ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
***
Bùi Thị Thủy Chung Lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng Chuyên ngành : Luật
Mã số : 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ
2.1 - Lỗi trong mối liên hệ với các điều kiện khác làm phát sinh trách
nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 39
2.2 - Lỗi với việc xác định loại trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng 46
2.3 - Lỗi với việc xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm dân sự bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng 62
1
2.4 - Lỗi với việc xác định mức độ bồi thường thiệt hại 67
2.5 - Lỗi trong một số trường hợp bồi thường thiệt hại cụ thể 72
Chƣơng 3: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về lỗi trong trách nhiệm dân
sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và một số giải pháp 89
3.1 - Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về lỗi trong trách nhiệm
dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 89
3.2 - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và việc áp dụng
pháp luật về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng 96
Kết luận 109
Tài liệu tham khảo 111
phạm trái pháp luật; giáo dục người gây thiệt hại và mọi công dân trong xã
hội nói chung về ý thức tuân theo pháp luật, tôn trọng lợi ích của người khác,
của tập thể và lợi ích công cộng.
3
Về nguyên tắc trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
chỉ được đặt ra khi có đủ bốn điều kiện: thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại
trái pháp luật, lỗi, mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi gây
thiệt hại trái pháp luật. Trong đó điều kiện lỗi có ý nghĩa quan trọng với việc
chứng minh vấn đề trách nhiệm, xác định chủ thể phải bồi thường và mức bồi
thường. Tuy nhiên, lỗi của chủ thể không phải là yếu tố hữu hình để dễ dàng
nhận biết và đánh giá đúng ngay được nó. Đây là một yếu tố nằm sâu trong ý
thức của con người. Do đó trong nhiều trường hợp việc cảm nhận và khẳng
định sự tồn tại của yếu tố lỗi phải thông qua các yếu tố có biểu hiện rõ ràng
khác. Mặc dù vậy không phải lúc nào sự vật, hiện tượng bên ngoài cũng phản
ánh đúng bản chất sự việc bên trong, cũng cho phép phân tích và kết luận
đúng về lỗi. Thực tiễn giải quyết các vụ tranh chấp về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng cho thấy việc đánh giá lỗi ở chủ thể thường rất khó khăn và
nảy sinh nhiều vướng mắc. Biểu hiện cụ thể là hiện nay còn tồn tại nhiều
tranh luận khác nhau xoay xung quanh vấn đề lỗi trong trách nhiệm dân sự
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Đồng thời thực tiễn xét xử cũng cho thấy
rằng: nhìn chung những quy định pháp luật về trách nhiệm dân sự bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và vấn đề lỗi nói riêng đã đáp ứng kịp thời
trong việc áp dụng để giải quyết bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật
gây ra và đã mang lại những hiệu quả không nhỏ trong việc giáo dục ý thức
pháp luật và tôn trọng pháp luật trong nhân dân. Tuy nhiên, các quy định đó
vẫn còn khá khiếm khuyết cả về mặt kỹ thuật lập pháp và về nội dung của quy
định. Việc hướng dẫn thi hành lại chưa đầy đủ nên thực tiễn áp dụng các quy
định đó gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và không thống nhất. Do đó để nhận
thức được đúng ý tưởng của nhà làm luật thì chúng ta cần thiết phải nhìn nhận
5
luật Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật… Tuy nhiên, hầu hết các bài
viết, các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung vào một số khía cạnh về
trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Một vấn đề cần phải
thừa nhận là có rất ít công trình nghiên cứu, bài viết về yếu tố lỗi trong trách
nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nếu có cũng chỉ được nhắc
đến một cách chung chung; có rất ít tác giả đề cập một cách toàn diện và sâu
sắc về vấn đề này.
