TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SÚC VẬT GÂY RA ĐIỀU 625 - Pdf 31

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SÚC VẬT GÂY RA

MỤC LỤC

1


BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SÚC VẬT GÂY RA

1.2.

Điều 625 BLDS năm 2005 qui định:
“1. Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho
người khác; nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây
thiệt hại cho mình thì chủ sở hữu không phải bồi thường.
2. Trong trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây
thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người
thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.
3. Trong trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây
thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường;
4. Trong trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì
chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái
pháp luật, đạo đức xã hội.”
1. Định nghĩa, đặc điểm của Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
1.1. Định nghĩa
Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra là là trách nhiệm dân sự ngoài hợp
đồng của chủ sở hữu, người chiếm hữu hoặc người thứ ba khi họ có lỗi để súc
vật gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản cho cá nhân hoặc các tổ chức
khác.
Đặc điểm pháp lý

có những động thái gây thiệt hại trái với bản tính tự nhiên của nó như trâu bò
mắc bệnh điên, chó dại…
Do vậy, việc suy đoán lỗi đối với chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng
súc vật khi súc vật gây thiệt hại là cần thiết, qua đó nâng cao trách nhiệm quản
lý của chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật. Về nguyên tắc, khi súc vật
gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản cho các chủ thể dân sự thì chủ sở
hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật bị suy đoán có lỗi trong quản lý và phải
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Việc suy đoán lỗi sẽ không áp dụng trong
trường hợp, gia súc gây thiệt hại do lỗi hoàn toàn thuộc về người chiếm hữu, sử
dụng súc vật trái pháp luật, người thứ ba hoặc của chính người bị thiệt hại.
2. Phân tích về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
2.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu và người chiếm
hữu hợp pháp súc vật
Việc chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp chiếm hữu, quản lý và sử
dụng súc vật thuộc quyền là hợp pháp. Tuy nhiên, trong quá trình chiếm hữu,
quản lý và sử dụng súc vật mà gây thiệt hại cho chủ thể khác thì họ phải có trách
nhiệm bồi thường. Lỗi của họ có thể xuất phát từ nhiều hành vi, động cơ khác
nhau như:
- Chăn thả súc vật ở những nơi cấm chăn thả gia súc: đường phố, công
viên, khu công nghiệp, khu dân cư, trường học…. và việc chăn thả đã đó đã gây
thiệt hại;

3


- Không áp dụng hoặc có áp dụng nhưng không tốt, không đúng kỹ thuật
các biện pháp quản lý, cầm giữ súc vật dẫn tới súc vật gây thiệt hại, ví dụ: không
cột giữ trâu bò khi chăn thả ngoài cánh đồng làm trâu bò tự do đi lại dẫn nát
ruộng vườn của chủ thể khác…;
- Chuyển giao quyền chiếm hữu, quản lý, sử dụng cho các chủ thể khác

4


thú dữ, cần xác định trách nhiệm của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp súc
vật theo Điều 623 về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Và
theo Điều 625, sự kiện trâu, bò điên, cho dại… gây thiệt hại (trừ trường hợp chủ
sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp biết hoặc buộc phải biết mà không có biện
pháp ngăn chặn, khống chế, cầm giữ gia súc) là sự kiện bất khả kháng nên trách
nhiệm dân sự bị loại trừ trong trường hợp này. Ngược lại với cách hiểu trên, dù
bản tính hung dữ, không kiểm soát được nhưng chúng vẫn là súc vật và trách
nhiệm của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp súc vật vẫn được xác định
theo Điều 625, theo đó trách nhiệm của của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp
pháp không bị loại trừ.
2.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng
súc vật trái pháp luật và người thứ ba có lỗi làm súc vật gây thiệt hại cho
người khác
Người thứ ba là cá nhân, tổ chức không phải là chủ sở hữu, người chiếm
hữu hợp pháp, người chiếm hữu, sử dụng gia súc trái pháp luật, nhưng họ đã
thực hiện một hoặc nhiều hành vi trên thực tế làm cho gia súc gây thiệt hại cho
người khác. Ví dụ: trêu chọc chó thuộc quyền hợp pháp của người khác, cắt dây
buộc trâu và đánh trâu chạy đi… và các súc vật này đã gây thiệt hại cho người
khác.
Người chiếm hữu, sử dụng súc vật trái pháp luật, người thứ ba có lỗi để
súc vật gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự trong trường hợp súc vật gây
thiệt hại. Việc xác định lỗi cũng mang tính chất suy đoán như trong xác định
trách nhiệm của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp súc vật. Ngoài ra, người
chiếm hữu, sử dụng súc vật trái pháp luật còn phải chịu trách nhiệm hoàn trả súc
vật (nếu còn) hoặc phải bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu, người chiếm hữu
hợp pháp súc vật nếu có. Người thứ ba có lỗi để súc vật gây thiệt hại cho người
khác mà gây thiệt hại cho súc vật của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp

