Header Page 1 of 133.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG MINH NGUYỆT
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA GÀ SASSO
NUÔI TẠI TRẠI GIỐNG GIA CẦM THỊNH ĐÁN
THUỘC TRUNG TÂM GIỐNG VẬT NUÔI TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành:
Chăn nuôi Thú y
Khoa:
Chăn nuôi Thú y
Khóa học:
2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
K43 – Chăn nuôi Thú y
Khóa học:
2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn: TS.Trần Thị Hoan
Thái Nguyên, năm 2015
Footer Page 2 of 133.
Header Page 3 of 133.
i
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, cũng như thời gian về thực tập tốt nghiệp tại Trại giống gia cầm
Thịnh Đán thuộc Trung tâm giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô trong Ban Giám hiệu trường Đại học
Nông Lâm, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, cùng toàn thể các thầy cô
giáo trong khoa đã tận tình giảng dạy, dìu dắt tôi trong suốt thời gian thực tập
và rèn luyện tại trường.
Có được kết quả như ngày hôm nay, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới: Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, tập thể cán bộ công nhân Trại giống gia cầm Thịnh Đán đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại cơ sở.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo:
Bảng 4.2.
Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm qua các tuần tuổi .......... 34
Bảng 4.3.
Tuổi thành thục sinh dục của gà thí nghiệm............................... 36
Bảng 4.4.
Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng, tỷ lệ trứng giống của gà thí nghiệm ......37
Bảng 4.5.
Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng và 10 quả trứng giống ......... 40
Bảng 4.6.
Một số chỉ tiêu về ấp nở của trứng gà thí nghiệm ...................... 42
Bảng 4.7.
Giá thành gà giống...................................................................... 43
Footer Page 4 of 133.
Header Page 5 of 133.
iii
: Tuần tuổi
TTTA
: Tiêu tốn thức ăn
Header Page 6 of 133.
iv
MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học ................................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm chung về gia cầm .................................................................... 3
2.1.2. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền các tính trạng sản xuất
của gia cầm ........................................................................................................ 5
2.1.3. Khả năng sinh sản của gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng ....................... 6
2.1.4. Tỷ lệ ấp nở và các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ ấp nở ............................. 12
2.1.5. Hiệu quả sử dụng thức ăn...................................................................... 14
2.1.6. Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản xuất của giống gà Sasso ............. 15
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 17
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................ 17
5.1. Kết luận .................................................................................................... 44
5.2. Tồn tại ...................................................................................................... 44
5.3 Đề nghị ...................................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 46
Footer Page 7 of 133.
Header Page 8 of 133.
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi đang trở thành ngành mũi nhọn
trong việc phát triển kinh tế của các hộ nông dân trong cả nước, cùng với sự phát
triển của khoa học kĩ thuật thì ngành chăn nuôi đã cung cấp một lượng lớn thực
phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cả về số lượng cũng như chất lượng. Đặc biệt chăn
nuôi gia cầm được quan tâm hàng đầu vì nó có khả năng đáp ứng nhanh một
lượng lớn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho nhu cầu của xã hội trong thời
gian ngắn.
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu cuộc sống của con người ngày càng
được nâng cao. Thực phẩm có chất lượng cao đang được sự quan tâm và chú
ý rất lớn của người tiêu dùng. Do vậy, đòi hỏi ngành chăn nuôi nói chung và
chăn nuôi gia cầm nói riêng cần phải có những bước phát triển mới về công
tác giống, kĩ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng mới có thể đáp ứng được nhu cầu
ngày càng khắt khe của người tiêu dùng.
Ở nước ta việc tạo ra các giống gà cao sản còn hạn chế mà chủ yếu là
nuôi thích nghi các giống gà cao sản trên thế giới, trên cơ sở đó ta nhân giống
rộng rãi và xây dựng quy trình chăn nuôi cho phù hợp với từng giống trong
Header Page 10 of 133.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Đặc điểm chung về gia cầm
- Ngoại hình:
Ngoại hình là một tính trạng chất lượng của gia cầm. Đó là những đặc
điểm bên ngoài của vật nuôi có thể quan sát được như: màu lông, da, hình
dáng, mào tích...Các đặc điểm về ngoại hình đặc trưng cho giống, thể hiện
khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi.
+ Sự phát triển của lông là dẫn suất của da, thể hiện đặc điểm của
giống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại. Gà con mới nở có bộ
lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ sẽ được thay thế bằng bộ
lông cố định.