Trong phạm vi luận văn này, người viết mong muốn đi sâu tìm hiểu,
phân tích về lỗi không chỉ ở khía cạnh lý luận của lỗi mà còn đưa vào một số
vấn đề mang tính thực tiễn để những người quan tâm có thể hiểu được bản
chất của lỗi. Từ đó cũng giúp cho các nhà vận dụng pháp luật có cơ sở và
định hướng rõ ràng hơn trong cách thức giải quyết tranh chấp nhằm đảm bảo
nguyên tắc công bằng và nguyên tắc mọi thiệt hại đều được bồi thường xứng
đáng.
3. Giới hạn và nhiệm vụ nghiên cứu
Do được phân chia thành nhiều ngành luật khác nhau, pháp luật Việt
Nam có sự quy định về nhiều loại quan hệ: quan hệ kinh tế, quan hệ thơng
mại, quan hệ lao động, quan hệ hành chính… Bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng có thể nảy sinh trong bất kỳ một quan hệ nào của đời sống xã hội. Do
đó, pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng được quy định
tương ứng với những loại quan hệ đó. Tuy nhiên xét về bản chất, quan hệ bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng là quan hệ mang tính chất dân sự nên mặc dù
nằm trong các quy định pháp luật pháp luật của các ngành luật khác nhưng
các quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng vẫn có tính chất là nền tảng. Hơn nữa là một đề tài thuộc chuyên ngành
pháp luật dân sự, chúng tôi chỉ tập trung khai thác các quy định của Bộ luật
dân sự về vấn đề này. Cụ thể hơn đó chính là các quy định pháp luật của Bộ
định cùng loại, đánh giá, tổng hợp một số tài liệu, số liệu, thông tin trong các
báo cáo, tạp chí, bài báo, số chuyên đề, sách tham khảo, đề tài nghiên cứu
khoa học, các văn bản pháp luật có liên quan cùng các gợi ý của cô hướng dẫn
để hoàn thành luận văn này.
6. Điểm mới của đề tài
Có thể nêu ra một số điểm mới của luận văn về đề tài “Lỗi trong trách
nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” như sau:
Thứ nhất, trong phạm vi luận văn này, người viết tập trung phân tích,
đánh giá những quy định pháp luật về lỗi trên cơ sở chỉ ra ý nghĩa của lỗi, cơ
sở của lỗi với các vấn đề trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng. Dưới góc độ nhận thức khoa học, việc nghiên cứu chế định lỗi để
đưa ra mô hình lý luận của nó không chỉ có ý nghĩa lý luận - thực tiễn mà còn
có ý nghĩa xã hội - pháp lý quan trọng.
Thứ hai, luận văn đưa ra một số hạn chế và đề ra những yêu cầu cũng
như sự cần thiết phải hoàn thiện hơn nữa những quy định pháp luật về lỗi
trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đặc biệt trong
giai đoạn hiện nay.
Thứ ba, người viết đề xuất một số giải pháp cho việc hoàn thiện vấn đề
lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại về hợp đồng nói riêng và
pháp luật về trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Về kết cấu của luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương I – Những vấn đề lý luận về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Chương II – Những quy định về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự Việt Nam.
8
Chương III – Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về lỗi trong trách
BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
1.1- Khái quát về trách nhiệm dân sự bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp
đồng và mối quan hệ giữa lỗi với trách nhiệm dân sự bồi thƣờng thiệt hại
ngoài hợp đồng.
Trong đời sống dân sự, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một hiện
tượng thường xuyên diễn ra và mang tính phổ biến, nảy sinh trong nhiều lĩnh
vực khác nhau. Nhằm kịp thời điều chỉnh cho loại quan hệ này, vấn đề trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sớm được ghi nhận trong các quy
định pháp luật dân sự.
Trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách
nhiệm pháp lý. Ở mức độ khái quát, về bản chất trách nhiệm dân sự bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một dạng cụ thể của trách nhiệm dân sự,
được hiểu là nghĩa vụ phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế, áp dụng
với người có hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người
khác mà gây thiệt hại và phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt
hại. Trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phát sinh
trên cơ sở hợp đồng mà trên cơ sở do pháp luật quy định. Trong thực tế đời
sống xã hội, một quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ
phát sinh khi một chủ thể này bằng hành vi của chính mình gây thiệt hại đối
với một chủ thể khác mà trước đó không có quan hệ hợp đồng với nhau (hoặc
trước đó có tồn tại một quan hệ hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không
liên quan gì đến việc thực hiện hợp đồng đó). “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng là bồi thường thiệt hại gây nên không phải do vi phạm nghĩa vụ đã thoả
10
thuận trong hợp đồng mà là do vi phạm pháp luật”. Ở đây chính sự kiện gây
thiệt hại là cơ sở tạo nên mối quan hệ pháp luật giữa người gây thiệt hại với
người bị thiệt hại và nghĩa vụ bồi thường của chủ thể mang trách nhiệm.
cũng cần xem xét đến hai khía cạnh: lỗi của chủ thể gây thiệt hại và lỗi của
chủ thể bị thiệt hại. Trước hết là trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi
của người bị thiệt hại. Người bị thiệt hại là tác nhân gây ra thiệt hại cho chính
bản thân mình, tự mình thực hiện những hành vi xâm phạm đến những quyền
về nhân thân, quyền về tài sản mà mình được hưởng một cách hợp pháp. Vì
vậy, họ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những việc làm của mình, về sự
thiếu trách nhiệm của chính bản thân. Điều đó là hợp lý và vấn đề trách nhiệm
không được đặt ra trong trường hợp này. Chính vì thế khi nêu vấn đề lỗi với
vấn đề trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chúng tôi
muốn tập trung tìm hiểu mối liên hệ giữa vấn đề lỗi và vấn đề trách nhiệm
dưới phương diện pháp lý.
Trong khoa học pháp lý, vấn đề trách nhiệm là một trong những vấn đề
phức tạp bậc nhất của lý luận về nhà nước và pháp luật. Trách nhiệm pháp lý
là một loại quan hệ đặc biệt giữa nhà nước, thông qua cơ quan nhà nước có
thẩm quyền và chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó bên vi phạm phải gánh
chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy định ở
những chế tài pháp luật. Trách nhiệm pháp lý là sự thực hiện chế tài được xác
định trong quy phạm pháp luật đối với người có hành vi vi phạm. Việc cơ
quan nhà nước có thẩm quyền buộc người có hành vi vi phạm phải gánh chịu
những tước đoạt tài sản hay những hạn chế về nhân thân là biểu thị thái độ
phản ứng của nhà nước trước những hành vi trái pháp luật. Với ý nghĩa đó,
trách nhiệm pháp lý gắn liền với vi phạm pháp luật và là hậu quả tất yếu của
12
việc không thực hiện hoặc không thực hiện đúng các quy tắc xử sự mà pháp
luật đã quy định.
Quan niệm trên được hình thành từ rất sớm và chịu ảnh hưởng bởi Luật
hình sự. Nhà nước La Mã cổ đại đã từng áp dụng những hình phạt nặng nề đối
với những vi phạm pháp luật như trộm cắp, giết người. Ngay cả con nợ cũng
đã từng bị bỏ tù khi không có khả năng thanh toán… Cùng với sự phát triển
gia đầu đàn của khoa học pháp lý Xô viết đã từng kết luận: “Trách nhiệm
pháp lý gắn liền với vi phạm pháp luật, dẫn đến việc áp dụng những nghĩa vụ
mới đối với người vi phạm: trừng phạt, tước đoạt một số quyền khác, bắt buộc
thực hiện những nghĩa vụ bổ sung”. Mối quan hệ giữa trách nhiệm và nghĩa
vụ trong luật dân sự hiện nay đang còn nhiều tranh luận. Nghĩa vụ và trách
nhiệm cái nào có trước, cái nào có sau và mối quan hệ giữa hai yếu tố? Chủ
thể trong xã hội đều có những nghĩa vụ, nếu vi phạm các nghĩa vụ này chủ thể
sẽ phải chịu hậu quả của việc áp dụng trách nhiệm. Đó là hậu quả bất lợi của
người vi phạm.
