát phẩm
đến cửu phẩm 300 quan, thứ dân trở xuống 150 quan.10
Trong trường hợp đánh người gây thương tích thì thì người phạm tội ngoài
hình phạt bị đánh roi còn phải bồi thường cho nạn nhân theo mức đã được qui định
trong Điều 466 Bộ Luật Hồng Đức như sau: “sưng phù thì phải đền tiền tổn
thương 3 tiền, chảy máu thì phải 1 quan, gãy một ngón tay, một răng thì đền 10
quan, đâm chém bị thương thì 15 quan. Đọa thai chưa thành hình thì 30 quan, đã
thành hình thì 50 quan, đứt lưỡi, hỏng âm, dương vật thì đền 100 quan. Về người
quyền quí thì xử khác”.11
Riêng Bộ luật Gia Long tiền bồi thường không được đề cập đến. Trong Bộ
luật Gia Long chỉ có Điều 201 qui định về tiền bồi thường cho gia đình nạn nhân
trong trường hợp phạm tội giết người, phạm nhân bị phạm tội chiếu theo điều luật
cố ý đả thương nhân thương chí tử nhưng cho chuộc tội. Tiền chuộc thì giao cho
gia đình nạn nhân để lo chôn cất. Nếu phạm nhân bị phạt tội giảo thì số tiền chuộc
là 12 lạng bạc. Đối với người điên giết người thì số tiền này cũng vậy.12
Bước phát triển tiếp theo của chế định bồi thường thiệt hại đánh dấu sự can
thiệp mạnh mẽ hơn của Nhà nước bằng cách dự liệu những chế tài về hình sự để
trừng phạt những kẻ nào xâm phạm đến tài sản và nhân thân kẻ khác. Ngoài việc
phải gánh chịu hình phạt kẻ phạm tội còn phải bồi thường cho nạn nhân những
thiệt hại mà họ đã gây ra. Vì mang tính chất hình phạt nên số tiền bồi thường được
ấn định gấp đôi, gấp ba, gấp bốn lần thiệt hại thực tế đã xảy ra.
Như vậy trong Cổ luật Việt Nam chưa có sự phân biệt rõ rệt giữa trách nhiệm
dân sự và trách nhiệm hình sự. Tuy chỉ được coi là một yếu tố cấu thành trong
dân sự đã được ấn định.
Điều 91 Bộ luật Gia Long qui định về trường hợp khi vứt bỏ hay phá hoại đồ
vật, mùa màng, cây cối của người khác thì ngoài việc xử người vi phạm về tội
trộm can phạm mà còn phải bồi thường thiệt hại đã gây ra cho người cho người bị
thiệt hại. Tuy nhiên, nếu những đồ vật bị vứt bỏ hoặc bị phá hủy của tư nhân và sự
vứt bỏ, phá hoại do vô ý gây ra thì người gây ra thiệt hại chỉ phải bồi thường,
trường hợp này cũng hoàn toàn là trách nhiệm dân sự.
Tóm lại, mặc dù các qui định nêu trên chỉ áp dụng trong một phạm vi có giới
hạn song điều này chứng tỏ khái niệm trách nhiệm dân sự dân sự không phải là
khái niệm xa lạ trong Cổ Luật Việt Nam. Có thể nói rắng ý niệm này đã manh nha
và cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật dần dần được định hình với tư
cách là một chế định trách nhiệm.
Có thể nói chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói
chung và bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra nói riêng, đã trải qua một thời gian
dài hình thành và phát triển. Theo từ điển Tiếng Việt súc vật là thú vật nuôi trong
nhà, Chăn nuôi súc vật. Về mặt nội dung thì súc vật là vật nuôi trong nhà đã được
con người thuần hóa. bản chất súc vật là động vật hoang dã, mang bản tính thú dữ
đã được con người thuần hóa, kiểm soát được hoạt động và tuân thủ theo sự quản
lý của con người. Các nhà làm luật của Việt Nam cũng như những người áp dụng
pháp luật đã có rất nhiều cố gắng trong việc xây dựng cũng như giải thích các quy
định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh khi xác định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại. Đặc biệt lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp nước nhà trách nhiệm
liên đới bồi thường thiệt hại cũng được giải thích khá cụ thể và rõ ràng trong chế
định trách nhiệm dân sự trong luật Hồng Đức là tổng thể các quy định của luật
Hồng Đức (Hay còn được gọi là Quốc Triều Hình Luật) quy định các vấn đề liên
13
14
Xem Điều 581 Bộ luật Hồng Đức.
Xem Điều 585 Bộ luật Hồng Đức.
kiện kinh tế xã hội lúc đó rất đặc thù, nhận thức của các nhà làm luật và những
người có chức năng giải thích pháp luật còn hạn chế.
Tuy nhiên, khi xác định trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong
trường hợp chỉ có sự thống nhất ý chí về hậu quả cần phải xét đến phong tục, tập
quán nơi hành vi gây thiệt hại xảy ra cũng như của những người liên quan. Về vấn
đề này Báo cáo tổng kết hội nghị toàn ngành Toà án nhân dân năm 1967 đã giải
thích. Khi xác định trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại, Toà án có thể căn cứ
vào tình hình cụ thể của sự việc, phần chiếm đoạt hoặc mức độ lỗi của mỗi người
để ấn định phần bồi thường của mỗi người, giúp cho họ biết rõ phần trách nhiệm
bồi thường của mình trong số tiền phải bồi thường chung. Gặp trường hợp không
có căn cứ rõ ràng để ấn định phần bồi thường cụ thể của mỗi người thì Toà án
phân chia đều mức bồi thường cho mỗi người. Trong trường hợp tài liệu chưa đầy
GVHD: Th.S. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
18
SVTH: Chao Thị Mỹ Lệ
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra: lý luận và thực tiễn
đủ, cần điều tra, thu thập thêm mới có thể định rõ được phần bồi thường của mỗi
người, và nếu có yêu cầu xét xử kịp thời vụ án hình sự, thì trong phần dân sự, Toà
án chỉ tuyên trách nhiệm liên đới, còn việc ấn định mức bồi thường của mỗi người,
thì Toà án sẽ bổ sung sau bằng một bản án dân sự. Nếu là vụ án dân sự hoặc việc
xét xử vụ án hình sự không có tính chất cấp bách, thì Toà án cần chờ kết quả của
việc điều tra bổ sung để có thể vừa tuyên trách nhiệm liên đới, vừa ấn định cụ thể
mức bồi thường của mỗi người.
Theo Thông tư 03, trong nhiều trường hợp nhiều người gây thiệt hại nhưng
SVTH: Chao Thị Mỹ Lệ