Tốc độ mọc lông là biểu hiện mọc lông sớm hay muộn, có liên quan chặt
chẽ tới cường độ sinh trưởng. Theo Brandsch H và Bichelh (1978) [2], gia
cầm lớn nhanh thì có tốc độ mọc lông nhanh.
Màu lông do một số gen quy định phụ thuộc vào sắc tố chứa trong bào
tương của tế bào. Màu sắc da lông là mã hiệu của giống, một tín hiệu để nhận
dạng con giống. Màu sắc da lông là một chỉ tiêu cho chọn lọc. Thông thường
màu sắc đồng nhất là giống thuần. Màu sắc da lông do một số ít gen kiểm soát
nên có thể sử dụng để phân tích di truyền, dự đoán màu của đời sau trong
chọn lọc, Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [9].
Các giống gia cầm khác nhau thì có bộ lông khác nhau, sự khác nhau về
màu sắc lông là do mức độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin (melanogene)
trong các tế bào lông. Nếu các chất sắc tố là nhóm nipocrom (caorotinoit) thì
hình: hướng trứng, hướng thịt và kiêm dụng. Gà hướng thịt thường có hình
dang cân đối, ngực sâu, chân chắc, tiết diện hình vuông hay hình chữ nhật. Gà
chuyên trứng lại có kết cấu thanh gọn, tiết diện hình tam giác.
Footer Page 11 of 133.
Header Page 12 of 133.
5
2.1.2. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền các tính trạng sản
xuất của gia cầm
Qua nhiều kết quả nghiên cứu thì trong quá trình phát triển cá thể mỗi
tính trạng là kết quả tác động qua laị của nhiều gen và chịu ảnh hưởng của
yếu tố ngoại cảnh. Phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi đều
là tính trạng số lượng. Đó là những tính trạng mà sự khác nhau về mức độ
hơn là sự khác nhau về chủng loại. Tính trạng số lượng còn gọi là tính trạng
đo lường (Metric character). Do việc nghiên cứu các tính trạng này phụ thuộc
vào việc đo lường (cân, đo) như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo…
• Bản chất di truyền của các tính trạng số lượng
Tính trạng số lượng hay tính trạng năng suất còn được gọi là tính trạng
đo lường. Để nghiên cứu các đặc điểm di truyền của các tính trạng số lượng
không chỉ dung các quy luật của Mendel mà còn phải sử dụng các khái niệm
của hệ thống sinh thái (Nguyễn Văn Thiện,1998) [12].
Thì các tính trạng biểu hiện ra ngoài một cá thể gọi là kiểu hình của cá
thể đó. Giá trị đo lường được của tính trạng số lượng trên một cá thể được gọi
là giá trị kiểu hình (Phenotype) của cá thể đó ký hiệu P, các giá trị có liên
quan với kiểu gen là giá trị kiểu gen (genno value type) ký hiệu là G. Trong
những điều kiện khác nhau, giá trị của p có sự khac nhau, người ta gọi đó là
sự sai lệch môi trường (Enviroment deviation) ký hiệu là E, mối liên hệ này
Để duy trì sự phát triển của đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là yếu tố
cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả sản xuất đối với gia
cầm. Sản phẩm chủ yếu là thịt và trứng, trong đó sản phẩm trứng được coi là
hướng sản xuất chính của gà hướng trứng. Còn gà hướng thịt (cũng như gà
hướng trứng) khả năng sinh sản hay khả năng đẻ trứng quyết định đến sự
phân đàn di truyền giống mở rộng quy mô đàn gia cầm. Sinh sản là chỉ tiêu
cần được quan tâm trong công tác giống của gia cầm. Ở các loại gia cầm khác
nhau thì đặc điểm sinh sản cũng khác nhau rõ rệt.
Trứng là sản phẩm quan trọng của gia cầm, đánh giá khả năng sản xuất
của gia cầm người ta không thể không chú ý đến sức đẻ trứng của gia cầm.
Theo Brandsch và Bilchel (1978) [2] thì sức đẻ trứng chịu ảnh hưởng
của 5 yếu tố chính.
Footer Page 13 of 133.
Header Page 14 of 133.
7
1. Tuổi đẻ đầu hay tuổi thành thục.
2. Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng.
3. Tần số thể hiện bản năng đòi ấp.
4. Thời gian nghỉ đẻ, đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông.
5. Thời gian đẻ kéo dài hay chu kỳ đẻ (hay tính ổn định sức đẻ).
Các yếu tố trên có sự điều khiển bởi kiểu gen di truyền của từng giống
gia cầm.