Chúng tôi muốn đề cập tới vấn đề trách nhiệm trong mối liên hệ với lỗi
dưới phương diện này. Chủ thể mang trách nhiệm là chủ thể có nghĩa vụ pháp
lý phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định nhưng đã vi
phạm nghĩa vụ ấy. Do đó họ phải gánh chịu một hậu quả bất lợi. Cụ thể trong
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chủ thể mang trách nhiệm là
chủ thể gây thiệt hại do có những hành vi vi phạm những đòi hỏi của pháp
luật, của xã hội. Vì thế nên họ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của chính
bản thân mình, chứ không phải bất kỳ một chủ thể nào khác. Trong trường
hợp có đặt ra lỗi của chủ thể bị thiệt hại cũng là nhằm đánh giá lỗi và trách
nhiệm của người gây thiệt hại. Như vậy, lỗi của chủ thể gây thiệt hại chính là
14
điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường của chính chủ thể đó. Thực tế cho
thấy hậu quả pháp lý mà loại trách nhiệm này mang đến cho người gây thiệt
hại luôn là sự bất lợi về tài sản nên để quy trách nhiệm cho người đó nhất
thiết phải chứng minh được trong hậu quả xảy ra có tồn tại lỗi của họ hay
không và lỗi đó chiếm một phần hay toàn bộ. Trong luật Dân sự, người ta
không liệt kê cụ thể hành vi nào bị coi là trái pháp luật, việc bồi thường căn
cứ vào lỗi và hậu quả xảy ra.
Trong trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây ra thiệt
hại thì những người phải bồi thường thiệt hại bao gồm: người gây thiệt hại và
đề trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên đây
cũng là một vấn đề hết sức phức tạp, do lỗi không phải là một yếu tố hữu hình
để dễ dàng nắm bắt mà nó nắm sâu trong ý thức của con người, chịu sự chi
phối bởi các yếu tố chủ quan và các điều kiện khách quan khác nhau.
1.2- Cơ sở của những quy định pháp luật về lỗi trong trách nhiệm
dân sự bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng.
Lỗi chính là một trong những điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với một người về hành vi trái pháp luật
gây thiệt hại cho xã hội của họ. Vậy dựa trên cơ sở nào mà xã hội có thể buộc
con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của họ. Hay nói cách khác dựa
trên những nguyên tắc lý luận nào để nhà làm luật ghi nhận yếu tố lỗi trong
trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trong cuộc sống, giữa các hiện tượng của thực tại khách quan luôn có
mối quan hệ gắn bó khăng khít với nhau. Không có hiện tượng nào tồn tại
một cách độc lập, khu biệt và tách rời với hiện tượng kia Giữa các hiện
tượng của thực tại khách quan luôn có sự chi phối, quy định, ràng buộc lẫn
nhau. Hiện tượng này là cơ sở, nền tảng của hiện tượng kia, thậm chí là hệ
16
quả có được từ hiện tượng kia. Mối quan hệ phổ biến này đã được khẳng định
thành một nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lênin “Tất cả thế giới mà chúng ta
có thể nghiên cứu được là một hệ thống, một tập hợp gồm các vật thể khăng
khít với nhau…”. Với ý nghĩa là một hiện tượng của thực tại khách quan, giữa
hành vi xử sự của con người, vấn đề ý thức và vấn đề trách nhiệm cũng không
nằm ngoài mối liên hệ biện chứng đó.