súc vật gây thiệt hại cho người khác. Do đó, không phát sinh trách nhiệm liên
đới giữa người chiếm hữu. sử dụng trái pháp luật với người thứ ba có lỗi để súc
vật gây thiệt hại mà là trách nhiệm cá nhân của người chiếm hữu, sử dụng súc
vật trái pháp luật. Theo quan điểm của chúng tôi, không nên căn cứ vào hành vi
xâm phạm quyền sở hữu của người chiếm hữu, sử dụng súc vật trái pháp luật mà
gắn cho họ trách nhiệm bồi thường thiệt hại toàn bộ trong việc súc vật gây thiệt
hại cho người khác nếu hoàn toàn không thuộc về lỗi của họ. căn cứ vào Điều
616, thì hành vi của người thứ ba và người chiếm hữu, sử dụng súc vật trái pháp
luật trong trường hợp này cùng dẫn tới việc gây thiệt hại cho người khác thì họ
phải cùng chịu trách nhiệm liên đới bồi thường.
Ngoài những trường hợp nêu trên, nếu người bị thiệt hại cũng có lỗi trong
việc để súc vật gây thiệt hại cho mình thì phát sinh trách nhiệm do hỗn hợp lỗi
giữa chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp súc vật với người bị thiệt hại. Các
bên phải chịu thiệt hại theo phần lỗi của mình. Trong trường hợp không xác định
được phạm vi lỗi của các bên thì chia đều trách nhiệm về thiệt hại. Nếu lỗi hoàn

6


toàn thuộc về người bị thiệt hại thì trách nhiệm dân sự của chủ sở hữu, người
chiếm hữu hợp pháp được loại trừ.
2.4. Bồi thường thiệt hại do súc vật thả rông theo tập quán gây thiệt hại
Theo khoản 4 Điều 625 BLDS năm 2005, trong trường hợp súc vật thả
rông theo tập quán mà gây thiệt hại, thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại
theo tập quán, nếu tập quán đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Việc áp
dụng tập quán để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp
này là phù hợp, nhưng theo chúng tôi vẫn chưa bao quát hết các trường hợp có
thể áp dụng tập quán để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo tập quán.
Ví dụ: trường hợp người bị thiệt hại có lỗi hoặc người thứ ba có lỗi để súc vật
gây thiệt hại hoàn toàn có thể vận dụng tập quán đề giải quyết.

Thứ nhất: Cần có qui định cụ thể hơn về trách nhiệm dân sự của chủ sở
hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật, người thứ ba trong trường hợp súc vật
đang mắc các dịch bệnh có thể gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe và tài
sản của con người theo nguyên tắc: xác định trách nhiệm đối với người biết súc
vật mắc dịch bệnh nhưng vẫn tiếp tục chăn nuôi, hoặc lưu thông và gây thiệt hại
cho người khác. Đối với trường hợp không biết hoặc không thể biết việc súc vật
mắc dịch bệnh, biết nhưng không thể ngăn chặn tính lây lan của nó thì áp dụng
nguyên tắc miễn trừ trách nhiệm dân sự.
Thứ hai: Cần có một tiêu chí rõ ràng về phân biệt một động vật khi nào là
súc vật khi nào là nguồn nguy hiểm cao độ.
Thứ ba: Cần qui định cụ thể hơn về mối liên hệ về trách nhiệm dân sự
giữa người chiếm hữu, sử dụng súc vật trái pháp luật với người bị thiệt hại,
người thứ ba có lỗi để súc vật gây thiệt hại theo các nguyên tắc được qui định tại
Điều 616 và 617 BLDS năm 2005.
Thứ tư: Cần công nhận việc vận dụng tập quán xác định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do súc vật gây ra trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi,
người thứ ba có lỗi để súc vật gây thiệt hại, người chiếm hữu, sử dụng súc vật
trái pháp luật chưa đến mức xử lý hành chính hoặc hình sự.
4. Bài tập tình huống
Tình huống:
Ngày 1.1.2014 cả nhà anh A đi du lịch. Đêm hôm đó, anh B đi ngang qua
nhà anh A, nhận thấy nhà không có người nên anh B trèo qua tường rào để vào
nhà anh A ăn trộm. Sau khi trộm được một số tiền mặt trị giá 1.500.000 đ anh B
ra khỏi nhà nhằm tẩu thoát, đúng lúc đó con chó nhà anh A thấy người lạ nên
nhảy vào cắn khiến anh B bị thương. Nghe tiếng động bên nhà A cả làng chạy
đến và bắt anh B và đưa anh đi viện, tài sản được trả về cho anh A. Anh B phải
điều trị vết thương trong viện 1 tuần. A có phải bồi thường thiệt hại cho B vì chó
nhà A đã cắn B bị thương hay không?

8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status