Để đánh giá khả năng sinh sản của đàn gà hay của một dòng gà nào đó
thì người ta dựa vào những chỉ tiêu sau:
Tuổi đẻ đầu
Tuổi đẻ quả trứng đầu là thời điểm đàn gà đã thành thục về tính. Tuổi đẻ
cao của tỷ lệ đẻ có mối tương quan với năng suất trứng. Giống gia cầm nào có
tỷ lệ đẻ cao và kéo dài trong thời kỳ sinh sản, chứng tỏ là giống tốt, nếu chế
độ dinh dưỡng đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao.
+ Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trong một thời gian nhất định. Cường độ
này được xác định theo khoảng thời gian 30 ngày hoặc 60 ngày hoặc 100
ngày trong giai đoạn đẻ.
Theo Card và Nesheim (1977) [23] thì quần thể gà mái cao sản đẻ theo
quy luật. Cường độ đẻ trứng cao nhất vào các tháng thứ 2, thứ 3, sau đó giảm
dần cho đến hết năm đẻ. Theo Mack (1991) (dẫn theo Nguyễn Thị Thanh
Bình, 1998) [1]: Đối với gà cao sản đồ thị đẻ trứng tăng nhanh từ khi bắt đầu
đẻ đến tuần 24. Đạt 50 % và đỉnh cao từ tuần 27 – 28, đến 35 tuần đạt > 90 %,
sau đó giảm dần và giữ được 60 – 65 % ở tuần thứ 76. Khi cường độ đẻ giảm
nhiều gà thường hay biểu hiện bản năng đòi ấp. Sự xuất hiện bản năng đòi ấp
phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền vì ở các giống khác nhau có bản năng ấp
khác nhau. Điều này chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố như: Nhiệt độ, ánh
sáng, dinh dưỡng.v.v. Theo Brandsch và Bilchel 1978 [2] thì nhiệt độ cao và
bóng tối kích thích sự ham ấp, đồng thời yếu tố gen chịu tác động phối hợp
giữa các gen thường và gen liên kết giới tính.
+ Thời gian kéo dài sự đẻ có liên quan đến chu kỳ đẻ trứng. Chu kỳ đẻ
kéo dài hay ngắn phụ thuộc vào cường độ và thời gian chiếu sáng. Đây là cơ
sở để áp dụng chiếu sáng nhân tạo trong chăn nuôi gà đẻ.
Footer Page 15 of 133.
Header Page 16 of 133.
9
Thời gian nghỉ đẻ ngắn hay dài có ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng
trứng cả năm. Gà thường hay nghỉ đẻ mùa đông do nguyên nhân giảm dần về
10
Ranch (1971) (dẫn theo Nguyễn Thị Thanh Bình, 1998) [1] cho rằng:
Khối lượng trứng tăng dần đến cuối chu kỳ đẻ, khối lượng trứng và sản lượng
trứng thường có hệ số tương quan âm. Theo JanVa (1967) (dẫn theo Nguyễn
Thị Thanh Bình,1998) [1], xác định hệ số này là - 0,11. Khối lượng trứng
cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở. Theo OrLov (1974) [28] thì trong số trứng
của cùng một gà mẹ đẻ ra, những trứng có khối lượng trung bình cho tỷ lệ nở
cao hơn những trứng có khối lượng quá lớn hoặc quá nhỏ.
2.1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia cầm
Sức sản xuất trứng là đặc điểm phức tạp và biến động, nó chịu ảnh
hưởng bởi tổng hợp yếu tố bên trong và bên ngoài.
Ảnh hưởng của cá yếu tố bên trong
- Giống, dòng
Ảnh hưởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp. Cụ thể giống Leghorn
trung bình có sản lượng 250 – 270 trứng/ năm. Về sản lượng trứng, những
dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chưa được chọn lọc
kỹ khoảng 15 % - 30 % về sản lượng (theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh
Vân, 1998) [7].
- Ảnh hưởng của tuổi gia cầm
Tuổi của gia cầm có liên quan chặt chẽ tới sự đẻ trứng của nó. Như một
quy luật, ở gà sản lượng trứng giảm dần theo tuổi, trung bình năm thứ hai
giảm 15 – 20 % so với năm thứ nhất, còn vịt thì ngược lại, năm thứ hai cho
sản lượng trứng cao hơn 9 – 15 %.
- Tuổi thành thục sinh dục
Tuổi thành thục về tính của gia cầm có ảnh hưởng rõ rệt đến sản lượng
trứng trong chu kỳ đẻ đầu và các chu kỳ đẻ tiếp theo. Theo Chamber (1990)
[24] thì gà thành thục về tính sớm sẽ đẻ nhiều trứng hơn trong một năm sinh
học. Nhưng nếu gà thành thục về tính quá sớm sẽ đẻ trứng nhỏ kéo dài.