Theo Mác, “Bản chất của con người là tổng hoà các mối quan hệ xã
hội”. Ở con người luôn tồn tại và phát sinh những nhu cầu và để thoả mãn
những nhu cầu đó con người phải tham gia vào các quan hệ xã hội, phải tiến
hành những hoạt động cụ thể tác động vào thế giới khách quan. Những quan
hệ đó được diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, rất đa dạng về tính chất,
trong của mỗi người. Xử sự của con người tuy chịu sự tác động của các điều
kiện kinh tế xã hội nhưng không phải là kết quả trực tiếp của riêng các điều
kiện kinh tế xã hội vì “Mọi sự tác động của một hiện tượng lên một hiện
tượng khác đều bị khúc xạ bởi các thuộc tính bên trong của hiện tượng bị tác
động”. Ở một cá nhân cụ thể, những thuộc tính bên trong là khác nhau thể
hiện ở năng lực tri thức, năng lực hoạt động, vốn kinh nghiệm, lợi ích, nhu
cầu, phẩm chất, tâm lý, thái độ Các điều kiện bên ngoài tác động đến con
người không phải một cách máy móc, rập khuôn mà phải thông qua sự suy xét
của lý trí và sự quyết định của ý chí của chính họ. Để thoả mãn bất kỳ một
nhu cầu nào trong đời sống cũng đều có nhiều biện pháp giải quyết và việc
lựa chọn biện pháp nào là kết quả của hoạt động lý trí và ý chí của con người.
Do đó cùng chịu sự tác động của một điều kiện kinh tế xã hội như nhau nhưng
ở mỗi người có thể lựa chọn biện pháp xử sự không giống nhau. Con người
khi đã có quyền lựa chọn là có tự do.
18
Như vậy, con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình vì hành
vi của con người tuy có tính tất yếu nhưng đồng thời có tính tự do. Nói chung
đặt trong điều kiện bình thường, hành vi của con người khi biểu hiện ra bên
ngoài mang hai thuộc tính: tính bị quy định trước bởi các quy luật khách quan
hay tính tất yếu và tính tự do ý chí. Tính tất yếu của hành vi con người thể
hiện ở chỗ hành vi được hình thành không phải một cách ngẫu nhiên, tách rời
những điều kiện xã hội mà được hình thành một cách có quy luật, là kết quả
của sự tác động qua lại giữa những điều kiện xã hội và con người. Khẳng định
điều đó cũng không có nghĩa là xử sự cụ thể của con người có tính tất yếu
tuyệt đối, không thể tránh được. Chủ nghĩa Mác Lênin tuy thừa nhận tính tất
yếu, thừa nhận tính quy định trước trong xử sự của con người nhưng dựa trên
cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên, giữa tự
do và tất yếu, giữa quy luật và hoạt động của con người, chủ nghĩa Mác Lênin
không phủ nhận tính tự do ý chí của con người. Mọi xử sự của con người đều
phát sinh trong một số trường hợp không phụ thuộc vào yếu tố lỗi. Đó là khi
một người do yếu tố thể chất mà mất đi năng lực nhận thức hay do tác động
của người khác mà hoàn toàn không có sự tự do về ý chí, tự do để lựa chọn và
quyết định xử sự khi thực hiện hành vi vi phạm, người đó không phải chịu
trách nhiệm. Ngoài ra trong trường hợp hành vi gây thiệt hại xảy ra hoàn toàn
nằm ngoài sự kiểm soát của ý chí, ý thức, không nằm trong sự lựa chọn và
quyết định của cá nhân thì cá nhân đó cũng không bị áp dụng một loại trách
nhiệm nào cả. Trong những trường hợp nêu trên, cá nhân không có lỗi với
hành vi xử sự của mình. Theo đúng lý luận về lỗi trong trách nhiệm pháp lý
nói chung và trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói
riêng thì chủ thể thực hiện xử sự đó không phải chịu trách nhiệm. Tuy nhiên
trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đối với những
20
trường hợp nêu trên trách nhiệm bồi thường vẫn phát sinh, không phụ thuộc
vào yếu tố lỗi. Nghĩa là khi về mặt thực tế hành vi gây thiệt hại không phải là
kết quả của sự tự lựa chọn, quyết định của chủ thể, họ hoàn toàn bị động khi
bị đặt trước tình huống có sự xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, tài sản,
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Vậy tại sao chủ thể đó vẫn bị quy
trách nhiệm trong khi họ không có lỗi. Điều đó không hề mâu thuẫn với
nguyên tắc trách nhiệm phát sinh trên cơ sở có lỗi mà chúng tôi đã phân tích ở
trên.