Mùa vụ ảnh hưởng tới sức đẻ trứng rõ rệt. Ở nước ta, về mùa hè sức đẻ
trứng giảm xuống rất nhiều so với mùa xuân và đến mùa thu lại tăng lên.
Footer Page 18 of 133.
Header Page 19 of 133.
12
Trong tất cả các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sản lượng trứng thì yếu tố
về thời gian chiếu sáng đóng một vai trò quan trọng. Nó được xác định qua thời
gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng. Yêu cầu của gà đẻ thời gian chiếu sáng
12 – 16 h/ngày, có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên, ánh sáng nhân tạo để đảm bảo
giờ chiếu sáng và cường độ chiếu sáng 3 – 3,5 w/m2. Theo Letner và Taylor
(1987) [27], thời gian gà đẻ trứng thường từ 7 – 17 giờ, nhưng đa số đẻ vào buổi
sáng. Cụ thể số gà đẻ 7 – 9 giờ đạt 17,7 % so với tổng gà đẻ trong ngày. Ở nước ta
do khí hậu khác với các nước, cho nên cường độ đẻ trứng ở gà cao nhất là khoảng
từ 8 – 12 giờ chiếm 60 % gần 70 % so với gà đẻ trứng trong ngày.
- Ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng đến sản lượng trứng
Theo Bùi Quang Tiến (dẫn theo Bạch Thị Thanh Dân, 1997) [3] cho biết gà
nội (gà Ri) đẻ 90 – 120 trứng/mái/năm. Đối với giống gà nội thì ảnh hưởng của
yếu tố dinh dưỡng là không lớn lắm nhưng đối với gà nuôi nhốt thì nhu cầu dinh
dưỡng lại cần được quan tâm chú ý. Nhu cầu dinh dưỡng của gà nuôi nhốt phải
tăng gấp đôi về protein, cacbonhydrate, lipit và phải bổ sung thêm khoáng so với
gà chăn thả. Tác giả cũng cho biết hàm lượng protein, Ca, P và lipit trong máu
gà đang đẻ trứng cao gấp 2, 3 thậm chí đến 4 lần so với trong máu gà không đẻ
trứng. Sự tăng lên về hàm lượng các chất này trong máu chứng tỏ gà cần protein
để tạo noãn hoàng. Khi gà ngừng đẻ thì hàm lượng các chất này trong máu lại
giảm đi. Tỷ lệ Ca/P thích hợp ở gà đẻ là: 5/1.
Ngoài các yếu tố ảnh hưởng trên thì phương thức chăn nuôi khác nhau
Nhiệt độ, ẩm độ, sự trao đổi khí và quá trình đảo trứng.
Nhiệt độ
Theo Trần Long (1994) [10], nhiệt độ ảnh hưởng sâu sắc tới tỷ lệ ấp nở:
Ở nhiệt độ 39 – 400 C kéo dài trong một khoảng thời gian, sẽ làm cho phôi
phát triển nhanh, gia cầm nở sớm, một số bị biến dạng, dị tật, gây xung huyết.
Nếu nhiệt độ trên 400 C sẽ gây chết phôi hàng loạt. Nếu nhiệt độ dưới 370 C
kéo dài sẽ làm gia cầm nở rải rác.
Độ ẩm
Ẩm độ có tác dụng điều hòa sự bốc hơi nước từ trứng và điều chỉnh sự
tỏa nhiệt từ trứng.
Footer Page 20 of 133.
Header Page 21 of 133.
14
Sự trao đổi khí
Phôi rất mẫn cảm khi nồng độ CO2 vượt quá mức cho phép, không khí
trong máy ấp cần được thay đổi sao cho nồng độ CO2 không vượt quá 0,2 –
0,3 % và lượng O2 không dưới 21 %. Nếu nồng độ CO2 vượt quá cao hoặc
nồng độ O2 tụt xuống quá thấp đều làm phôi chết hàng loạt.
Đảo trứng
Tỷ trọng của phôi trong trứng ấp là nhỏ nhất nên phôi luôn có xu hướng
nổi lên trên. Do đó trong quá trình ấp phải thường xuyên đảo trứng. Đảo trứng
có tác dụng ngăn phôi khỏi dính vào màng vỏ và làm cho quá trình trao đổi
khí được cải thiện.
Phương thức chăn nuôi khác nhau thì tỷ lệ nở cũng khác nhau. Nhìn
chung gia cầm nuôi trên lồng thường có chất lượng vỏ trứng sạch hơn nuôi
trên nền nên tỷ lệ ấp nở đạt cao hơn. Tuổi gia cầm càng cao thì tỷ lệ chết phôi
cung cấp các tổ hợp lai gà thịt lông màu có thể nuôi theo nhiều phương thức
nuôi: Thâm canh, bán thâm canh, thả vườn. Gà Sasso có khả năng thích nghi
cao, dễ nuôi ở các điều kiện nóng ẩm, sức đề kháng tốt, chất lượng thịt thơm
ngon, giữ được hương vị vốn có của các dòng gà địa phương.
* Đặc điểm
Gà Sasso nhập vào Việt Nam lông màu nâu đỏ, da và chân màu vàng,
mào đơn. Nuôi theo phương thức công nghiệp
Đặc điểm ngoại hình: Đầu to thô, mỏ ngắn, hơi cong; cổ ngắn, to; ngực
rộng, dài; đùi to; bàn chân to; thế đứng rộng, phản ứng thần kinh chậm.
Màu sắc lông: Gà lông trắng thì bố mẹ đều là lông trắng; gà lông màu thì
bố mẹ của nó là lông màu.
Hiện nay ở Việt Nam có 18 dòng trống và 6 dòng mái với nhiều mục
đích sử dụng khác nhau chia làm 3 loại hình:
+ SA31 là loại bình thường, lông màu đỏ hoặc nâu đỏ.
+ SA51 chân lùn, lông màu nâu đỏ có sức chịu đựng cao với môi trường
khắc nghiệt, thích nghi với môi trường nhiệt đới nóng ẩm.
+ Gà broiler
Dòng trống: Con trống lông màu vàng nâu, con mái lông màu trắng.
Dòng mái: Lông màu nâu.
Dòng thương phẩm: Lông màu nâu vàng hoặc nâu đỏ; chân, mỏ và da
đều màu vàng.
Footer Page 22 of 133.
Header Page 23 of 133.
16
* Tính năng sản xuất
- Gà bố mẹ:
17
- Dự án “Phát triển chăn nuôi gà thịt công nghiệp lông màu ở Việt Nam”,
2002, Tổng Công ty Chăn nuôi Việt Nam đã nhập 4 dòng thuần ông nội A, bà
nội B, ông ngoại C, bà ngoại D của bộ giống gà Sasso từ Cộng hòa Pháp,
trong đó 2 dòng C và D được nuôi tại trại nghiên cứu thực nghiệm Liên Ninh
(Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc).
- “Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà lai TP1 và khả năng cho thịt
của sản phẩm lai giữa gà trống Sasso X44 với gà mái TP1” – Phùng Đức Tiến
và cs (2007)[16].
Sơ đồ lai tạo giống gà thương phẩm ABCD:
Gà ông bà: Dòng A
Gà bố mẹ:
Gà thương phẩm:
Dòng B
Dòng C
Trống AB
DòngD
Mái CD
ABCD
(Trống + Mái)
Theo tài liệu hãng Sasso của Pháp, 1995, khi lai giữa các dòng gà JA57
và JA66, S44… tạo ra con lai có năng suất cao, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ
nuôi sống cao và phù hợp với mọi điều kiện chăn nuôi.
+ Hãng ISA đã lai tạo ra giống gà S457 nuôi thả vườn rất tốt, lông màu
vàng hoặc trắng nâu, chân vàng. Hãng Hubbard ISA Pháp năm 2002 đã sử
dụng trống dòng S44 x mái dòng JA57 tạo ra con lai ở 63 ngày có khối lượng
cơ thể 2209 g, tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng 2,24 – 2,30 kg.
Ở Isarel, công ty Kabir đã tạo ra giống gà Kabir từ con lai của giống gà
địa phương Sinai có sức chịu nóng cao với gà Whiter Leghorn, Plymouth.
Hiện nay công ty Kabir đã tạo ra 28 dòng gà chuyên thịt lông trắng và lông
màu, trong đó có 13 dòng nổi tiếng bán ra khắp thế giới là dòng trống K100,
K100N, K400, K400N, K666, K666N, K368 và K66; dòng mái gồm K44,
K25, K123 (lông trắng) và K156 (lông nâu).
Ở Trung Quốc: Công ty gia cầm Bạch Vân đã sử dụng giống gà trống
Thạch Kỳ gốc Quảng Đông cho phối với gà mái Kabir lông màu trắng tạo
ra giống Thạch Kỳ tạp, từ gà Thạch Kỳ tạp cho phối với gà Giang Thôn
Footer Page 25 of 133.