Con người là vốn quý nhất trong xã hội. Quyền được bảo vệ về tính
mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản là một quyền tuyệt đối của mọi công
dân, tổ chức. Pháp luật của Việt Nam cũng như pháp luật của nhiều nước trên
trên thế giới đều chú trọng những quy định nhằm bảo vệ quyền con người,
quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản
cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp khác. Cụ thể Điều 71 Hiến pháp năm
1992 quy định rõ “ Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể được
pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, về danh dự nhân phẩm”. Cụ thể hơn
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, tồn tại nhiều hình thức sở hữu đối
với tư liệu sản xuất và nhiều lợi ích khác nhau, vấn đề đặt ra là phải làm sao
để đảm bảo được lợi ích của chủ thể và công bằng xã hội. Nhà nước không
những phải đảm bảo về mặt pháp lý mà còn về mặt thực tế cho lợi ích của các
chủ thể. Chính vì thế, trong lưu thông dân sự, các chủ thể phải thực hiện
những hành vi của mình trong khuôn khổ pháp luật cho phép để không gây
thiệt hại đến lợi ích của chủ thể khác và không làm tổn hại đến lợi ích của xã
hội. Do vậy, khi có hành vi trái pháp luật của một chủ thể nào đó gây thiệt hại
cho một chủ thể khác thì đương nhiên họ phải chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại đã gây ra, trên cơ sở mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không
22
phân biệt đối xử như tôn giáo, dân tộc, thành phần xã hội… Trong những điều
kiện như nhau thì các chủ thể phải chịu trách nhiệm như nhau, sự bình đẳng
cả về năng lực pháp luật và trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Khác với trách nhiệm hình sự chỉ được đặt ra khi người phạm tội có lỗi
thì trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh trong
một số trường hợp không cần tính đến yếu tố lỗi của người gây thiệt hại. Điều
này được giải thích dựa trên nguyên tắc lớn nhất là nguyên tắc bảo vệ quyền
nhân thân, quyền tài sản hợp pháp của con người đồng thời có sự chi phối của
tính chất và mục đích khi xây dựng từng loại trách nhiệm. Trách nhiệm hình
sự đặt ra mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội trong đó người thực
hiện tội phạm phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy
hiểm của tội phạm mà họ gây ra. Mục đích của hình phạt là nhằm trừng trị
người có hành vi phạm tội và có lỗi đồng thời nhằm giáo dục, cải tạo họ. Vì
vậy nếu như áp dụng hình phạt với người không có lỗi khi thực hiện tội phạm
thì thực chất đang trực tiếp xâm phạm đến quyền nhân thân, quyền tài sản
hợp pháp của người đó. Do đó luật hình sự không chấp nhận việc quy tội
khách quan.
Với trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tồn tại mối
trên chưa thật cụ thể, không lý giải được vì sao lỗi là cơ sở phát sinh trách
nhiệm.
Hiện nay, trong các quy định pháp luật, chưa có một quy định nào ghi
nhận hay đưa ra một định nghĩa chính xác, đầy đủ về lỗi. Do đó, chúng ta chỉ
có thể bàn về lỗi dựa trên cơ sở các quan điểm khoa học pháp lý.
Luật gia người Pháp Planiol cho rằng: “ Lỗi là sự vi phạm nghĩa vụ đã
sẵn có”. Quan điểm đó mới chỉ xác định là lỗi khi có sự vi phạm các nghĩa vụ
đã được quy định xác lập sẵn, chẳng hạn như nghĩa vụ trong hợp đồng